Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Bài 17: Mathiơ 5:13-16: "Một Ảnh Hưởng Sáng Chói, Làm Lay Chuyển"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
SỨ ĐIỆP CỦA NHÀ VUA
Một ảnh hưởng sáng chói,
làm lay chuyển

Mathiơ 5.13-16

1. Trong thành phố nhỏ kia có một thứ máy đã làm bật ra một số đòi hỏi về ngân sách của thành phố hầu mở rộng hoạt động của nó. Đã có một số chống đối như thường lệ, họ cho rằng công ty chẳng có quan trọng chi hết, và thành phố sẽ hoạt động bình thường mà chẳng cần tới sự hiện diện của máy móc đó. Để chỉ ra ảnh hưởng của nó, công ty có ý định trả lương cho công nhân bằng đôla bạc thay vì tiền mặt. Những đồng đôla bạc đã bắt đầu lưu hành ở quầy thu tiền của các cửa hàng, ở các trạm xe bus, nhà hát và v.v… Ở đâu có những đồng đôla bạc lưu hành, chúng ta cũng dễ dàng trong cách chuyển đổi. Ảnh hưởng của công ty được công chúng biết tới nhiều hơn, và sự chống đối kia đã rút lại.
2. Bạn mô tả “ảnh hưởng” như thế nào? Tự điển Webster định nghĩa theo cách nầy: “Khả năng tạo ra một hiệu quả theo cách gián tiếp hay không thể nắm bắt được”. Quả là mơ hồ, có phải không? Tôi nghĩ ảnh hưởng là: “khả năng khiến cho ai đó nhìn thấy sự việc theo quan điểm của bạn”.
3. Nếu người ta đến yêu cầu bạn liệt kê ra một người nào đó có ảnh hưởng chẳng hạn, bản danh sách của bạn phải bao gồm những vị Tổng Thống, các nhà học giả, Tướng lãnh, những chính trị viên cùng những người (nam và nữ) có quyền thế khác chẳng hạn. Tuy nhiên, nếu bạn suy nghĩ về bảng danh sách ấy, một số người có ảnh hưởng nhất ít ra là người bị để ý hay được tán thưởng nhiều nhất.
A. Một người mẹ vốn kiên nhẫn yêu thương và dạy dỗ con cái của bà. Một người cha, chẳng có quyền thế cũng không có danh vọng gì cả, nhưng dạy dỗ con cái của mình bằng cách nêu cho chúng một tấm gương tin kính, bền đỗ.
B. Một huấn luyện viên thể thao trong trường đại học chuyên tâm vào việc gây dựng những người nam người nữ hơn là gây dựng tên tuổi cho chính mình.
C. Một vị giáo viên Trường Chúa Nhật nhìn thấy những học viên trẻ tuổi của mình không những là hạng ngôi sao trên bảng điểm, mà còn là những nhà lãnh đạo thuộc linh trong tương lai nữa.
D. Một người lân cận trầm lặng luôn luôn đi nhà thờ đều đặn vào ngày Chúa nhật và luôn luôn bằng lòng chìa tay ra giúp đỡ, cho một món đồ, hay lấy thư dùm.
4. Có khả năng người có ảnh hưởng nhất trong đời sống bạn là Cơ đốc nhân. Hãy xem lại các đức tính của người tin Chúa trong 8 phước lành (các câu 3-12). Người nào sống như thế không thể giúp chi được, song đang ảnh hưởng vào nhiều người khác!
5. Đây là một câu hỏi khó: Có phải bạn đang ảnh hưởng người khác vì cớ Đấng Christ không? Có phải đức tin bạn giống như những đồng đôla bạc trong thành phố nhỏ kia chăng? Ảnh hưởng ấy có rõ ràng trong từng chi tiết của đời sống bạn chăng?
6. Trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta, Chúa Jêsus chỉ ra cho chúng ta thấy hai cách để ảnh hưởng vào người khác, lắc một ít muối và chiếu ra một ít sự sáng.

I. LẮC MỘT ÍT MUỐI (câu 13).
A. Những người tin Chúa là “muối của đất”. Muối góp phần ít nhất ba mục đích.
1. Thứ nhất, muối có tính cách bảo tồn.
a. Trước thời kỳ có tủ lạnh, thịt được sắp thành từng lớp ướp muối để bảo tồn thịt cho tới chừng nó được đem ra dùng.
b. Trong thời kỳ khai phá, các tổ phụ chúng ta đã băng ngang qua phía Tây mang theo thịt đã được ngâm trong nước muối để bảo tồn nó cho lâu dài như có thể được.
c. Thậm chí tôi có nghe nói tới một nhà kho hiện đại ở Kansas, ở đây mọi thứ từ tài liệu của toà án tới phim ảnh gốc đã được lưu giữ trong một hình thức ướp muối.
d. Cơ đốc nhân lo bảo tồn xã hội. Chúng ta thối lui trước điều ác và chống lại tội lỗi. Hãy tưởng tượng một thế giới chẳng có ảnh hưởng của Cơ đốc nhân xem.
2. Thứ hai, muối làm cho có thêm mùi thơm. Bạn biết rõ là chỉ trộn một ít muối sẽ làm cho có thêm mùi thơm cho một đĩa thức ăn. Muối làm thêm một chút “ngon lành” cho thức ăn của chúng ta. Cơ đốc nhân luôn luôn đối diện với các quan điểm của thế gian. Chúng ta đang làm nền văn hoá của chúng ta được thơm hơn lên.
Một vị vua thời Trung cổ đã hỏi 3 người con gái, không biết họ có yêu thương ông ta nhiều hay không!?! Hai trong số đó đáp rằng họ quan tâm đến ông hơn cả vàng và bạc trên thế gian nầy. Còn cô con gái út, cô ta nói cô yêu ông giống như yêu muối vậy. Nhà vua không đẹp lòng với câu trả lời của nàng, vì ông xem muối là thứ rất ít giá trị. Bà đầu bếp nghe được cuộc trò chuyện, vốn biết rõ lời đáp của đứa con có nhiều ý nghĩa hơn người cha có thể tưởng tượng. Mặc dù cô con gái không dám nói cho nhà vua biết rõ vấn đề, bà ta khuyên phải tìm cách nào đó để làm sáng tỏ ý nghĩa thực lời lẽ của đứa con gái. Sáng hôm sau lúc ăn điểm tâm, bà đã giữ muối lại không nêm vào thứ bà đã dọn, và bữa ăn nhạt nhẽo đến nỗi nhà vua không muốn dùng bữa nữa. Khi đó ông ta mới nhận ra ảnh hưởng trọn vẹn lời nói của con gái mình. cô ấy yêu ông nhiều đến nỗi chẳng có gì là ngon lành hết nếu chẳng có ông!
3. Thứ ba, muối tạo ra cơn khát.
a. Người nào phơi nắng quá mức đều phải ngậm muối để làm tăng thêm sự khát nước của thân thể họ. Cơn khát do muối gây ra ngăn ngừa tình trạng mất nước và sự chết.
b. Chúng ta cần phải sống khác biệt với những người xung quanh, hầu cho nhiều người sẽ khao khát cung cách sống của chúng ta.
Vào năm 1985, một con cá voi dài 40 foot, nặng 45 tấn có tên là Humphrey đã đổi hướng sai khi di trú dọc theo bờ biển California. Nó trở thành một con vật nổi tiếng của cả nước khi nó chuyển hướng vào Vịnh San Francisoco, bơi lội dưới cầu Golden Gate, và đi suốt 70 dặm dòng sông đó. Trong hơn 3 tuần lễ, Humphrey đã không chịu làm theo mọi nổ lực để đưa nó trở ra với vùng biển mặn. Sau cùng, các nhà nghiên cứu hải sinh học đã tìm cách nhữ nó với các âm thanh đã được ghi băng khi nuôi loài cá voi. Cách làm nầy đã có hiệu lực. Humphrey đã đáp lại với “loài cá sung sướng” kia, rồi lội theo “chúng” trở ra lại Thái Bình Dương. Cách nhữ bằng âm thanh vui sướng tác động không những các loài cá voi đi lạc, nhưng cũng có tác động với con người hư mất nữa. Đức Chúa Trời làm cho đời sống của các thánh đồ ra lôi cuốn đối với những người chưa nhìn biết Ngài. Thánh Linh Ngài đem lại sự thuyết phục và tạo ra một sự khát khao đối với những gì Cơ đốc nhân đang có.
B. Chúa Jêsus phán chúng ta là “muối của đất”.
1. Trong thời của Chúa Jêsus, muối là một mặt hàng có giá trị. Các binh lính La mã thường trả tiền để mua muối. Đây là chỗ mà mệnh đề “muối ấy không dùng chi được nữa” bắt nguồn. Là muối, quý vị rất có giá trị. Quý vị là khâm sai của Đức Chúa Trời.
2. Ngài không phán chúng ta phải trở thành muối, chúng ta có thể trở thành muối , hoặc chúng ta sẽ là muối. Ngài phán chúng ta đang “là” muối.
3. Quý vị không cần phải cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin biến con mặn như muối, xin giúp con trở thành một ảnh hưởng”. Quý vị là muối. Quý vị là một ảnh hưởng. Chỉ cần lắc nó lên mà thôi!
4. Như muối là một chất có tính cách bảo tồn và làm cho có thêm mùi thơm, chúng ta đang bảo tồn và làm cho xã hội có mùi thơm. Muối ở trong bình sữa trứng là muối vô dụng. Hãy làm cho người ta nhìn biết đức tin của quý vị. Hãy thể hiện ra đức tin ấy và đức tin sẽ ảnh hưởng nhiều người khác!
C. Chúa Jêsus cũng phán rằng muối đôi khi “mất mặn đi”.
1. Muối hay Clorua Natri là một hợp chất hoá học. Hợp chất nầy chưa thực sự “mất mặn” đâu. Tuy nhiên, khi nó bị lấm với đất, cát hay các chất bẩn khác, quý vị không thể nếm được muối đó nữa.
2. Chúa Jêsus phán muối đó “không dùng chi được nữa” (Chúng ta sử dụng câu nói nầy để mô tả một người biếng nhác). Muối đó chỉ “phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chân”.
3. Một số Cơ đốc nhân đánh mất ảnh hưởng của họ cho Đấng Christ. Họ đã bị bán vào trong thế gian, họ chẳng có gì khác biệt nữa. Họ không còn mặn như muối nữa.
Thật thú vị thay, theo tờ Christianity Today (Cơ đốc giáo ngày nay), một phần tư cư dân của Hoa kỳ đã xưng nhận họ có kinh nghiệm biến đổi khi nghe giảng tin lành. William Iverson lưu ý: “Một cân thịt chắc chắn bị ảnh hưởng bởi ¼ cân muối. Nếu muối của đất nầy chính là Cơ đốc giáo, tác dụng của muối mà Chúa Jêsus đã nói tới nằm ở đâu?”

II. CHIẾU RA MỘT TIA SÁNG (các câu 14-16).
A. Chúa Jêsus phán rằng chúng ta là “sự sáng của thế gian”.
1. Chúng ta là “muối” và là “sự sáng”. Có một sự khác biệt. Muối tác động cách công khai. Muối tác động từ bên trong đang khi ánh sáng tác động từ bên ngoài. Muối là ảnh hưởng gián tiếp của tin lành, một lối sống tin kính. Sự sáng là ảnh hưởng trực tiếp của Tin lành, làm chứng đặc biệt cho người ta biết về Đức Chúa Jêsus Christ.
2. Cơ đốc nhân là “sự sáng” của Đức Chúa Trời, là một lẽ đạo phổ thông trong Kinh Thánh.
a. Trong Thi thiên 36.9, Đavít nói: “Vì nguồn sự sống ở nơi Chúa; Trong ánh sáng Chúa chúng tôi thấy sự sáng”.
b. I Giăng 1.5-7 chép: “Đức Chúa Trời là sự sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm đâu”. Câu 7 chép: “nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta”.
c. Thi thiên 119.105 chép: “Lời Chúa là ngọn đèn cho chơn tôi, ánh sáng cho đường lối tôi”.
d. Chúa Jêsus đã đến “Để soi những kẻ ngồi chỗ tối tăm và trong bóng sự chết, Cùng đưa chân chúng tôi đi đường bình an”.
e. Êphêsô 5.8 chép: “Vả, lúc trước anh em đang còn tối tăm, nhưng bây giờ đã nên người sáng láng trong Chúa. Hãy bước đi như các con sáng láng”.
f. I Phierơ 2.9 chép chúng ta là “dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài”.
g. Philíp 2.15 chép chúng ta “ở giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được, lại giữa dòng dõi đó, giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian”.
3. Mục đích của sự sáng là xua tan đi bóng tối tăm.
a. Chúng ta được kêu gọi để chiếu sáng vào bóng tối tăm. C.T. Studd viết: Có người muốn sống trong âm thanh của Hội thánh hay tiếng chuông nhà thờ; tôi muốn tránh khỏi địa ngục.
b. Có nhiều lần chúng ta chiếu ánh sáng cho nhau. Chúng ta có nhiều đội có đèn chiếu sáng. Chúng ta tích trữ sự sáng.
B. Chúa Jêsus cung ứng hai trường hợp về “sự sáng của thế gian”.
1. Thứ nhất, chúng ta cần phải sống giống như một “thành” được thắp sáng. Chúa Jêsus phán: “một cái thành ở trên núi thì không khi nào bị khuất được”.
a. Người nào là môn đồ thật của Chúa Jêsus sẽ tỏ ra minh bạch cho mọi người. William Barclay nói: “Không có một việc gì là môn đồ kín nhiệm cả, vì sự kín nhiện huỷ phá chức năng môn đồ, hoặc chức năng môn đồ tiêu diệt sự kín nhiệm”.
b. Nếu quý vị không phiền khi làm chứng cho người ta về đức tin của quý vị nơi Đấng Christ, có nhiều cơ hội cho họ nhìn biết đức tin đó.
c. Có người than phiền với tôi đang làm việc hoặc sinh sống ở nơi có nhiều người không tin Chúa vây quanh. Họ ao ước họ được sống với Cơ đốc nhân. Đừng than phiền nữa! Hãy chiếu ra ánh sáng của quý vị đi! Đúng là một cơ hội.
d. Một “thành” có rất nhiều ngọn đèn. Có lẽ thành ấy tiêu biểu cho một nhà thờ, mỗi tín hữu lo chiếu ra ánh sáng của mình (nam hay nữ) cùng với nhiều người khác.
2. Thứ hai, chúng ta cần phải sống như một “ngọn đèn” trong nhà của mình.
a. Một “ngọn đèn” trong thời của Chúa Jêsus chỉ là một quả bóng nhỏ chứa dầu ôlive và có một ngọn bấc bằng vải. Đây là phương tiện chiếu sáng duy nhất trong một gia đình sau khi mặt trời lặn.
b. Chúa Jêsus phán rõ ràng rằng không ai “thắp đèn” mà đem “để dưới cái thùng” bao giờ. Alexander Maclaren nói rằng nếu quý vị thắp một ngọn đèn rồi để dưới cái thùng, một trong hai việc sẽ xảy ra. Ngọn lửa một là bị dập tắt hoặc nó sẽ đốt “cái thùng” cháy bùng lên!
c. Thật là buồn cười khi thắp một ngọn đèn rồi đem giấu nó đi. Mục đích của ngọn đèn là “soi sáng mọi người ở trong nhà”. Đậy ngon đèn bằng cái thùng là ngược lại với mục đích của nó.
d. Quý vị đừng để ngọn đèn ở dưới cái thùng, mà để trên “chân đèn” để cho ai nấy đều trông thấy.
e. Có nhiều Cơ đốc nhân đang là “ngọn đèn ở dưới cái thùng”. Họ đi vòng quanh che giấu đức tin của họ để chẳng có ai nom thấy đức tin đó. Họ đang sống vô dụng cho Đức Chúa Trời giống như một ngọn đèn đang đặt dưới cái thùng. Chúa Jêsus đã cứu quý vị để cho quý vị phải soi sáng!
C. Chúa Jêsus khích lệ chúng ta phải “soi sự sáng [mình] trước mặt người ta”.
1. Khi đèn của chúng ta chiếu sáng, người ta sẽ nhìn thấy “các việc lành” của chúng ta.
a. Từ ngữ “lành” ở đây không nhấn mạnh vào tính chất, mà nhấn mạnh ngọn đèn sáng đang lôi cuốn. Chúng ta phải đóng ngoặc kép “thấy những việc lành của các ngươi”.
b. Khi chúng ta sống cởi mở và thành thật cho Đức Chúa Jêsus Christ, người ta sẽ trông thấy một nét đẹp trong đời sống của chúng ta. Họ sẽ để ý tới sự nhã nhặn, nụ cười, thái độ biết ơn, sự bình an, sự phước hạnh, sự giúp đỡ của chúng ta… Họ muốn hỏi: “Tại sao quý vị lại sống được như thế chứ?”
c. Hãy suy nghĩ về điều đó, khi quý vị sống trong chỗ tối tăm, mọi con mắt đều hướng về sự sáng, cho dù đó là một ánh sáng nhỏ nhoi.
Giáo sư Kinh Thánh Keith Brooks vừa giảng xong cho một lớp các thương gia về trách nhiệm của Cơ đốc nhân phải trở thành “sự sáng” trong thế gian. Ông nhấn mạnh rằng người tin Chúa cần phải phản chiếu Sự Sáng của thế gian, là Chúa Jêsus. Sau khi hết giờ, có một tín hữu đến tỏ cho ông biết một kinh nghiệm mà ông đã có tại nhà của mình trước lẽ thật ấy. Ông nói rằng khi ông bước vào tầng hầm, ông có một sự khám phá rất thú vị. Một số quả khoai tây đã đâm chồi trong góc tối của căn phòng. Lúc đầu ông không hình dung được làm sao chúng hấp thụ được đủ ánh sáng để mọc lên. Kế đó ông nhìn thấy có ai đó đã treo ấm nước bằng đồng đỏ từ trần nhà gần cửa sổ của hầm rượu. Cái ấm bóng láng đến nỗi nó phản chiếu các tia sáng của mặt trời vào mấy củ khoai tây. Vị thương gia nói với Brooks: “Khi tôi trông thấy sự đó, tôi nghĩ, tôi không phải là nhà truyền đạo hay một giáo sư vớii khả năng khai thác Kinh Thánh, nhưng ít nhất tôi có thể trở thành cái ấm bằng đồng nắm bắt được các tia sáng của Đức Chúa Con rồi phản chiếu ánh sáng của Ngài cho người nào đang ở trong góc tối tăm”.
2. Khi ánh sáng của chúng ta chiếu ra, người ta sẽ “ngợi khen Cha các ngươi [chúng ta] ở trên trời”.
a. Chúng ta không chiếu ánh sáng ra cho chính mình, mà vì sự khen ngợi Đức Chúa Trời. Chúng ta không sống cho Đấng Christ [muối] và giảng cho Đấng Christ [sự sáng] để lôi kéo người ta chú ý về mình.
b. Chúng ta soi sáng vì chúng ta muốn người ta nhìn biết “Cha chúng ta ở trên trời”.
c. Quý vị có thấy Chúa Jêsus đưa ra một lời bảo đảm không? Khi họ “thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời”. Chúa Jêsus có ý nói rằng có ai đó chưa được cứu, nhưng có người sẽ được cứu! Đừng đứng trên con đường của những người sẽ được cứu! Hãy chiếu sáng ra!

III. LỜI KHUYÊN VỀ VIỆC LẮC VÀ CHIẾU SÁNG.
A. Đừng áp đảo người ta với đức tin của quý vị.
1. Khi quý vị muốn lắc muối lên, quý vị đừng để cho đồ ăn không có nêm nếm gì cả. Quý vị dùng ít muối trước đã. Đừng chất đống các tài liệu chứng đạo, các băng ghi âm truyền giảng, và làm chứng cho bạn bè mình, đừng làm như thế. Hãy tìm thời điểm sao cho thích ứng.
2. Khi quý vị bật đèn lên, đừng chiếu thẳng vào mắt bạn bè mình, bạn sẽ làm cho mắt họ bị quáng lên. Hãy cung ứng ánh sáng cho đúng vị trí, đúng thời diểm. Nếu quý vị đang chiếu sáng, người ấy sẽ nhìn thấy ánh sáng đó.
3. Mục tiêu là, đừng làm ngập đầu họ với Tin lành. Mặt khác, đừng quá rụt rè mà chẳng làm chứng cho họ nghe biết về Đấng Christ. Hãy tạo ra một sự cân đối.
B. Đừng quên rằng những người chưa tin Chúa, họ đang quan sát quý vị từng phút một đấy!.
Một vị Mục sư đang dựng lên một giàn mắt cáo bằng cây để nâng cây nho đang leo lên cao. Khi ông vừa làm xong, ông để ý thấy một đứa trẻ đang nhìn xem ông làm. Đứa bé kia chẳng nói một lời, vì vậy nhà truyền đạo cứ tiếp tục công việc, ông nghĩ đứa trẻ rồi cũng sẽ bỏ đi thôi. Nhưng nó không bỏ đi. Nghĩ chắc trong lòng rằng công việc mình làm sẽ được khen ngợi, vị Mục sư nói: “Nào, con trai, hãy cho biết vài ý kiến về việc làm vườn xem!” Nó đáp: “Không, con đang đợi nghe vị Mục sư nói gì khi ông ta đập cái búa lên ngón tay cái của mình”.
C. Đừng lo nếu quý vị chưa thành công tức thì.
Khi ký giả Clarence W. Hall theo các đội quân Mỹ qua Okinawa vào năm 1945, ông và tài xế xe jeep đến một thị trấn nhỏ có sinh hoạt như một điển hình tốt cho cộng đồng Cơ đốc. Ông viết: “Chúng tôi đã nhìn thấy nhiều làng mạc ở Okinawa… ăn mặc nhếch nhác và thất vọng; ngược lại, ngôi làng nầy chiếu sáng như một viên kim cương ở trong đống phân chuồng. Chúng tôi được tiếp đón khắp nơi bằng nụ cười và những cái cúi đầu chào hữu nghị. Những cụ già tự hào chỉ cho chúng tôi thấy nhà cửa sạch sẽ, những cánh đồng nấc thang… những nhà kho và vựa lúa, nhà máy đường đắt tiền của họ”. Hall nói rằng ông không thấy nhà tù hay kẻ say sưa nào, và tình trạng ly dị không thấy có trong ngôi làng nầy. Người ta cho ông hay cách đấy 30 năm, có một giáo sĩ Mỹ đã đến đây. Trong khi ngụ lại trong làng, ông đã dẫn dắt hai cư dân trong làng tin theo Đấng Christ rồi để lại cho họ một quyển Kinh Thánh tiếng Nhật. Các tân tín hữu mới nầy đã nghiên cứu Kinh Thánh rồi khởi sự dẫn dắt dân làng họ theo Chúa Jêsus. Tài xế xe jeep của Hall nói ông rất ngạc nhiên khi thấy sự khác biệt giữa ngôi làng nầy cùng các làng mạc khác quanh đó. Ông cho biết: “Bấy nhiêu đó chỉ do một quyển Kinh Thánh và hai ông cụ muốn sống giống như Chúa Jêsus mà thôi. Vị giáo sĩ có lẽ chưa hề biết tầm cỡ ảnh hưởng của ông”.


Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

Bài 16: Mathiơ 5.10-12: "PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ CHỊU BẮT BỚ"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
SỨ ĐIỆP CỦA NHÀ VUA
PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ CHỊU BẮT BỚ
Mathiơ 5.10-12
1. John Selwyn – một vị giáo sĩ lỗi lạc cho Nam Thái bình Dương từng được công nhận với tài đánh bốc. Tuy nhiên, khi được quyền phép thuyết phục của Đức Thánh Linh chạm đến, về sau ông đã trở thành một giáo sĩ. Một tạp chí Methodist ghi lại rằng ngày kia vị lãnh đạo thuộc linh nầy ngần ngại đưa ra một lời quở trách nghiêm nghị nhưng đầy tình thương cho một người đi nhà thờ tại địa phương rất đều đặn. Người kia rất bực tức về lời khuyên ấy rồi giận dữ đấm thẳng vào mặt John. Đáp trả lại, vị giáo sĩ đứng khoanh tay khiêm nhường nhìn thẳng vào mắt của người kia. Với khả năng quyền anh và bắp thịt cuồn cuộn, ông có thể dễ dàng hạ nốc ao kẻ chống đối kia. Thay vì thế, ông đã đưa luôn má bên kia rồi bình tĩnh chờ đợi bị đánh thêm một lần nữa. Kẻ tấn công kia liền thấy xấu hổ và lẫn tránh vào đám đông.
Nhiều năm trời sau đó, người kia tiếp nhận Chúa làm Cứu Chúa của mình rồi làm chứng trước Hội thánh. Theo lệ thường vào thời điểm ấy cho một tín hữu phải chọn lấy một cái tên Cơ đốc cho mình sau khi đã được cứu. Khi được hỏi ông ta có muốn làm theo cách nầy hay không, ông ta đáp trả không chút ngần ngại: “Dạ, xin gọi tôi là John Selwyn! Ông ấy là người đã dạy cho tôi biết Đức Chúa Jêsus Christ thực sự là như thế nào!”
2. Phước hạnh sau cùng trong 8 phước lành nói: “Phước cho những kẻ chịu bắt bớ’. Hãy nhớ 8 phước lành là những mô tả về người tín đồ là người đã được cứu. Người “có lòng khó khăn”. Người “than khóc”. Người “nhu mì”. Người “đói khát sự công bình”. Người “có lòng thương xót”. Người “có lòng trong sạch”. Người “làm cho người ta hoà thuận”.
3. Nếu chúng ta sống theo 7 phước lành đầu tiên, chúng ta sẽ mau kinh nghiệm được phước lành thứ 8. Đó là một phương thuốc sống. Hãy trở nên hạng người mà các câu 3-9 nói tới và thế gian dành cho bạn sự bắt bớ ở các câu 10-12.
4. Thật là thú vị khi thấy 7 phước lành đầu tiên chỉ sử dụng chữ “phước” có một lần. Phước lành thứ tám nhắc tới chữ nầy hai lần (các câu 10-11). Giống như Chúa Jêsus đang phán: “Nếu ngươi bị bắt bớ, ngươi sẽ được phước gấp bằng hai”.
5. Chúng ta hãy xem xét qua ba lẽ thật về sự bắt bớ: bắt bớ là một THỰC TẠI, nó đem lại PHẦN THƯỞNG và nó tạo ra sự VUI MỪNG.
I. BẮT BỚ LÀ MỘT THỰC TẠI.A. Kinh Thánh nói rất dứt khoát; một đời sống công bình sẽ tạo ra sự bắt bớ.1. Trong II Timôthê 3.12, Phaolô viết: “Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ”. Trong câu 11, ông nhắc tới “những sự bắt bớ, và hoạn nạn đã xảy đến cho ta tại thành Antiốt, Ycôni và Líttrơ”. Đây là một sự bảo đảm mà bất kỳ ai sống cho Chúa Jêsus sẽ phải gánh chịu. Phaolô vốn biết rõ đau khổ có ý nghĩa như thế nào rồi.
2. Galati 4.29 chép: “Nhưng, như bấy giờ, kẻ sanh ra theo xác thịt bắt bớ kẻ sanh ra theo Thánh Linh, thì hiện nay cũng còn là thể ấy”.
Một người Cơ đốc đã nhận một việc làm mới giữa vòng những kẻ không tin Chúa. Ông rất lo sợ về việc mình sẽ được tiếp đón như thế nào đây!?! Ngày đầu tiên từ chỗ làm ông về nhà, vợ ông hỏi công việc như thế nào!?! Ông đáp: “Tuyệt vời! Họ không đoán được tôi là một Cơ đốc nhân”.
3. Bao lâu bạn song hành với hạng người vô tín, bạn sẽ sống y như người chưa tin Chúa. Tuy nhiên khi bạn bắt đầu sống trong sự vâng phục Đấng Christ, khi bạn thể hiện ra 8 phước lành, khi bạn chia sẻ về Chúa Jêsus, bạn sẽ thấy ngay “kẻ sanh ra theo xác thịt bắt bớ kẻ sanh ra theo Thánh Linh”.
B. Sự bắt bớ xảy đến vì sống chơn thật cho Đấng Christ là chống đối lại người thế gian.1. Nếu bạn chưa kinh nghiệm sự bắt bớ, có lẽ vì người thế gian chưa nhận ra bạn là một Cơ đốc nhân. Cho dù bạn nói cho họ biết bạn là một Cơ đốc nhân, đời sống của bạn chưa chứng minh có gì khác biệt.
2. Thế gian không quan tâm nếu bạn đi nhà thờ, đọc Kinh Thánh hay cầu nguyện. Thế gian quan tâm ngay khi bạn thể hiện ra mọi điều bạn tiếp thu ở nhà thờ, trong Kinh Thánh và trên hai đầu gối của bạn.
Cách đây mấy tuần, có mấy vị Mục sư ở Pampa nhóm lại với nhau để tẩy chay một cuộn phim bẩn thỉu chiếu ở nhà hát địa phương. Họ đã chống đối phim NC-17 dựa theo cuộc đời của một diễn viên vũ thoát y ở Las Vegas do hoạt động tình dục không mất tiền. Một nhà bình luận của tờ báo địa phương lấy họ làm đề tài, công khai bắt bớ họ vì “công tác kiểm duyệt” của họ. Tác giả vốn ít quan tâm tới họ cho tới khi họ đã có được một chỗ đứng.
Quan toà Randall thì chống lại việc uống rượu say sưa. Ông ta nói người lớn đã không đúng khi bảo trẻ con đừng uống rượu trong khi từng sinh hoạt chính trong xã hội lại có rượu hay được bảo trợ bởi một nhà máy bia. Ông ta không phải là một Cơ đốc nhân và ông ta đã bị quật ngã trên cacc tạp chí.
3. Có quá nhiều Cơ đốc nhân thoả hiệp thay vì đối đầu. Thật là dễ lấy làm thoả mãn, thờ ơ, và chẳng làm gì hết. Chúng ta không chiếm một chỗ đứng vì chúng ta không bằng lòng để cho ai bắt bớ mình. Chúng ta chưa bị bắt bớ vì chúng ta thất bại chưa sống thật cho Đấng Christ.
4. Môise là một tấm gương cao cả cho người nào chiếm được một chỗ đứng ngay bề mặt của sự bắt bớ. Ông đã dám đứng ra chống lại xã hội của người Aicập. Hêbơrơ 11.26 chép: “người coi sự sỉ nhục về Đấng Christ là quí hơn của châu báu xứ Ê-díp-tô, vì người ngửa trông sự ban thưởng”.
Dietrich Bonhoeffer là Mục sư người Đức và là giáo sư Thần học việc trong nước Đức trước Đệ II Thế Chiến. Trong khi các vị Mục sư cùng các cấp lãnh đạo tôn giáo khác lo làm cho những người Phátxít nguôi giận, ông đã chống đối họ cách công khai. Ông đã bị bắt, bị bỏ tù nhiều lần và sau cùng bị hành quyết vào tháng 5 năm 1945, ngay trước khi kết thúc cuộc chiến.
5. Chúa Jêsus đã đối diện với sự bắt bớ vì sự công bình của Ngài đương diện với các cấp lãnh đạo tôn giáo. Cũng một thể ấy với các sứ đồ và hết thảy các môn đồ thực của Đức Chúa Trời trong suốt 2000 năm qua.
6. Đây là sự dạy rất khó. Đây là quặng thượng phẩm. Đây là “thịt” chớ không phải “sữa thiêng liêng của đạo” (I Phierơ 2.2).
C. Bắt bớ là bằng chứng hiển nhiên của sự cứu rỗi.1. I Têsalônica 3.3-4 chép: “hầu cho không một người nào trong anh em bị rúng động bởi những sự khốn khó dường ấy; vì anh em tự biết rằng ấy đó là điều đã định trước cho chúng ta. Lại khi ở cùng anh em, chúng tôi đã nói trước rằng sẽ có sự khốn khó phải chịu, điều đó xảy đến rồi, và anh em đã biết rõ”. Đây là phần cho việc trở thành một Cơ đốc nhân.
2. Phaolô làm cho lẽ thật nầy ra rõ ràng hơn ở Philíp 1.28-30. Bắt bớ là một “chứng nghiệm của sự hư mất” hay sự phán xét dành cho kẻ bị hư mất, nhưng cũng cho chúng ta đây là một minh chứng cho “sự cứu rỗi”.
3. Giacơ 4.4 hỏi: “Hỡi bọn tà dâm kia, anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao? Cho nên, ai muốn làm bạn với thế gian, thì người ấy trở nên kẻ nghịch thù cùng Đức Chúa Trời vậy”.
4. I Giăng 2.15 chép: “Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy”. Câu 17 thêm: “Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời”.
5. Cách đây mấy năm, trở nên một Cơ đốc nhân được người ta ưa chuộng lắm. Đó là một sự thay đổi. Khi chúng ta đến gần với kỳ tận thế, sự bắt bớ sẽ thêm nhiều lên. Chúa Jêsus gọi thời kỳ nầy là: “đầu sự tai hại” (Mathiơ 24.8).
D. Bắt bớ dến vào các thời điểm và phương thức khác nhau.1. Chữ “khi nào” trong câu 11 cũng có nghĩa là “bất cứ lúc nào”. Tất cả những người tin Chúa sẽ không ở trong tình trạng bị bắt bớ, song chắc chắn nó sẽ xảy đến cho hết thảy chúng ta. Vì lẽ đó chúng ta không nên lấy làm ngạc nhiên.
2. Chúng ta không tìm kiếm sự bắt bớ; song cần phải bền chí khi bắt bớ đến.
3. Một Cơ đốc nhân trong thời của Phaolô được mời tới lo xây một cái chùa. Một người Cơ đốc ngày nay có thể bị chủ của mình buộc phải bất lương hoặc làm việc kém chất lượng hầu kiếm thêm lợi nhuận. Một phụ nữ Cơ đốc có thể bị tẩy chay vì sự khiêm tốn hay không chịu mở miệng cười ở chỗ ăn nói tục tỉu. Các thanh thiếu niên Cơ đốc có thể bị chối bỏ vì lối sống đạo đức và thanh sạch.
E. Có thể lẫn tránh sự bắt bớ (3 bước).1. Thứ nhất, tán thành đạo đức của người thế gian. Chỉ “sống và để cho sống”. Đừng phản đối ai. Đừng làm bộ đoan trang kiểu cách hay một kẻ phá đám. Cứ “tỉnh bơ đi”.
2. Thứ hai, chấp nhận các tiêu chuẩn của thế gian. Hãy đi xem phim, xem các chương trình TV, đọc các thứ sách báo. Cười đùa với kẻ ăn nói tục tỉu, khoái ngồi lê đôi mách. Không bao lâu thì bạn sẽ sống giống y như họ thôi.
3. Thứ ba, hãy tự xét mình xem coi bạn có thực sự có đức tin chưa!?!
4. Chúa Jêsus rất quan tâm đến sự trung tín.
a. Ngài đã phán trong Luca 9.26: “Vì nếu ai hổ thẹn về ta và lời ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về họ, khi Ngài ngự trong sự vinh hiển của mình”.
b. Trong Luca 6.26, Ngài phán: “Khốn cho các ngươi, khi mọi người sẽ khen các ngươi, vì tổ phụ họ cũng xử với các tiên tri giả như vậy!”
F. Bắt bớ xảy đến ít nhất là ba hình thức.
1. Thứ nhất, có TẤN CÔNG VỀ MẶT THUỘC THỂ. Chữ “bắt bớ” ra từ chữ dioko là chữ có quan niệm truy lùng hay đuổi bắt. Vì cớ đó bắt bớ về mặt thuộc thể có nghĩa là quấy rối và ngược đãi.
a. Tất cả các phước lành khác phải làm với những đức tính bề trong, phước lành nầy nói tới các kết quả của việc thể hiện ra những thái độ đó.
b. Tại sao Cơ đốc nhân lại bằng lòng đối diện với sự bắt bớ về mặt thuộc thể? Câu 10 chép: “vì cớ sự công bình”. Chúng ta phải bằng lòng đối diện với sự bắt bớ.
c. Trong thời kỳ Hội thánh đầu tiên, người ta bị ném đá, bị trét dầu hắc lên người, rồi bị đem làm đuốc sống, bị đốt cháy, bị làm thịt cho sư tử ăn, bị giết rồi bị ném cho chó sói ăn.
d. Thường thì quan niệm truyền giáo của chúng ta có nghĩa là chúng ta làm bạn với người nào đó để chúng ta có thể “đưa lén” tin lành vào. Chúng ta không cần loại Cơ đốc nhân “lén lút”.
Một nhà lãnh đạo Cơ đốc ai cũng biết tiếng đang đi qua Ấn độ, người ta giới thiệu ông với một cô gái nô lệ, cô nầy là chứng nhân cho Chúa. Do cô ta bền đỗ làm chứng cho nhiều người biết tới Chúa Jêsus và tình yêu của Ngài, cô ta đã đem nhiều người về với Đấng Christ. Khi ông nầy gặp mặt cô ta, ông nhìn thấy mặt, cổ và hai cánh tay của cô ta đầy những vết sẹo thật là xấu xí. Cô ta đã lãnh lấy nhiều lần đánh đập vì sự trung tín làm chứng của cô. Ông liền hỏi: “Nầy con, sao con lại mang lấy sự hung ác như thế nầy?” Cô ta đáp: “Bộ ông không vui sao khi ông chịu khổ cho Đấng Christ, thưa ông?” Ông đã nhận ra sự bắt bớ của chính mình là quá nhẹ nhàng. Chúng ta có bằng lòng đối diện với bắt bớ về mặt thuộc thể không?
2. Thứ hai, có sự SỈ NHỤC BẰNG LỜI NÓI. Người ta sẽ “lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi”. Chúng ta sẽ bị chửi rủa và mắng nhiếc.
a. Chúa Jêsus bị đánh đập và bị khạc nhổ nơi mặt. Tên lính yêu cầu Ngài phải “nói tiên tri” (Mathiơ 27.67-68). Người ta “đã lắc đầu” và chế báng Ngài khi Ngài bị treo trên cây thập tự. Có người nói: “Hắn đã cứu kẻ khác; mà cứu mình không được” (Mác 15.29-31).
b. Phaolô đã nói với người thành Côrinhtô: “Vì chưng Đức Chúa Trời dường đã phơi chúng tôi là các sứ đồ ra, giống như tù phải tội chết, làm trò cho thế gian, thiên sứ, loài người cùng xem vậy”.
c. Có bao giờ bạn bị lăng mạ vì đã đem lòng tin đặt nơi Đấng Christ chưa?
d. Khi bạn bị lăng mạ vì cớ đức tin của mình, hãy vững lòng, bạn đang đi đúng hướng rồi đó!
3. Thứ ba, có sự VU CÁO. Trong câu 11, Chúa Jêsus nói người ta sẽ “lấy điều dữ nói vu cho các ngươi”.
a. Có nghĩa là những điều người ta nói về chúng ta sau lưng chúng ta. Người ta đã nói về Chúa Jêsus: “Kìa, là người ham ăn mê uống, bạn bè với người thâu thuế cùng kẻ xấu nết” (Mathiơ 11.19).
b. Thật là thú vị khi người ta sẽ nói “vu” cho chúng ta, nhưng Chúa Jêsus gọi chúng ta là “có phước”. Arthur Pink viết: “Đây là minh chứng mạnh mẽ về sự đồi bại của con người vì những lời rủa sả của con người và phước hạnh của Đấng Christ sẽ gặp nhau trên chính một người”.
c. Khi người ta lấy điều dữ nói vu cho bạn vì cớ đức tin của bạn, hãy vững lòng! Bạn đang đi đúng hướng rồi đấy!
d. Hãy nhận lấy sự can đảm từ các phân đoạn Kinh Thánh như: I Phierơ 3.13-18; 4.12-14, 16, 19; Giăng 15.18-21.
II. BẮT BỚ ĐEM LẠI PHẦN THƯỞNG.A. Câu 10 và câu 11 nói rằng chúng ta được “phước” vì cớ sự bắt bớ. Đây là phước lành duy nhất với hai phước hạnh. Dường như chúng ta được phước bằng hai khi chúng ta hứng chịu sự bắt bớ.
1. Đức Chúa Trời chúc phước cho Đaniên trong hang sư tử.
2. Đức Chúa Trời chúc phước cho Phaolô và Sila trong nhà ngục của người thành Philíp.
B. Câu 10 nói rằng “nước thiên đàng” thuộc về chúng ta.
1. Thứ nhất, đây là một SỰ BẢO ĐẢM chúng ta được cứu. Chỉ có những người nào thực sự được cứu mới chịu đứng lên chống cự lại sự bắt bớ.
2. Thứ hai, điều nầy có ý nói tới SỰ CAI TRỊ TRONG THỜI KỲ THIÊN HI NIÊN. Khải huyền 20.4 nói rằng các tín đồ trung tín “được sống và trị vì với Đấng Christ trong một ngàn năm”.
3. Thứ ba, điều nầy có ý nói tới CÁC PHẦN THƯỞNG ĐỜI ĐỜI. Khi Chúa Jêsus chuẩn bị rời khỏi các môn đồ Ngài, họ rất sợ hãi. Họ không biết điều chi sẽ xảy đến cho họ. Chúa Jêsus phán: “Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa. Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Giăng 14.1-3).
III. BẮT BỚ TẠO RA SỰ VUI MỪNG.A. Chúng ta sẽ có thái độ gì khi chúng ta đối diện với sự bắt bớ? Chúa Jêsus phán: “Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ”.
1. “Vui vẻ” là điều mà một người đương nhiên có khi người nghe giảng tin lành. Bạn có một sự tấn tới, thể xác bạn tươi tắn, bạn đang hướng về quê hương mới, bạn trải qua kỳ thi sau cùng… Khi một người đối diện với sự bắt bớ, người ấy sẽ nhận lãnh sự bắt bớ đó như các tin tức tốt lành vì người đang đi đúng hướng!
2. “Nức lòng mừng rỡ” có nghĩa là “quá mừng, nhảy múa với sự phấn khích”. Bắt bớ không những là các tin tức tốt lành, đó còn là lý do cho sự ca ngợi nữa. Đó là lý do để nhảy múa và reo hò!?!
B. Nghe có kỳ cục không? Tại sao người ta lại ca ngợi khi họ đối diện với sự nói xấu, nói vu, hay đánh đập? Chúa Jêsus đưa ra hai lý do:
1. Thứ nhất, Ngài phán: “phần thưởng các ngươi trên trời rất lớn”.
a. Cuộc sống trên đất của chúng ta ngắn ngủi, nhưng trên trời thì là đời đời (Mathiơ 6.19-20).
b. Bạn thắc mắc: “Chúng ta sẽ hầu việc Chúa để nhận được nhiều phần thưởng sao? Há chúng ta chẳng hầu việc Ngài vì chúng ta kính sợ Ngài sao?”. Đúng là đúng đấy!
c. Hêbơrơ 12.2 nói về Chúa Jêsus: “là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời”. Chúa Jêsus yêu thương chúng ta, nhưng Ngài đã gánh lấy thập tự giá cùng nỗi xấu hổ bằng cách nhớ tới các phần thưởng đang chờ đợi Ngài ở bên hữu của Đức Chúa Trời.
2. Thứ hai, chúng ta vui mừng vì “họ cũng bắt bớ các tiên tri trước các ngươi”.
a. Khi chúng ta bị bắt bớ, chúng ta đang ở trong cộng đồng xứng đáng. Chúng ta đứng vào hàng những người nam và nữ tin kính.
b. Hêbơrơ 11.36-38 nói họ “chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu xiềng xích lao tù nữa. Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi, thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi, trong hang, trong những hầm dưới đất”.
c. Khi chúng ta bị bắt bớ, chúng ta đi chung đường với hàng tiên tri, chúng ta trở nên những người nam và nữ “thế gian không xứng đáng cho họ ở”.
IV. MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ SỰ BẮT BỚ.A. MONG ĐƯỢC BẮT BỚ. Nếu bạn chưa bị bắt bớ, bạn đang lạc đừơng rồi. chúng ta bị bắt bớ vì chúng ta đối diện thay vì thoả hiệp.
B. HÃY NHỚ, ĐỨC CHÚA TRỜI CHÚC PHƯỚC CHO KẺ BỊ BẮT BỚ. Hãy chịu treo ở đó. Hãy tin cậy Chúa và nương vào sự nhơn từ của Ngài. Hãy trở thành một Đaniên.
C. HÃY NHẬN BIẾT CÁC PHẦN THƯỞNG LÀ XỨNG ĐÁNG CHO KẺ CHỊU BẮT BỚ.Có một Cơ đốc nhân làm mất lòng vua cũng như nhiều cấp lãnh đạo tôn giáo. Nhà vua đe doạ trục xuất ông nếu ông không chịu ngưng giảng đạo. Ông đáp: “Thưa vua, vua không thể trục xuất tôi, vì thế gian là nhà của Cha tôi”. Nhà vua nói rằng ông sẽ cho sung công hết mọi tài sản của nhà truyền đạo nầy. Cơ đốc nhân kia đáp: “Thưa vua, vua không thể sung công tài sản của tôi vì tài sản của tôi chất chứa ở trên trời”. Nhà vua nói rằng ông sẽ đưa nhà truyền đạo ra đồng vắng lánh xa hết các bạn hữu. Cơ đốc nhân kia đáp ngay: “Thưa vua, vua không thể đem tôi đi đâu xa khỏi Thiết Hữu cao cả nhất của tôi vì Ngài đang sống trong tôi”. Sau cùng nhà vua nói ông sẽ giết nhà truyền đạo. Cơ đốc nhân ấy đáp: “Vua có thể cất lấy hơi thở của tôi nhưng vua không thể cất lấy sự sống của tôi, vì sự sống ấy giấu với Đức Chúa Trời trong Đấng Christ”.

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Bài 15: Mathiơ 5.9: "PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ LÀM CHO NGƯỜI HOÀ THUẬN"




MATHIƠ – VUA CÁC VUA
SỨ ĐIỆP CỦA NHÀ VUA
PHƯỚC CHO 
NHỮNG KẺ 
LÀM CHO 
NGƯỜI HOÀ THUẬN
Mathiơ 5.9
1. Dường như thế giới đang ở trong cảnh lóng ngóng. Âu châu đã bị thiệt hại nhiều do tai hoạ của Đệ II Thế Chiến. Từ Anh quốc cho đến nước Ý, các thành phố, làng mạc đều có những toà nhà mang dấu tích của bom đạn, nhiều nghĩa trang mọc lên. Ở phía bên kia, những hòn đảo của Biển Nam còn dấu tích của những trận đánh ác liệt. Hiroshima và Nagasaki trông giống như bề mặt của sự chết vậy. Hoà bình của thé giới đã đến, nhưng nó đến với một giá thật là ghê khiếp. Cách đây năm mươi năm, lúc Đệ II Thế Chiến kết thúc, Tướng Doulas MacArthur đã nói ra mấy lời về sự hoà bình cho một thế giới đang trông đợi.
“Ngày hôm nay súng ống đã lặng im… bầu trời không còn mưa sự chết xuống nữa… các đại dương chỉ dành cho thương mại… con người khắp nơi nơi đang bước thẳng vào ánh sáng mặt trời. Cả thế giới yên ổn trong hoà bình… Một kỷ nguyên mới đang giáng trên chúng ta. Thậm chí bài học chiến thắng tự nó đem tới cho nó một mối lo cả về sự an ninh trong tương lai và sự tồn tại nền văn minh. Sức huỷ diệt của chiến tranh, qua những tiến bộ của khai phá trong khoa học, giờ đây kỳ thực đã lên tới một điểm cần phải xét lại khái niệm xưa về chiến tranh… Từ khi bắt đầu thời gian cho tới nay con người đã tìm kiếm sự hoà bình, (nhưng) các liên minh quân sự, sự cân đối về quyền lực, sự kết hợp của các nước, hết thảy đều đi tới chỗ thất bại, chỉ còn có một con đường duy nhất: ấy là con đường dẫn tới lò lửa chiến tranh. Chúng ta đã có cơ hội cuối cùng. Nếu chúng ta giờ đây không nghĩ ra một hệ thống lớn lao hơn và công bằng hơn. Armageddon sẽ tới ngay bên cửa của chúng ta. Nan đề, cơ bản thuộc phạm vi thần học và bao gồm một sự hoạt động về mặt thuộc linh và sự cải thiện tâm tính của con người. Đây là vấn đề của tâm linh nếu chúng ta muốn cứu lấy xác thịt”.
2. Hoà bình dường như rất khó nắm được. Khi xem xét về hoà bình ở vùng Trung đông, Thủ tướng Dothái – Ytzak Rabin đã bị một người Dothái ám sát chết. Tuần lễ nầy tờ báo Toàn Cầu (Globe Times) có đăng một bài viết về một nhóm người đi bộ ngang qua nước Mỹ trong một sứ mệnh về hoà bình. Thật là thú vị thay, họ không thể xoay sở được và đã chia ra làm hai nhóm ở Arkansas! Chúng ta thường ngờ nghệch quá về sự hoà bình.
Một thiếu nữ đang loay hoay với bài tập ở nhà, thì bố cô ấy lấy làm tò mò đến hỏi thăm cô đang làm gì. Cô ta đáp: “Con đang viết thuyết trình về tình trạng của thế giới và làm cách nào để đem lại sự hoà bình”. Người bố hỏi: “Đề tài này có quá lớn cho một thiếu nữ không?” Cô ta đáp: “Ồ, không ạ! Và đừng lo. Chỉ có ba đứa chúng con trong lớp đang làm đề tài nầy đấy ạ!”
3. Trong phần giới thiệu Bài Giảng Trên Núi của Chúa Jêsus, trong cái mà chúng ta gọi là Tám Phước Lành, Chúa nói cho chúng ta biết rằng dân sự Ngài cần phải sống sao cho người ta nhìn biết họ là “những kẻ làm cho người hoà thuận”. Chúng ta hãy đưa ra ba câu hỏi quan trọng nầy về sự hoà thuận và “những kẻ làm cho người hoà thuận”.
I. HOÀ THUẬN LÀ GÌ?A. Hoà bình là một khái niệm quan trọng theo Kinh Thánh.
1. Thứ nhất, Kinh Thánh gọi Đức Chúa Trời là “Đức Chúa Trời Bình An” trong ba phân đoạn khác nhau (Rôma 15.33; II Côrinhtô 13.11; Philíp 4.9). Kinh Thánh chứa khoảng 400 tham khảo trực tiếp đến hoà bình và nhiều tham khảo gián tiếp khác.
2. Sáng thế ký khởi sự với ngôi vườn Êđen xinh đẹp. Đây là một nơi thật an bình. Rồi thế giới mất đi sự an bình của nó qua Sự Sa Ngã vào trong tội lỗi. Đấng Christ đã phục hồi lại sự an bình ấy qua sự chết của Ngài trên thập tự giá. Sách Khải huyền kết thúc với kỷ nguyên đời đời trong đó sự hoà bình được phục hồi và được “Chúa Bình An” tể trị. Hoà bình đánh dấu cách ứng xử của Đức Chúa Trời đối với loài người.
B. Hoà bình không biểu thị đặc điểm con người.
1. Theo thống kê cho biết, trong hơn 3100 năm lịch sử thế giới đã được ghi lại, thế giới chỉ sống trong hoà bình 8% thời gian hoặc tổng cộng 286 năm và 8000 hiệp ước đã được ký kết và bị phá vỡ. Có người nói: “Hoà bình là giây phút vinh quang trong lịch sử khi ai nấy thôi không nạp đạn vào súng nữa”.
2. Không những chúng ta không có hoà bình đối với chiến tranh trên toàn cầu, chúng ta không có hoà bình về kinh tế, hoà bình về tôn giáo, hoà bình về chủng tộc, hoà bình giữa cá nhân với nhau. Thuật ngữ thông dụng trong thời đại của chúng ta là CĂNG THẲNG.
3. Lý do có ít hoà thuận trên thế giới là vì Satan. Hắn là kẻ đối lập với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban ra sự hoà bình và Satan lột bỏ hắn. Hắn bảo chúng ta phải cướp lấy cho bản thân mình, phải đặt “tôi” lên trên hết, phải tức tối, phải thù hận, và phải chiến đấu. Hắn là động lực tối hậu cho mọi sự hỗn loạn trên thế giới.
C. Sự bình an của Đức Chúa Trời rất khác biệt với sự bình an của thế gian.
1. Quan niệm về sự bình an của con người cho mọi người là thôi không chiến đấu nữa, phải thoả hiệp, hạ cánh tay xuống mà bắt lấy nhau. Việc nầy không bao giờ xảy ra vì cớ bổn tánh tội lỗi của chúng ta.
2. Sự bình an mà Chúa Jêsus đang nói tới lại khác đi. Ngài đã phán trong Giăng 14.27: “Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho”. Sự bình an của Ngài chẳng dính dáng gì với sự hoà bình của Liên Hiệp Quốc, NATO, các hiệp ước, những cuộc ngừng bắn, hay phân xử.
3. Sự bình an của Đấng Christ là sự thanh bình bên trong tự nó tỏ ra trong sự tin cậy hoàn toàn vào Đức Chúa Trời cao cả và yêu thương. Philíp 4.7 chép rằng sự bình an của Đức Chúa Trời “vượt quá mọi sự hiểu biết”.
D. Sự bình an của Đức Chúa Trời đến từ sự hiện diện của Ngài trong đời sống của chúng ta.
1. Chúng ta có sự bình an trong tấm lòng vì chúng ta đã được cứu. Rôma 5.1 chép: “Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”.
2. Khi chúng ta được cứu, Đức Chúa Trời làm đầy dẫy tấm lòng chúng ta với một sự khôn ngoan thanh sạch, ưa thích sự bình an. Giacơ 3.17 chép: “Nhưng sự khôn ngoan từ trên mà xuống thì trước hết là thanh sạch, sau lại hòa thuận”.
3. Chúng ta có sự hoà thuận vì Đức Chúa Trời đã làm sự công bình cho chúng ta. Cả hai bước đi tay trong tay. Thi thiên 85.10 chép: “Sự thương xót và sự chân thật đã gặp nhau; Sự công bình và sự bình an đã hôn nhau”.
E. Sư bình an luôn luôn đến với một giá phải trả.
1. Chúa Jêsus đã phán trong Mathiơ 10.34: “Chớ tưởng rằng ta đến để đem sự bình an cho thế gian; ta đến, không phải đem sự bình an, mà là đem gươm giáo”. Điều nầy dường như đối ngược lại với phước lành ngày hôm nay. Chúa Jêsus muốn nói bình an có một giá phải trả.
2. Trước khi một người có sự hoà thuận với Đức Chúa Trời, người ấy phải đến với lẽ thật và sự công bình. Lẽ thật là tin lành. Trong đó người ấy tìm gặp sự công bình của Đức Chúa Trời. Trong sự công bình của Đức Chúa Trời, người ấy tìm gặp mình là tội nhân. Ở đây người gặp một nhu cần phải ăn năn và tin cậy nơi Đấng Christ.
3. Trước khi có sự hoà bình giữa các nước, giữa chồng và vợ, giữa bạn bè, cần phải có một sự nhìn nhận thành thật về tội lỗi và chạy đến với sự công bình.
4. Chúa Jêsus đã đến để đem “gươm giáo” của sự phân rẽ. Tội lỗi chúng ta gạt bỏ sự hoà thuận đi. Sứ điệp của Ngài phân rẽ những người tin cậy Đức Chúa Trời ra khỏi những kẻ không chịu tin, những người chịu vâng theo Đức Chúa Trời và những người không vâng theo. Ngài kêu gọi chúng ta phải đương diện với tội lỗi.
F. Cái giá trả cho sự bình an của chúng ta là thập tự giá của Đấng Christ.
1. Côlôse 1.19-20 chép: “Vì chưng Đức Chúa Trời đã vui lòng khiến mọi sự đầy dẫy của mình chứa trong Ngài, và bởi huyết Ngài trên thập tự giá, thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Đức Chúa Trời”.
2. Chúa Jêsus đã gánh lấy tội lỗi chúng ta rồi hiến cho chúng ta sự công bình của Ngài (II Côrinhtô 5.21), sự công bình đó khiến cho chúng ta được hoà thuận lại với Đức Chúa Trời.
II. TÔI SẼ TRỞ THÀNH KẺ LÀM CHO NGƯỜI TA HOÀ THUẬN BẰNG CÁCH NÀO?.A. Hạng người đem lại hoà bình cho thế gian nầy không phải là Ytzak Rabin, Henry Kissenger hay Jimmy Carter. Nhánh bình an của họ cũng tốt đấy song chưa phải là đời đời đâu. “Những kẻ làm cho người hoà thuận” thật chính là hạng người có sự bình an của Đức Chúa Trời.
1. I Côrinhtô 7.15 chép: “Đức Chúa Trời đã gọi anh em ăn ở trong sự bình an”. Bước sang II Côrinhtô 5.18, Đức Chúa Trời kêu gọi dân sự Ngài bước vào một “chức vụ giảng hoà”.
2. “Chức vụ giảng hoà” nầy đúng là chức vụ làm ra sự hoà thuận, giúp cho nhiều người khác tìm gặp sự bình an của Đức Chúa Trời. Hãy chú ý II Côrinhtô 5.19-20. Giờ đây chúng ta là hàng “khâm sai” hoà bình của Đức Chúa Trời trong một thế giới không có sự hoà bình.
B. Chúng ta hãy chú ý bốn đặc điểm của “những kẻ làm cho người hoà thuận”.
1. Thứ nhất, một kẻ làm cho người hoà thuận đã hoà thuận lại với Đức Chúa Trời.
a. Người ấy là người đã được cứu và nhơn đó đã làm hoà lại với Đức Chúa Trời. Mặc dù người là kẻ thù của Đức Chúa Trời, người đã “được hòa thuận với Ngài [Đức Chúa Trời] bởi sự chết của Con Ngài” (Rôma 5.10).
b. Vì cớ người đã được cứu, người nhìn biết “sự bình an của Đức Chúa Trời, vượt quá mọi sự hiểu biết” (Philíp 4.8; Côlôse 3.15). Helen Steiner Rice viết:
Khi tôi bối rối và phiền ưu trong thất vọng,
Tôi gói ghém mọi rối rắm lại rồi gặp Đức Chúa Trời
Trong sự cầu nguyện,
Tôi cũng nói cho Ngài biết rõ nỗi lòng, sự hư mất và nỗi cô đơn của tôi,
Rằng tôi đầy gánh nặng và chẳng biết phải làm gì.
Nhưng tôi biết Ngài đã quở gió và làm cho biển nổi sóng phải yên lặng,
Tôi hạ mình xuống hỏi không biết Ngài có làm như thế
Cho tôi trong tình yêu của Ngài hay không!?!
Tôi chỉ biết giữ yên lặng và suy nghĩ về sự bình an,
Rồi khi tôi ở trong sự yên lặng, tiếng than phiền không dứt của tôi bèn ngưng lại.
c. Mặc dù người đã được cứu, người biết mình vẫn có tội. Người không muốn tội nầy tác động vào sự bình an trong đời sống mình, vì vậy người xưng tội nầy ra với Đức Chúa Trời (I Giăng 1.9). Cơ đốc nhân ích kỷ, lấy cái tôi làm trọng, ít quan tâm đến tội lỗi không thể trở thành một khâm sai cho hoà bình được.
2. Thứ hai, một kẻ làm cho người ta hào thuận hướng dẫn người khác làm sự hoà thuận lại với Đức Chúa Trời.
a. Êphêsô 6.15 cho chúng ta biết rằng hết thảy những tín hữu đều phải xỏ chơn vào “tin lành bình an”. Chúng ta cần phải sẵn sàng và bằng lòng chia sẻ tin lành trong cách chúng ta sinh sống và trong sự làm chứng bằng môi miệng, cả hai.
b. Người nào tin tin lành đều phải chia sẻ tin lành đó. Quý vị có tin điều đó chăng!?!
Một bà kia tìm gặp con chó nhỏ trong sân nhà mình, nó bị một chiếc xe hơi đụng phải. Bà ta đem nó vào nhà rồi thấy rằng nó chỉ bị choáng, bị tím bầm và xây xát đôi chút thôi. bà ta lau sạch cho con chó rồi cho nó ăn để nó đủ sức chạy đi khi bà ra mở cửa. Bà ta nghĩ: “Con chó nhỏ nầy chẳng biết ơn gì cả!” Bà ta hoàn toàn ngạc nhiên khi nghe tiếng cửa sột soạt vài phút sau đó. Có con chó nhỏ và nó đã mang theo về một con chó đi lạc khác đứng nơi cửa nhà bà.
3. Thứ ba, một kẻ làm sự hoà thuận lo giúp cho tha nhân làm hoà với người khác.
a. Khi một người đến với Đấng Christ, người ấy có sự hoà thuận với Đức Chúa Trời và trở thành kẻ làm sự hoà thuận cho thế gian. Người bắc một nhịp cầu giữa Đức Chúa Trời và loài người. Người cũng bắc những cây cầu giữa người nầy và người kia nữa.
b. Rôma 12.18 chép: “Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người”.
c. Đôi khi làm sự hoà thuận sẽ dính díu với một quở trách. Điều nầy đòi hỏi một tâm linh biết hạ mình và một ao ước về sự hoà bình và ý chỉ của Đức Chúa Trời (Mathiơ 18.15-17).
4. Thứ tư, một kẻ làm hoà thuận trông đợi sự tán thành.
a. Chúng ta không nên đem lẽ thật của Đức Chúa Trời mà thoả hiệp; tuy nhiên, chúng ta có thể tìm được sự tán thành với bất kỳ ai.
b. Chúng ta phải phấn đấu mà không phải tranh cãi, bất đồng mà không có sự gắt gỏng, đương đầu mà không có sỉ nhục.
c. Chúng ta không nên tìm kiếm “sự bình an rẻ tiền”, hãy đoàn kết theo sự dạy của Kinh Thánh. Chúng ta phải đạt cho kỳ được một sự cân đối.
d. Êphêsô 4.15 dạy chúng ta phải “lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật”. Chúng ta không nên thối lui trước lẽ thật, nhưng chúng ta phải luôn luôn phân phát lẽ thật trong một tinh thần yêu thương.
e. Nhiều lần, dân sự của Đức Chúa Trời muốn tranh đấu và bàn cãi. Có những lúc phải kiếm một chỗ đứng, nhưng chỗ đứng ấy phải tìm trong sự hoà bình. Chúng ta đừng làm sự hoà thuận bằng cách tranh đấu. Tôi rất vui sướng khi chúng ta có nhiều kẻ làm sự hoà thuận trong nhà thờ nầy.
Charles Swindoll viết: “Những kẻ làm sự hoà thuận lo làm dịu sự căng thẳng, họ không đào cho sâu thêm. Những kẻ làm sự hoà thuận tìm kiếm những giải pháp và chẳng thấy ham thích chi trong sự cãi vả. Những kẻ làm sự hoà thuận làm cho sóng biển phải im lặng, họ không làm cho chúng dậy lên. Những kẻ làm sự hoà thuận chịu khó làm việc để giữ cho đừng xảy ra sự mất lòng. Và nếu sự mất lòng xảy ra, họ phấn đấu tìm cho ra giải pháp. Những kẻ làm sự hoà thuận hạ thấp giọng của họ xuống hơn là cất cao giọng lên. Những kẻ làm sự hoà thuận phát ra ánh sáng hơn là hơi nóng. Những linh hồn nào có tấm lòng như thế thật phước thay! Chúng ta cần nhiều người như họ trong hàng ngũ những kẻ có đức tin. Chúng ta cần nhiều chiến sĩ, nhiều người sẵn sàng để xông tới”.
5. Thứ năm, một kẻ làm sự hoà thuận lo làm sự hoà thuận bất cứ đâu người đi đến. Chúng ta không chỉ làm sự hoà thuận ở trong nhà thờ thôi. Chúng ta cần phải thực hiện nguyên tắc nầy ở tại gia, trong sở làm, tại trường học…
Tôi thích phần tiểu luận rất hay có đề tựa “Kẻ lăng xăng thánh khiết”:
Smith và Jones sắp “to tiếng” về một vấn đề không đáng kể chi hết. Điều nầy khiến cho Chấp sự Brown phải để ý, vì vậy ông đã cầu nguyện rằng ông sẽ trở thành kẻ làm cho người hoà thuận. Ông gọi Smith đến hỏi: “Anh nghĩ sao về Jones?” “Hắn ta là kẻ lập dị nhất trong xóm”. Brown nói: “Nhưng, ông phải thừa nhận rằng ông ấy rất tốt đối với gia đình của ông ta”. Ngày hôm sau Brown đến gặp Jones rồi hỏi: “Ông có biết Smith nói sao về ông không?” “Không, nhưng tôi có thể hình dung ra thằng xỏ lá đó sẽ nói dối thế nào về tôi!” “Điều nầy sẽ làm ông ngạc nhiên đấy, nhưng ông ta nói ông rất tốt đối với gia đình ông”. “Sao chứ! Smith nói thế à?”. “Phải, ông ta nói thế đấy!” “Được, nếu ông không nói ra, tôi sẽ chẳng tin như vậy đâu!” Chấp sự Brown hỏi: “Ông nghĩ sao về Smith?” “Thực ra, tôi tin ông ta là một kẻ cư xử hạ cấp, nhưng ông phải nhìn nhận rằng ông ta rất thành thật trong công việc”. “Phải, không phải bàn chi về điều nầy; trong công việc ông ta là một người mà ông có thể tin cậy”. Ngày hôm sau Brown gọi lại Smith một lần nữa: “Ông đã biết Jones nói gì về ông rồi, có phải không? Ông ấy cho rằng ông là một người đáng tin cậy trong công việc, và ông rất thành thật tuyệt đối”. “Ông chắc thế sao?”. “Phải tôi chắc đấy!” Brown nói. Smith đáp với một nụ cười vui sướng: “Chắc trăm phần trăm há”. Ngày Chúa nhật sau đó “hai kẻ thù” trước kia đã gật đầu chào nhau. Brown tiếp tục việc “lăng xăng” của mình cho tới buổi nhóm hàng năm của nhà thờ khi Smith và Jones bắt tay nhau và sau cùng đồng ý đứng chung với nhau trong kỳ bỏ phiếu. Đức Chúa Trời yêu “kẻ lăng xăng thánh khiết”.
III. NHỮNG LỢI ÍCH NÀO TRONG VIỆC TRỞ THÀNH KẺ LÀM CHO NGƯỜI TA HOÀ THUẬN?A. Thứ nhất, chúng ta được “phước”. Chúa Jêsus phán: “Phước cho những kẻ làm cho người hoà thuận”. Từ ngữ có ý nói “hạnh phước” hay “may mắn”. Nguyện Đức Chúa Trời sẽ chúc phước cho quý vị!
B. Thứ hai, chúng ta được “gọi là Con Đức Chúa Trời”.
1. Tôi rất biết ơn vì cơ nghiệp của gia đình của chúng tôi. Trong cây gia đình của tôi, tôi có nhiều chiến sĩ, nhiều nhà tiền phong, những nhà truyền đạo, những nhà nông… những người yêu xứ sở nầy và phụ giúp biến nó thành một quốc gia to lớn.
2. Tôi rất tự hào về bố mẹ tôi. Họ đã dạy tôi kính sợ Đức Chúa Trời và sống với tính ngay thẳng và bộc trực. Tôi rất tự hào khi được làm con cái của họ.
3. Quan trọng hơn hết, tôi rất tự hào khi được làm con cái của Đức Chúa Trời. Vì Đức Chúa Trời là Chúa bình an và tôi là con cái của Ngài, tôi phải trở thành một “kẻ làm cho người hoà thuận”.
4. Từ ngữ “con cái” chỉ ra một mối quan hệ lắm vinh dự và đáng tôn trọng giữa đứa con và bố mẹ của nó. Hỡi quý bà, quý vị được gọi là con gái của Đức Chúa Trời. Từ ngữ nầy bao gồm hết thảy dân sự của Đức Chúa Trời.
5. Trở thành một “kẻ làm cho người hoà thuận” là trở thành một Cơ đốc nhân. Người nào thường cãi vả, tranh chấp, làm mất lòng không phải là Cơ đốc nhân hoặc là môt Cơ đốc nhân đang sống trong loạn nghịch chống lại Đức Chúa Trời.
6. Hãy chú ý chúng ta “sẽ được gọi là” con cái của Đức Chúa Trời. Thế gian sẽ gọi chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời bởi phương thức bình an mà chúng ta đang sinh sống trong đó.
IV. NHỮNG CÂU HỎI.
A. Quý vị đã làm sự hoà thuận lại với Đức Chúa Trời chưa? Quý vị có biết rằng quý vị đã được cứu và đã được định cho ở trong thiên đàng cho đến đời đời, hoặc quý vị vẫn còn đánh trận chống nghịch Ngài không?
B. Quý vị có sự bình an của Đức Chúa Trời chưa? Nguyện quý vị sẽ được cứu, nhưng quý vị thường lo toan về nhiều việc. Quý vị cần phải trao mọi điều lo lắng cho Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện và kinh nghiệm sự bình an của Ngài trong tâm trí của quý vị.
C. Quý vị có làm hoà với nhiều người khác không? Có phải đời sống của quý vị được đánh dấu bằng tranh chấp và vãi vả không? Có phải quý vị thường gây gỗ với người khác? Quý vị cần phải được cứu hoặc đầu phục mới mẻ đối với Chúa.
D. Có phải quý vị giúp cho người khác tìm được sự bình an? Khi quý vị giới thiệu cho ai đó biết Chúa Bình An, việc nầy có dài lâu không?
MacArthur đã nói đúng. Nan đề bình an đúng là nan đề về mặt thần học. Đây là vấn đề của tâm linh nếu chúng ta muốn cứu lấy xác thịt.

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

Bài 14: Mathiơ 5.8: "PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ CÓ LÒNG TRONG SẠCH"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
SỨ ĐIỆP CỦA NHÀ VUA
PHƯỚC CHO 
NHỮNG KẺ 
CÓ LÒNG TRONG SẠCH
Mathiơ 5.8
1. Tuần vừa qua, thiếu nhi trong nước đã mặc trang phục của chúng và đến trước cửa nhà chúng tôi với sứ điệp: “Trick or Treat” (Câu nói của trẻ em khi gọi cửa các nhà trong dịp lễ Halowe’wn để xin kẹo… và dọa phá phách nếu không cho). Hầu hết chúng ta đều ăn kẹo theo kiểu ăn lấy ăn để rồi vui vẻ gửi sang cho nhà lân cận. Công việc của tôi là lấy thứ kẹo nhỏ “Pocahontas”“Belle the Beauty” đi một vòng mang cho các thành viên trong gia đình vì tánh thích ăn của họ. Môt thành viên trong gia đình đã làm việc trong nhiều năm trời trong khu gian hàng thiếu nhi nói cho tôi biết có mấy lần cô ta gặp mấy em thiếu nhi trong Hội thánh đến nói cho cô ta biết chúng đã đến nhà cô vào dịp Lễ. Cô ta nói: “Với loại mặt nạ nầy, tôi không thể nói chúng là ai!”
2. Hầu hết chúng ta đều mang mặt nạ. Chúng ta chỉ không mang chúng vì “trick or treat”, chúng ta mang chúng mỗi ngày trong đời sống chúng ta. Chúng ta mang một chiếc mặt nạ khi chúng ta đi đến sở làm, song lại cởi nó ra khi chúng ta quay trở về nhà. Chúng ta mang lấy chiếc mặt nạ khác khi có bạn bè đến nhà chơi, nhưng sau khi họ ra về rồi, chiếc mặt nạ được tháo ra. Chúng ta có chiếc mặt nạ khác khi đi nhà thờ, nhưng khi chúng ta bước vào xe, chúng ta tháo nó ra cho đến buổi thờ phượng kế tiếp. Có một bức hoạ mà vợ tôi đã cắt lấy cách đây nhiều năm cho thấy một vị Mục sư đang trò chuyện với vợ của ông ta. Bà ấy nói: “Ngày nay chúng ta hãy làm một việc khác đi. Tại sao anh không dễ mến ở nhà và gắt gỏng ở nhà thờ!”
3. Chúng ta mang nhiều chiếc mặt nạ để người ta không thể nói chúng ta thực sự là ai. Chúng ta không muốn người khác biết rõ chúng ta. Chúng ta thường đánh lừa những người làm công, bạn bè, tín hữu và thậm chí cả gia đình chúng ta nữa. Tuy nhiên, chúng ta chưa bao giờ đánh lừa được Chúa. Ngài nhìn thấu qua các mặt nạ của chúng ta. Lois K. Blanchard đã viết một bài thơ rất hay:
Nếu Chúa Jêsus đến nhà bạn ở một ngày hay hai ngày
Nếu Ngài đến cách bất ngờ,
Tôi lấy làm lạ không biết bạn sẽ làm gì?
Tôi biết bạn sẽ dành căn phòng đẹp nhất
Cho Vị Khách danh dự ấy,
Cùng mọi thức ăn bạn dọn cho Ngài
Sẽ là thứ ngon nhất.
Và bạn sẽ đoan chắc với Ngài
Bạn rất hân hạnh được tiếp đón Ngài
Được phụcc vụ Ngài trong ngôi nhà của bạn
Là niềm vui khôn tả;
Thế nhưng khi bạn trông thấy Ngài đang đứng ở đấy,
Bạn có ra tận cửa,
Với đôi vòng tay rộng mở hoan nghinh Ngài
Là Khách của bạn đến từ Trời không?
Hoặc bạn sẽ thay đổi một vài thứ
Trước khi bạn mời Ngài vào?
Hay giấu đi vài tờ báo rồi trưng dẫn cuốn Kinh Thánh ra?
Liệu gia đình có tiếp tục nói năng bình thường chăng?
Và bạn khó mà gán cho từng bữa ăn là giàu ơn?
Bạn vui vẻ không
Khi có Ngài là thiết hữu thân cận nhất?
Hoặc bạn có hy vọng bạn bè sẽ ở lại
Khi cuộc viếng thăm của Ngài kết thúc?
Bạn có vui vẻ khi có Ngài ở với cho tới đời đời,
Miên viễn không?
Hay bạn thở dài khoan khoái khi Ngài ra về?
Chắc bạn lúng túng ít nhiều
Một khi Chúa Jêsus đến nhà riêng của bạn
Để ở với bạn trong một lúc”
.
4. Trong Tám Phước Lành nầy, ở đây Chúa Jêsus đang nói tới “người có lòng trong sạch”, Ngài đang nói tới việc lột bỏ đi mặt nạ, nói tới việc phải học sống chơn thật, đáng tin trước mặt cả con người lẫn Đức Chúa Trời.
I. CÓ LÒNG TRONG SẠCH CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO?A. Chữ “lòng” là hình bóng của người bề trong.
1. “Lòng” ra từ chữ Hy lạp kardia từ đó chúng ta có chữ “tim” (cardiac) cùng các chữ tương tự khác.
2. Nhiều chữ tương tự đã được sử dụng trong nhiều nền văn hoá đề cập tới người bề trong, ngai của mọi động lực và các thái độ, trung tâm của nhân cách. Trong một số xã hội, họ dùng “quả cật” hay “ruột”. Hãy tưởng tượng xem câu hát: “Tôi để quả cật lại ở San Francisco” hay “Trong khúc ruột sâu sắc ở Texas”.
3. Trong Kinh Thánh, tấm lòng tiêu biểu cho những tình cảm và cảm xúc sâu sắc nhất, nhưng nó cũng tiêu biểu cho lý trí và ý chí nữa. Châm ngôn 23.7 chép: “Vì hắn tưởng trong lòng thể nào, thì hắn quả thể ấy”. Trong Mathiơ 9.4, Chúa Jêsus hỏi các thầy thông giáo: “Nhân sao trong lòng các ngươi có ác tưởng làm vậy?”
4. Đức Chúa Trời luôn luôn quan tâm tới phần bề trong của con người, “tấm lòng” hơn bất cứ thứ chi khác.
a. Châm ngôn 4.23 chép: “Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra”
b. Đức Chúa Trời sai Nước Lụt đến vì Ngài “thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn” (Sáng thế ký 6.5).
c. Sau khi phạm tội tà dâm, Đavít đã cầu nguyện: “Xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng” (Thi thiên 51.10).
d. Tác giả Thi thiên – Asáp đã viết: “Đức Chúa Trời thật đãi Ysơraên cách tốt lành, tức là những người có lòng trong sạch” (Thi thiên 73.1).
e. Giêrêmi 17.9-10 chép: “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được? Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm”.
f. Chúa Jêsus phán trong Mathiơ 15.19-20: “Vì từ nơi lòng mà ra những ác tưởng, những tội giết người, tà dâm, dâm dục, trộm cướp, làm chứng dối, và lộng ngôn. Ay đó là những điều làm dơ dáy người; song sự ăn mà không rửa tay chẳng làm dơ dáy người đâu”.
B. Từ ngữ “trong sạch” là từ đồng nghĩa với thánh khiết.
1. “Trong sạch” dịch từ chữ katharos từ đó chúng ta có “catharsia”. “Catharsia” là từ ngữ được dùng trong môn tâm lý học và trong việc mưu luận, có ý nói tới một sự làm sạch tâm trí hay tình cảm. Từ ngữ Hy lạp có nghĩa là “làm sạch bằng cách thanh tẩy không còn bụi bặm, vết uế, hay sự ô nhiễm”.
2. Trong tiếng Hy lạp cổ điển, từ ngữ thường được sử dụng để mô tả các thứ kim loại đã được luyện lọc rồi trong lửa cho tới chừng chúng được “sạch ròng” không còn cáu cặn nữa.
3. Chúa Jêsus muốn chúng ta phải có tấm lòng “trong sạch”, hay thanh sạch, không đeo mặt nạ.
C. Có ít nhất sáu loại thanh sạch trong Lời của Đức Chúa Trời.
1. Thứ nhất, có sự thanh sạch THIÊNG LIÊNG. Đây là loại thanh sạch hay thánh khiết duy nhất thuộc về Đức Chúa Trời. Đó là loại thanh sạch bên trong nơi bổn tánh của Ngài. Sự trong sạch hay thánh khiết đối với Đức Chúa Trời giống như ánh sáng đối với mặt trời hoặc tình trạng ẩm ướt đối với nước vậy.
2. Thứ hai, có sự trong sạch được TẠO RA. Đây là sự thanh sạch của loài thọ tạo của Đức Chúa Trời trước sự loạn nghịch của Lucifer và Sự Sa Ngã phạm tội của con người.
3. Thứ ba, có sự trong sạch THEO ĐỊA VỊ. Đây là sự trong sạch hay thánh khiết chúng ta nhận lãnh khi chúng ta tin cậy Chúa Jêsus là Cứu Chúa của chúng ta. Ngay giây phút bạn được cứu, Đức Chúa Trời quy cho bạn sự công bình của Đấng Christ (II Côrinhtô 5.21). Từ giây phút chúng ta được cứu, Đức Chúa Trời nhìn thấy chúng ta “mặc lấy” sự công bình trong Đấng Christ.
a. Hêbơrơ 9.14 chép: “huống chi huyết của Đấng Christ, là Đấng nhờ Đức Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì tích cho Đức Chúa Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống, là dường nào!”
b. Rôma 4.5 chép: “còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình”.
4. Thứ tư, có sự trong sạch HIỂN NHIÊN. Khi Đức Chúa Trời gắn sự trong sạch hay công bình của Đấng Christ vào đời sống chúng ta, đây không chỉ là một câu nói thôi đâu, mà là sự hiển nhiên (II Phierơ 1.2-4). Khi một Cơ đốc nhân phạm tội, ấy là do bổn tánh hay phạm tội gây ra, chớ không phải người bề trong thanh sạch, mà bởi xác thịt tội lỗi.
5. Thứ năm, có sự trong sạch THỰC TẾ. Đây là chi tiết rất khó. Sự trong sạch nầy có nghĩa là sống bề ngoài thanh sạch phải y như người bề trong. Đây là một trận chiến!
a. II Côrinhtô 7.1 chép: “Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta”.
b. I Phierơ 1.14-16 chép: “Anh em đã nên như con cái hay vâng lời, thì chớ có làm theo sự dâm dục, là sự cai trị trong anh em ngày trước, về lúc anh em còn mê muội. Nhưng, như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình, bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì ta là thánh”.
c. Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải sống thanh sạch về người bề ngoài cũng y như thanh sạch về người bề trong. Giống như chiếc áo trắng với những dòng chỉ đen vậy.
Keith Miller viết: “Tôi lấy làm lạ một khi là Cơ đốc nhân chúng ta đã phát triển loại khải tượng có khả năng chọn lọc cẩn thận, khải tượng ấy cho phép chúng ta dấn thân sâu sắc và thành thật vào sự thờ phượng, vào các sinh hoạt của Hội thánh hết ngày này qua ngày khác lại quá mệt nhọc trong công việc làm ăn kiếm sống mà không hề nhận biết điều đó”. Trong quyển “Loving God” (Kính sợ Đức Chúa Trời), Chuck Colson viết: “Cơ đốc giáo không phải là nghi thức khoa trương mà chúng ta trình diễn vào ngày Chúa nhật. Cơ đốc giáo không thay đổi bởi các tiêu chuẩn của Kinh Thánh về sự nên thánh của cá nhân và đổi lại tìm cách đưa sự thánh khiết vào trong xã hội mà chúng ta đang sinh sống trong đó”.
6. Thứ sáu, có sự trong sạch HOÀN TOÀN. Đây là sự trong sạch mà dân sự của Đức Chúa Trời sẽ có trong loại thân thể đã được làm cho vinh hiển. I Giăng 3.2 chép: “Chúng ta biết rằng khi Ngài [Chúa Jêsus] hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy”.
D. Vì lẽ đó người “có lòng trong sạch” trước hết đã được cứu, có sự công bình của Đấng Christ bao phủ tấm lòng của bạn. Thứ hai, có lòng trong sạch phải thực thi sự thanh sạch, thể hiện ra bên ngoài những gì Đức Chúa Trời đã dựng nên nơi người bề trong của bạn.
II. MỘT NGƯỜI LÀM SẠCH TẤM LÒNG BẰNG CÁCH NÀO?A. Về mặt lịch sử, con người đã nghĩ ra nhiều cách để đạt tới sự nên thánh.
1. Có người đã thử tuân theo luật pháp, xác định một bộ luật và tín điều rất khe khắt bởi đó họ tự xét đoán họ và xét đoán thế gian. NGƯỜI PHARISI đã thử theo cách nầy. Chúa Jêsus phán rằng họ đã sống giống như “mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy” (Mathiơ 23.37). Chúng ta không cần các luật lệ, chúng ta cần lẽ thật!
2. Có người đã thử hình thức đổi mới, thử quan hệ với xã hội của họ theo các giới hạn của con người. NGƯỜI SAĐUSÊ đã thử cách nầy và đã chối bỏ các sự dạy quan trọng của Kinh Thánh như sự sống lại. Hầu hết các nhóm chính đều gạt bỏ Kinh Thánh qua một bên.
3. Có người đã thử chủ nghĩa tích cực. Đây là hạng người QUÁ KHÍCH, họ tin phương thức duy nhất cho Đức Chúa Trời để thay đổi xã hội là bởi lời tuyên truyền học thuyết về chính trị. Xã hội của chúng ta không cần một sự thay đổi về chính trị, chúng ta cần sự thay đổi về mặt thuộc linh!
4. Có người đã thử chế độ ưu tiên, tự họ rời khỏi xã hội, các mối quan hệ, và mọi thứ tiêu khiển của thế gian, khiến mọi năng lực của họ vào sự suy gẫm và sự cầu nguyện. Làm sao chúng ta làm chứng cho người khác về Đấng Christ theo cách nầy?
B. Đức Chúa Trời luôn luôn cung ứng một phương thức để làm theo mọi điều Ngài đã truyền dạy. Chúng ta không thể sống loại đời sống thánh khiết bằng cách làm theo các ý tưởng của chúng ta cho được. Châm ngôn 20.9 chép: “Ai có thể nói: Ta đã luyện sạch lòng mình, Ta đã trong sạch tội ta rồi?” Giêrêmi nói: “Người Ê-thi-ô-bi có thể đổi được da mình, hay là con beo đổi được vằn nó chăng?” (Giêrêmi 13.23).
C. Kinh Thánh đề nghị ít nhất 5 bước trong việc “có lòng trong sạch”.
1. BƯỚC 1 là Sự Cứu Rỗi Qua Con của Đức Chúa Trời.
a. Một người có thể đi nhà thờ, dâng hiến tiền bạc, sống chơn thật, đáng tin cậy, trung tín, khả kính, và vẫn phải đi địa ngục. Sao vậy? Người ấy không có “lòng trong sạch”. Mặc dù người ấy tìm cách sống trong sạch ở bề ngoài, nhưng như thế vẫn còn cách xa Chúa Jêsus lắm (Rôma 3.10, 23; Êsai 64.6).
b. Rôma 3.20 chép: “vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi”. Êphêsô 2.8-9 chép: “Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình”.
c. Nếu bạn chưa thực được cứu, hãy tin cậy Đấng Christ ngay hôm nay. Chỉ có Ngài mới có quyền làm cho bạn thưc sự “có lòng trong sạch”.
2. BƯỚC 2 là Tin Cậy Vào Quyền Phép của Đức Chúa Trời.
a. Bạn vô quyền không thể tự cứu lấy mình được, bạn vô quyền không thể tự sống công nghĩa được.
b. Trong nhiều năm trời, tôi đã thử sống theo những gì Đức Chúa Trời muốn tôi sống và tôi luôn luôn thất bại. Sao vậy? Tôi đang tìm cách hầu việc Đức Chúa Trời bằng sức riêng của tôi, chớ không phải bằng quyền phép của Ngài. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 15.5: “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được”.
c. Sau cùng tôi học được bí quyết của đời sống Cơ đốc đắc thắng là đơn sơ đầu phục Đức Chúa Trời mỗi ngày và nương cậy vào quyền phép của Ngài. Đức Chúa Trời đã phán với Phaolô: “Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi” (II Côrinhtô 12.9).
3. BƯỚC 3 là Sức Lực Của Lời Đức Chúa Trời.
a. Hêbơrơ 4.12 chép: “Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng”.
b. Không một Cơ đốc nhân nào sống thanh sạch mà lại cách xa Lời của Đức Chúa Trời cho được. Lời Chúa giống như bộ sạc cho loại pin thuộc linh của bạn vậy. Đó là thức ăn thuộc linh. Không có Lời Chúa đời sống thuộc linh của bạn sẽ không còn chi nữa! Thi thiên 119.11 chép: “Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa!”
4. BƯỚC 4 là Quyền Lãnh Đạo của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Tầm quan trọng của một đời sống “thanh sạch” là phải “đầy dẫy Đức Thánh Linh” (Êphêsô 5.18). Galati 5.16 chép: “Vậy tôi nói rằng: Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt”. Hãy lắng nghe Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang ngự trong lòng bạn. Hãy làm theo tiếng phán của Ngài.
5. BƯỚC 5 là Thông Công Trong Sự Hiện Diện của Đức Chúa Trời.
a. Bạn không thể “trong sạch” khi chẳng có sự cầu nguyện. Chúng ta không thể nhìn biết ý chỉ của Đức Chúa Trời, hiểu biết mục đích của Ngài, hay ứng dụng Lời của Ngài mà không có sự cầu nguyện.
b. Êphêsô 6.18 chép: “Hãy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin”.
c. Chúng ta cần phải cầu xin sự tha thứ khi chúng ta phạm tội không thể tránh được. Đavít đã cầu nguyện: “Xin dựng nên trong tôi một lòng thanh sạch” (Thi thiên 51.10). I Giăng 1.9 chép: “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác”.
Dag Hammarskjold – Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc vào giữa và cuối thập niên 1950 nói: “Quý vị không thể chơi đùa với con thú ở trong bạn mà không có việc trở thành một con thú trọn vẹn, chơi đùa với sự nói dối mà không bỏ đi quyền nói thật, chơi đùa với sự độc ác mà không có việc mất đi ý thức trong lý trí. Người nào muốn giữ ngôi vườn của mình thật ngăn nắp không nên để cho cỏ mọc tràn lan”.
III. ĐÂU LÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC “CÓ LÒNG TRONG SẠCH”?A. Chữ đầu tiên của phước lành nầy nói chúng ta sẽ được “phước”. Chữ nầy có nghĩa là “hạnh phúc” hay “may mắn”. Nếu bạn muốn sống hạnh phúc, hãy “có lòng trong sạch”.
B. Lợi ích thứ hai của việc “có lòng trong sạch” đó là chúng ta sẽ “thấy Đức Chúa Trời”.
1. Chúng ta chưa sẵn sàng để nhìn thấy Đức Chúa Trời bằng mắt thường.
a. Môise là vị lãnh tụ tài ba của Ysơraên khi Đức Chúa Trời giải cứu họ ra khỏi cảnh nô lệ ở Aicập. Môise cũng được biết là đấng ban luật pháp vì ông đã trèo lên núi Sinai để nhận lãnh luật pháp từ Đức Chúa Trời.
b. Trong Xuất Êdíptô ký 33, trong khi trò chuyện với Đức Chúa Trời ở trên núi, Môise đã nói ra một điều mà lòng ông hằng ao ước: “Tôi xin Ngài cho tôi xem sự vinh hiển của Ngài!” (câu 18). Đức Chúa Trời đáp: “Ngươi sẽ chẳng thấy được mặt ta, vì không ai thấy mặt ta mà còn sống” (câu 20). Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã cho phép Môise nhìn thấy “lưng” của Đức Chúa Trời, và Ngài có phán: “nhưng thấy mặt ta chẳng được” (câu 23).
c. Tại sao Môise không thể nhìn xem mặt của Đức Chúa Trời? Ông chưa sẵn sàng. Mặc dù ông đã được cứu và đã được dựng nên một “lòng trong sạch”, ông hãy còn sống trong xác thịt tội lỗi. Chúng ta sẽ không thấy được mặt của Đức Chúa Trời cho tới chừng ngày lớn khi xác thịt tội lỗi của chúng ta không còn nữa và chúng ta đứng trước mặt Ngài trong loại thân thể đã được làm cho vinh hiển.
d. I Giăng 3.2 chép: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy”.
2. Chúng ta có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời bằng cặp mắt thuộc linh.
a. Chúa Jêsus phán: “Ai đã thấy Ta thì thấy Cha”. Giống như người Pharisi trong thế kỷ đầu tiên có thể nhìn thấy sự hoá thân thành nhục thể rất trọn vẹn của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, chúng ta có thể thấy Ngài ngay hôm nay khi Ngài đang tác động trong đời sống chúng ta.
b. Tôi có đọc một bài viết trong tuần nầy về một bé gái, nó đến hỏi một bà trong Hội thánh: “Tại sao bà nhắm mắt khi bà cất tiếng hát thế?" Bà ấy đáp: “Làm thế tôi có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời”. Khi chúng ta đóng tất cả những quyến rũ của thế gian lại và cứ nhắm vào sự thanh sạch, chúng ta nhìn thấy Đức Chúa Trời đang tác động mọi sự ở quanh chúng ta.
c. Chúng ta nhìn thấy Ngài trong GIA ĐÌNH, HỘI THÁNH, CÁC MỐI QUAN HỆ VIỆC LÀM của chúng ta. Một trong niềm vui lớn lao nhất của tôi là nhìn thấy Đức Chúa Trời đang vận hành trong đời sống của bạn. Ngài đang vận hành ở trong bạn đấy!
d. Một trong các đặc điểm quan trọng nhất của Chúa Jêsus không giống như chúng ta, ấy là Ngài không hề đeo mặt nạ. Ngài đã sống rất chân thật. Ngài không che giấu điều gì vì Ngài chẳng có chi để che giấu hết. Ngài kêu gọi chúng ta hiệp tác với Ngài, lột bỏ hết các thứ mặt nạ, vì Ngài đã dựng nên “lòng trong sạch” trong chúng ta, chúng ta phải tập trung vào sự thanh sạch có tính thực hành.
Ngày kia, có vị Mục sư trẻ được người ta hộ tống qua một mỏ than. Ngay lối vào ông trông thấy một đoá hoa trắng thật là đẹp nở ra từ mặt đất đen ngòm. “Làm sao đoá hoa ấy nở ra thanh sạch và rực rỡ như thế trong cái mỏ bẩn thỉu nầy?” nhà truyền đạo hỏi. Người hướng dẫn đề nghị: “Ném một ít bụi than lên hoa ấy rồi ông sẽ thấy”. Khi ông làm theo, ông rất đỗi ngạc nhiên khi thấy những hạt than đen bóng rớt khỏi các cánh hoa trắng như tuyết kia, càng làm cho đoá hoa ra dễ thương và chẳng tì vít chi y như trước đó. Bề mặt của đoá hoa ấy mượt mà đến nỗi những mạt than bụi cũng không thể bám vào đó được. Nếu chúng ta nhận biết Đấng Christ làm Cứu Chúa của chúng ta và sống mỗi ngày đầu phục Ngài, những hạt than bùn bẩn thỉu của thế gian sẽ rơi ra khỏi bạn cho xem. Hãy ném bỏ đi các thứ MẶT NẠ và hãy sống chơn thật trước mặt Ngài.

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Bài 13: Mathiơ 5.7: "PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ HAY THƯƠNG XÓT"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
SỨ ĐIỆP CỦA NHÀ VUA
PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ HAY THƯƠNG XÓT
Mathiơ 5.7
1. Ngày kia, khi Frederick II – một vị Vua của Nước Phổ vào thế kỷ thứ 18 trên chuyến thanh tra một nhà tù ở Bá Linh, các tù nhân đã chào đón ông bằng những tiếng kêu gào, họ quỳ gối xuống và cho rằng sự họ bị nhốt là bất công. Khi lắng nghe những lời biện hộ vô tội nầy, mắt của Frederick nhìn vào một người đang ngồi ở trong góc nhà tù, một tù phạm dường như chẳng quan tâm tới những rối động xung quanh. Frederick đã hỏi ông ta: “Sao ngươi lại ở đây?” “Tâu Bệ Hạ, cướp có vũ trang”. Nhà vua hỏi: “Ngươi có tội không?” “Ồ, thưa có ạ, thực như thế, tâu Bệ Hạ. Tôi hoàn toàn xứng đáng với hình phạt của mình”. Ngay lúc đó, Frederick gọi viên cai ngục đến: “Hãy thả kẻ trọng tội nầy ra ngay lập tức”, vua nói: “Ta không muốn giữ hắn trong nhà ngục nầy, vì ở đây hắn sẽ làm hư hỏng hết hạng người vô tội đang ở trong đó”.
2. Một trong các thuộc tính đáng kinh ngạc của Đức Chúa Trời là ơn thương xót của Ngài. Bài thánh ca: “Thành Tín Chúa Rất Lớn Thay” (Thánh ca 43) trưng dẫn Ca thương 3.22-23: “Ấy là nhờ sự nhân từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt. Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm”. Thi thiên 103.11 chép: “Vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu, Thì sự nhân từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu”. Thi thiên 145.9 chép: “Đức Giê-hô-va làm lành cho muôn người, Sự từ bi Ngài giáng trên các vật Ngài làm nên”.
3. Vì Đức Chúa Trời là giàu có trong sự thương xót, Ngài muốn truyền đạt đức tính ấy vào chúng ta là hạng tôi tớ Ngài. Hãy lưu ý chuỗi tấn triển của Các Phước Lành.
A. Thứ nhất, chúng ta “có lòng khó khăn”, nghĩa đen là “ăn mày thuộc linh”. Giống như người kia ở trong tù, chúng ta càng phải tỉnh thức nhiều về tình trạng tội lỗi của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời. Sự ăn năn bảo đảm cho chúng ta một chỗ trong “Nước thiên đàng” (câu 3).
B. Khi chúng ta nhìn thấy tấm lòng mình là gian ác, chúng ta “than khóc”. Chỉ với thái độ khiêm nhường nầy chúng ta mới được Đức Chúa Trời “yên ủi” (câu 4).
C. Vì cớ sự thay đổi nầy, chúng ta thấy Đức Chúa Trời là thánh khiết và công bình, điều nầy khiến cho chúng ta phải “nhu mì” và hạ mình xuống trước mặt Ngài (câu 5).
D. Còn đây là kết quả khác về sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta: đó là chúng ta “đói khát sự công bình”.
4. Hết thảy các nguyên tắc nầy trong bốn phước lành đầu tiên là các nguyên tắc nội tại ở trong lòng và trí. Bốn nguyên tắc sau cùng là những thay đổi ngoại tại, chúng đến như một kết quả của các nguyên tắc nội tại kia.
I. Ý NGHĨA CỦA SỰ THƯƠNG XÓT.A. Thương xót là LÒNG TRẮC ẨN dẫn tới HÀNH ĐỘNG.1. “Thương xót” ra từ một chữ Hy lạp có nghĩa là: “động lòng trắc ẩn” hoặc “tỏ ra lòng trắc ẩn”. Chúng ta có lòng thương xót khi chúng ta tỏ ra lòng thương xót cho những người đang có cần.
2. Chúa Jêsus là tấm gương cao cả nhất về lòng thương xót. Ngài chữa lành cho kẻ đau, khiến cho kẻ què đi được, ban ánh sáng cho người mù, khiến cho kẻ điếc nghe được, và ban sự sống cho kẻ chết. Ngài yêu thương và tha thứ cho hạng kỵ nữ, người thâu thuế, kẻ say sưa, và những kẻ phạm tội tà dâm. Ngài khóc với người buồn rầu và là đồng bạn với người cô độc. Ngài ẳm bồng con trẻ trong vòng tay rồi chúc phước cho chúng. Ngài là sự hoá thân của lòng thương xót. Êsai 42.3 nói về Ngài như sau: “Người sẽ chẳng bẻ cây sậy đã giập, và chẳng dụt tim đèn còn hơi cháy”.
3. Một trong các hình ảnh nổi bật về lòng thương xót của Ngài là sự cố NGƯỜI ĐỜN BÀ PHẠM TỘI TÀ DÂM (Giăng 8.7-11).
4. Chúa Jêsus có lòng thương xót dân sự vì Ngài yêu thương họ và nhìn thấy các nhu cần lớn lao của họ (9.35-36).
B. Thương xót không phải là LO CHO MÌNH TRƯỚC.1. Có nhiều người giải thích câu nầy theo một cách rất ích kỷ. Họ tìm cách hành động trong sự thương xót với những người sống quanh họ để cho nhiều người khác tỏ lòng thương xót họ. Đây là loại ứng xử: “tay nầy rửa sạch cho tay kia”.
2. Người Pharisi tự xưng công bình tin rằng khi tỏ ra lòng thương xót cho hạng người ăn xin bằng cách bố thí cho họ những thứ mà họ muốn nhắm vào để đổi chác với Đức Chúa Trời.
3. Người có tánh ích kỷ chỉ muốn tỏ ra lòng thương xót và sự tử tế khi họ nghĩ trong đó cũng có cái gì đó cho họ. Tôi tin phần nhiều các nhà chính trị ngày nay đang ủng hộ nhiều chương trình phúc lợi, xã hội chỉ vì họ biết sự ủng hộ ấy đem lại cho họ nhiều lá phiếu từ khu vực của họ.
C. Thương xót còn hơn cả CẢM XÚC nữa.1. Bạn có bao giờ để ý ai đó với một chữ ký rồi nói: “Làm việc vì bánh” hay những đứa trẻ nhỏ rách rưới rồi có cảm giác thương hại chúng không? Có người gọi đấy là cảm xúc lòng trắc ẩn hay lòng thương xót.
2. Thương hại là cảm xúc mà bạn đang cảm nhận. Thương xót là một hành động bạn đang nắm lấy. Thật là dễ nói: “Sao họ không chịu đi làm” hoặc “Tôi nộp thuế cho họ”.
3. Thương hại là một cảm xúc. Thương xót bước vào hành động. Thương xót làm thoả mãn các nhu cần của con người, giúp đỡ ai đó một tay, cho kẻ đói ăn, yên ủi kẻ buồn rầu, tình cảm với kẻ bị chối bỏ và tha thứ cho kẻ phạm lỗi. Thương xót là đức tính đáng yêu nhất trong các đức tính. Có một dòng tương tự từ vở kịch “Tên Lái Buôn Thành Venise” của Shakespeare: “Đức tính thương xót không bị vấy bẩn. Nó nhỏ xuống giống như giọt mưa rơi nhẹ từ trời. Thương xót ban cho chỗ đất bên dưới nó hai lần ơn phước…”.
D. Thương xót là một dấu hiệu của TRẠNG THÁI THUỘC LINH THẬT.1. Trong nhiều xã hội, thương xót bị coi là yếu đuối. Một triết gia La mã đã gọi thương xót là “một căn bệnh của linh hồn”. Đối với người La mã, tỏ ra lòng thương xót nơi chiến trường thì tương đương với hèn nhát.
2. Tỏ ra lòng thương xót vô kỷ không phải là bổn tánh của con người tự nhiên. Đó chỉ là hành động duy nhất của Đức Chúa Trời. Cho nên, chỉ có người tín đồ nào có Đức Thánh Linh ngự bên trong và đầu phục Đức Thánh Linh mới có thể tỏ ra lòng thương xót mà thôi.
3. Ápraham đã hành động trong sự thương xót và giải cứu Lót. Giôsép đã hành động trong sự thương xót, tha thứ và lo nuôi dưỡng các anh em mình. Môise trong sự thương xót đã nài xin Đức Chúa Trời cất bỏ bịnh phung ra khỏi chị mình là Miriam.
II. MINH HỌA VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT.A. Rõ ràng, Chúa Jêsus là tấm gương cao cả nhất trong những ai biết tỏ ra lòng thương xót. Tuy nhiên, trong Luca 10 Chúa Jêsus đã ban ra một thí dụ mô tả rõ ràng thái độ mà mỗi Cơ đốc nhân phải bày tỏ ra. Chúng ta gọi thí dụ ấy là “Người Samari Nhơn Lành”.
B. Trong các câu 25-29, Chúa Jêsus bước vào cuộc trao đổi với một “luật sư” hay một chuyên gia về luật pháp Môise. Người kia nhắc tới luật pháp: “Hãy yêu người lân cận như mình”. Theo một tư thế muốn xưng mình là công bình, ông ta đã hỏi: “Ai là người lân cận tôi?”
C. Chúa Jêsus khi ấy đã minh họa sự thật rằng mọi người đều là “kẻ lân cận” của chúng ta bằng cách kể ra một thí dụ nới tới người: “bị lâm vào tay kẻ cướp”, chúng giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi để người đó lại “nửa sống nửa chết”.
D. Một “thầy tế lễ” không màng đến người nầy cũng giống như người “Lêvi”. Sau cùng, một “người Samari”, là kẻ thù ghét người Dothái đã dừng lại để cứu giúp cho người kia. Tỏ ra lòng thương xót, ông ta đã chăm sóc cho các vết thương của người nầy. Thậm chí ông ta còn đưa người nọ đến “quán trọ” rồi trả tiền phòng, hứa trở lại và trả thêm nếu cần thiết.
E. Khi ấy Chúa Jêsus mới hỏi: “Trong ba người đó, ngươi tưởng ai là lân cận với kẻ bị cướp…?” Câu trả lời rất rõ ràng. Lời đáp của Ngài là: “Hãy đi, làm theo như vậy”.
Tuần lễ nầy tôi nhắm vào một cuộc phiên bản hiện đại của thí dụ nầy:
Có người kia đi xuống Đường Lonesome – một con đường vắng vẻ và tăm tối từ quán trọ của Tom tới tiệm của Bill, ông ta say rượu bị đánh cướp và bị bỏ nằm đó gần chết tại chỗ gọi là Skid Row. Thế rồi có một cấp lãnh đạo tôn giáo khả kính đi tới, ông nầy là vị Mục sư ở nhà thờ kia rất lớn. Ông nhìn thấy người say với cái đầu bê bết máu và vết mửa đầy áo quần của ông ta. Sau khi quyết dịnh người nầy quá say không thể nói chi được về linh hồn của ông ta, vị Mục sư nghĩ xã hội sẽ làm việc chi đó để ngăn ngừa cảnh say sưa như vậy. Ông bèn đi qua phía bên phải cách xa xa như có thể được!
Không bao lâu sau đó, có một người làm việc xã hội cũng tới đến, học vấn của bà ta cho bà ta biết cách chăm sóc con người với đủ loại nan đề riêng hay chung. Bà ta nhìn thấy người say nầy đang nằm sải dài trên đường. Bà ta nhìn chăm ông đó, nhưng lại kết luận rằng mình không đủ sức giúp đỡ hay hy vọng, vì thế bà ta mới tiếp tục đi thẳng đường mình.
Sau một lúc có người kia bị xã hội ruồng bỏ, một tay hippi có mái tóc thật dài, anh ta lái xe xuống đường Lonesome. Mặc dù bị hạng người khả kính ghét bỏ và bị cảnh sát hồ nghi canh chừng, tay hippi nầy đã nhìn thấy người say đang nằm hấp hối. Và khi anh ta nhìn thấy người ấy, anh ta liền bước tới rồi gọi một gã hippi khác có mái tóc dài giống như anh ta đến giúp, và trong khi anh ta nói ra những lời lẽ nhẹ nhàng, anh ta nhấc người nầy lên rồi đưa đến bệnh viện để băng bó vết thương nơi đầu, rồi đưa tới một nơi tạm trú cho người say rượu, ở đó ông ta có thể nhận lãnh sự cứu giúp. Bây giờ thì ai là người lân cận?
F. Từ thí dụ nầy, tôi có thể nghĩ tới ba bài học mà chúng ta có thể tiếp thu về lòng thương xót.1. Thương xót có thể đến từ những nguồn rất bất ngờ.
2. Thương xót ném bỏ qua một bên mọi thành kiến chủng tộc, các dị biệt văn hoá, và tình trạng tự xưng công bình về tôn giáo, rồi bắt tay vào.
3. Thương xót thể hiện một sự hy sinh.
III. MỘT SỐ SO SÁNH VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT.A. Thương xót và TÌNH YÊU THƯƠNG.1. Hãy viết ra chữ “yêu thương” rồi khoanh tròn chữ đó lại. Tiếp đến, hãy viết chữ “thương xót” khoanh tròn lại, rồi vẽ một mũi tên từ “yêu thương” chỉ sang “thương xót” vì thương xót luôn luôn ra từ tình yêu thương.
2. Êphêsô 2.4-5 chép: “Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu”.
3. Yêu thương lớn hơn thương xót. “Tình yêu” là yêu thương khi chẳng có tội lỗi nào để tha thứ hoặc nhu cần nào phải thoả mãn. Trước sự sáng tạo, Đức Chúa Cha đã yêu thương Đức Chúa Con và Đức Chúa Con đã yêu thương Đức Chúa Cha.
4. Tôi yêu gia đình tôi, tôi tiếp trợ cho mọi nhu cần của họ. Cho dù họ chẳng cần thứ chi, tôi vẫn yêu thương họ.
5. Mục tiêu của tôi là phải yêu thương mọi người như Đức Chúa Trời yêu, khi ấy thì tôi mới “giàu lòng thương xót” được. Không có tình yêu thương thì chẳng có lòng thương xót chi cả.
B. Thương xót và SỰ THA THỨ.1. Ở dưới chữ “thương xót” mà bạn đã khoanh tròn, vẽ ra một mũi tên chỉ sang vòng tròn khác. Trong vòng tròn đó hãy viết chữ “tha thứ”. Giống như yêu thương tạo ra lòng thương xót, lòng thương xót sẽ tạo ra sự tha thứ.
2. Sự Đức Chúa Trời tha thứ tội lỗi chúng ta nảy sinh từ lòng thương xót của Ngài. Tít 3.5 chép rằng Chúa Jêsus đã cứu chúng ta: “không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài, bởi sự rửa về sự lại sanh và sự đổi mới của Đức Thánh Linh”.
3. Lòng thương xót của Đức Chúa Trời trỗi hơn tội lỗi chúng ta và phu phỉ từng nỗi yếu đuối và từng nhu cần của chúng ta.
C. Thương xót và SỰ CÔNG BÌNH.1. Bên cạnh vòng tròn “thương xót” vẽ một vòng tròn khác nữa rồi viết “sự công bình” vào đó. Thương xót song hành với sự công bình.
2. Công bình cung ứng chính xác điều chi thích đáng. Lòng thương xót cung ứng không bằng vậy. Khi bạn vi phạm chạy quá tốc độ, bị chặn lại rồi người ta đưa cho một biên lai cảnh cáo, đó không phải là sự công bình, mà đó là sự thương xót.
3. Đức Chúa Trời vừa là công bình, vừa có lòng thương xót. Nếu Ngài chỉ có lòng thương xót thôi, Ngài không thể công bình được. Ngài hình phạt tội lỗi chúng ta qua Đấng Christ trên thập tự giá và rồi trải lòng thương xót trên chúng ta. Lòng thương xót của Ngài luôn sẵn có qua sự nguôi giận.
4. Có một nhận định về sự thương xót giả dối. Trong hệ thống luật pháp của chúng ta thường không có sự công bình cũng như không có lòng thương xót vì chẳng có sự hình phạt cũng như không có sự tha thứ dành cho tội lỗi. Khi tội lỗi được bỏ qua, thì nó hãy còn ở đó. Đó là ân điển rẻ mạt.
5. Đây là lý do tại sao là cần thiết cho một người phải ăn năn hoặc phải “có lòng khó khăn” để được cứu. Đức Chúa Trời xử lý với tội lỗi. Ngài không bỏ qua nó.
IV. NGUỒN CỦA SỰ THƯƠNG XÓT.A. Thương xót lưu xuất ra từ Đức Chúa Trời. Chúng ta chỉ bày tỏ ra lòng thương xót thực khi chúng ta đã được sanh lại, được quyền phép của Đức Chúa Trời thay đổi trong sự cứu rỗi.
B. Hành động thương xót cao cả nhất chính là sự chết của Đấng Christ. Thập tự giá là dấu hiệu lớn lao chỉ về lòng thương xót. Donald Barnhouse đã viết: “Tất cả lòng thương xót mà Đức Chúa Trời từng ban cho con người thì Ngài đã có rồi, khi Đấng Christ chịu chết. Nghĩa là toàn bộ sự thương xót. Không thể có thêm hơn nữa… Dòng suối giờ đây đã rộng mở, nó tuôn chảy và cứ tuôn chảy cách tự do” (MacArthur, p.195).
C. Một bài thánh ca chép: “Lòng thương xót thật là cao cả và ân điển thật tự do; có sự tha thứ thật rời rộng cho tôi; tại đồi Gôgôtha, linh hồn nặng nề của tôi đã tìm được sự tự do!”
V. CÁCH THỂ HIỆN LÒNG THƯƠNG XÓT.A. Chúng ta thể hiện lòng thương xót bằng cách tỏ lòng YÊU THƯƠNG đối cùng người khác.
1. Thương xót là một cảm xúc về lòng thương hại, nhưng nó phải hơn cả một cảm xúc, sự cảm thương của nó phải nằm trong hành động. Đó là một thái độ giống như thái độ của Đấng Christ là Đấng luôn đặt người khác lên trên hết.
2. Khi chúng ta đọc về các loại tội phạm, những kẻ say sưa và tiêm chích ma túy, kẻ cưỡng dâm, du đảng, và hạng người gạ gẫm trẻ em, chúng ta cần phải nhớ rằng chỉ bởi ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta mới không có mặt giữa vòng họ.
3. Chúng ta than khóc khi linh hồn của người thân lìa khỏi xác, nhưng chúng ta cần phải có lòng thương hại thật đối với hạng người đang mất linh hồn trong chính thân thể hư mất của họ.
B. Chúng ta thể hiện lòng thương xót bằng cách CẦU THAY cho người khác.
1. Chúng ta học biết nhiều về các ưu thế của chúng ta bằng cách chúng ta cầu nguyện. Từ thập tự giá Chúa Jêsus đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ chẳng biết mình làm điều gì” (Luca 23.34). Êtiên đã cầu thay cho những kẻ đã ném đá ông: “Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy trên họ” (Công vụ các sứ đồ 7.60).
2. Bạn đang cầu thay cho hạng người hư mất nào!?! Bạn có thể ghi ra 5 tên của những người không có Đấng Christ mà bạn đang cầu thay cho họ mỗi ngày?
C. Chúng ta thể hiện lòng thương xót bằng cách RAO GIẢNG tin lành cho người khác.
1. Tôi biết có những người đang đói khát, họ cần sự cứu giúp thắng hơn men rượu và cơn ghiền ma tuý, có những người với hàng trăm nhu cầu khác, dù vậy nhu cầu chính trong từng đời sống là Tin lành!
2. Rao giảng Tin Lành là hành động thương xót lớn lao nhất. Hành động ấy mang lại sự sống từ sự chết, hy vọng từ thất vọng, và vui mừng từ buồn rầu.
3. Hội thánh nầy cần phải tiếp thu nhiều từ Tin lành!
Một nhóm người ở Alabama được một người thoái chí, say sưa, thất nghiệp mời đến để xem ông ta tự thiêu. Một kỹ thuật viên chụp ảnh và âm thanh đáp ứng lại lời mời đó phải chọn giữa hai vai trò khi ngọn lửa bắt đầu. Họ có thể quay phim sự cố nầy như những người quan sát vô tư, hoặc họ phải dập ngọn lửa. Trong 37 giây cả nhóm người đứng quan sát người kia đang bốc cháy. May thay, có một nhân viên cứu hỏa tình nguyện đang đứng xem ngọn lửa. Nếu bạn nhìn thấy người kia đang bốc cháy, bạn sẽ đứng lui lại, quan sát hay cứu người đó? Nếu bạn thấy một người sắp chết và đi địa ngục, bạn có tìm cách để cứu người đó chăng?
VI. KẾT QUẢ CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT.A. Người nào có lòng thương xót “sẽ được thương xót”.
1. Lòng thương xót ấy không ra từ con người. Bạn có thể có lòng thương xót đối cùng người khác suốt cuộc đời bạn và không bao giờ kinh nghiệm sự thương xót ra từ người khác.
2. Chúng ta “được thương xót” từ Đức Chúa Trời. Ngài có lòng thương xót khi giải cứu chúng ta. Khi chúng ta có lòng thương xót đối cùng người khác, đổi lại Ngài càng thương xót chúng ta càng thêm, làm phu phỉ các nhu cần của chúng ta và cầm giữ lại sự Ngài hình phạt tội lỗi.
B. Chỉ có người “có lòng thương xót” mới “được thương xót” từ Đức Chúa Trời.
1. Đavít nói: “Kẻ hay thương xót, Chúa sẽ thương xót lại” (II Samuên 22.26).
2. Giacơ 2.13 chép: “Sự đoán xét không thương xót kẻ chẳng làm sự thương xót”.
3. Ở cuối lời cầu nguyện mẫu, Chúa Jêsus phán: “Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi”.
4. Chúng ta không kiếm được ơn cứu rỗi bằng cách tỏ ra lòng thương xót. Chúng ta được cứu bởi ơn thương xót của Đức Chúa Trời và nhận lãnh ít hay nhiều sự thương xót của Ngài do hành động của chúng ta đối cùng những người khác.
5. Chúa Jêsus minh họa lẽ thật nầy trong Thí dụ nói về Người Đầy Tớ Không Có Lòng Thương Xót (Mathiơ 18.23-35). Nếu chúng ta sau khi nhận lãnh ơn thương xót của Đức Chúa Trời, lại thất bại không tỏ ra lòng thương xót đối cùng những người khác, giống như con cái cứng đầu, chúng ta sẽ bị Đức Chúa Trời kỷ luật.
PHẦN KẾT LUẬN: NGAY BÂY GIỜ, LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐANG SẴN CÓ CHO MỌI NGƯỜI!!! BẠN CHƯA ĐƯỢC CỨU SAO?
Khi Robert G. Ingersoll là người vô thần đang đưa ra những bài thuyết giảng của mình chống lại Đấng Christ và Kinh Thánh, khả năng lý luận của ông ta thường bảo đảm cho ông ta luôn luôn có một đám đông người đến nghe. Một tối kia, sau một bài thuyết giảng rất kích động, trong đó ông đã công kích đức tin của một người đặt nơi Cứu Chúa, ông ta đột nhiên ngưng lại rồi nói: “Tôi dã dành cho Đức Chúa Trời một cơ hội để minh chứng rằng Ngài đang hiện hữu và là Đấng Toàn Năng. Tôi thách Ngài đánh tôi chết trong vòng 5 phút đi”. Trước tiên, có một sự im lặng, kế đó người ta thấy khó chịu ngay. Một số người rời bỏ giảng đường, không thể để cho thần kinh mình bị căng thẳng, rồi một phụ nữ bị ngất đi. Ở cuối thời điểm thách thức đó, nhà vô thần lên tiếng nhạo báng: “Hãy xem đi! Chẳng có Đức Chúa Trời đâu hết. Tôi vẫn còn sống nhăng đây!” Sau bài giảng đó một thanh niên đến nói với một phụ nữ Cơ đốc: “Hay đấy, Ingersoll chắc chắn đã minh chứng một việc rất hay tối hôm nay!” Bà nầy đáp lại thật nhẹ nhàng: “Phải, đúng đấy, ông ta đã chứng tỏ rằng ngay cả tội nhân bẩn thỉu nhất không thể tát cạn được lòng thương xót của Chúa trong vòng 5 phút được!” Nếu một người chạy ra đứng phía trước chiếc xe của bạn, bạn sẽ đụng anh ta hoặc hành động trong sự thương xót? Ơn thương xót của Đức Chúa Trời vẫn còn đang rộng mở đấy thôi!