Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

Bài 18: Mathiơ 5:17-26: "Những Việc Quan Trọng ..."

MATHIƠ – VUA CÁC VUA
SỨ ĐIỆP CỦA NHÀ VUA
Những việc
quan trọng
cần phải giải quyết
trước cả những điều
quan trọng khác
Mathiơ 5.17.26

1. Các nhà truyền đạo thật là sốt sáng. Chúng ta nghe những lời phê phán như: “Việc làm gì mà kỳ vậy, bạn chỉ làm mỗi tuần có một ngày thôi ư!” hoặc “Tôi muốn dân sự cần phải nghe bài giảng được rao ra ở đây”. Chúng ta nghe kể nhiều câu chuyện giống như câu chuyện kể trong ngày Chúa nhật nhạt nhẽo đến nỗi chỉ có một cụ già chuyên nuôi gia súc hưởng ứng mà thôi. Sau khi vị Mục sư giảng xong sứ điệp của mình, cụ già lẩm cẩm kia mới nói: “Mục sư ơi, khi chỉ có một con bò phải nuôi ăn, tôi không dành cho nó cả chiếc xe tải đâu!” Chúng ta nghe thấy những lời phê phán về sự dài dòng, nhạt nhẽo, giọng nói đều đều, hay lặp đi lặp lại… Sự thật đáng buồn về những điều chúng ta nghe nói đều là thực cả. Có một lý do cho điều đó.
2. Thường thì giảng có nghĩa là một vị Mục sư đọc một đoạn Kinh Thánh, rồi trong một lúc đưa ra ý kiến riêng của mình, dù thích hay không thích quan điểm chung của thế gian. Thêm vào đó là những lời khuyên phải trở nên người tốt, yêu thương nhau, dâng tiền bạc, và đưa dắt người bị hư mất. Loại rao giảng nầy không có quyền lực chi hết vì nhà truyền đạo chỉ nói về Lời của Đức Chúa Trời, ông ta không rao giảng Lời ấy.
Trong một bài viết có đề tựa là: “Giá trị của việc giảng dạy” (The Value of Expository Preaching and Teaching), Roger Johnson than phiền như sau: “Thường thì người ta đọc một đoạn Kinh Thánh cho hội chúng nghe, giống một bài quốc ca tấu lên trong các trận đấu thể thao vậy. Nó thúc đẩy mọi việc khởi động, nhưng nó chẳng dính dáng gì tới bài học cả. Thẩm quyền ở đàng sau việc rao giảng không nằm ở nhà truyền đạo, mà nằm trong các phân đoạn Kinh Thánh”.
3. Việc rao giảng chỉ có quyền lực khi nhà truyền đạo để cho Lời của Đức Chúa Trời thể hiện sự sống động. Đức Thánh Linh xức dầu cho loại sứ điệp nầy rồi điều khiển sứ điệp nhập tâm người nghe theo các phương thức mà nhà truyền đạo không mong đợi hoặc hiểu thấu. Việc giảng dạy Kinh Thánh là Kinh Thánh được tỏ ra qua nhân cách của nhà truyền đạo. John Scott có nói: “Nhà truyền đạo phải trở nên nhịp cầu bắc giữa Lời Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài”.
4. Kinh Thánh đầy dẫy với những hình ảnh của các nhà truyền đạo nảy lửa. Có Giêrêmi đang khóc than khi ông rao giảng về tội lỗi của dân Ysơraên. Giôna – nhà truyền đạo lưỡng lự từng tạo ra “cuộc đổ bộ” đầu tiên từ dưới nước. Giăng Báptít trong bộ đồ kỳ cục đến rao giảng bên sông Giôđanh. Phierơ đã kêu gọi đoàn dân đông trong dịp Lễ Ngũ Tuần hãy ăn năn. Phaolô đã dẫn giải sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời với những con người tri thức giả tạo trên đồi Mars ở thành Athens. Tuy nhiên, không một người nào trong số các nhà truyền đạo nầy, sự rao giảng của họ có thể sánh với sự rao giảng của Đức Chúa Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời.
5. Đừng quên rằng Mathiơ 5-7 là một bài giảng. Chúng ta có thể đọc lời lẽ của phân đoạn nầy theo cách ôn tồn, nhưng Chúa Jêsus đã giảng dạy bằng quyền phép được Đức Thánh Linh xức dầu. Hãy chú ý lời bình ở cuối bài giảng trong 7.28-29.
6. “Bài Giảng Trên Núi” nầy đã bắt đầu với “Các Phước Lành” ở các câu 3-12, chúng mô tả các đặc điểm trong đời sống của một người tin Chúa. Kế đó Chúa Jêsus đã phán về việc trở nên “muối”“sự sáng” trong các câu 13-16. Điều nầy có ý nói đến ảnh hưởng của người tin Chúa trên người khác. Trong phân đoạn nầy và phần còn lại của chương, Chúa Jêsus dạy chúng ta về Kinh Thánh, là kim chỉ nam của đời sống tín đồ.
7. Hãy xét qua cùng với tôi ba nguyên tắc Kinh Thánh không thể chối cãi được.

I. KINH THÁNH CHUYÊN VỀ NỘI TẠI, CHỚ KHÔNG CHUYÊN VỀ NGOẠI TẠI (các câu 17-20).
A. Thẩm quyền của Kinh Thánh rất quan trọng.
1. Khi chúng ta nói tới Thẩm Quyền của Kinh Thánh, chúng ta muốn nói rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời thánh khiết, có uy quyền, vô địch, không thể tranh cãi. Lời ấy không thể sai sót, và cảm thúc.
2. Lời lẽ của Chúa Jêsus đặc biệt quan trọng vì là Đức Chúa Trời, lời dạy của Chúa Jêsus là sự truyền đạt trực tiếp từ môi miệng của Đức Chúa Trời cho tấm lòng của con người. Hêbơrơ 4.12 chép: “Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm”.
3. Trong thời của chúng ta, có nhiều người xưng mình là Cơ đốc nhân đã đem lòng hồ nghi về thẩm quyền của Kinh Thánh. Là một Cơ đốc nhân, sao lại hồ nghi về Kinh Thánh chứ?.
B. Mối quan hệ của Chúa Jêsus với Kinh Thánh (các câu 17-18).
1. Không nghi ngờ chi nữa, sau khi nghe Các Phước Lành và sự dạy về “muối” , “sự sáng”, một số khán thính giả bắt đầu lấy làm lạ vì Chúa Jêsus dạy như có thẩm quyền của Kinh Thánh. Liệu Ngài có phải là thầy chữa lành đã xuất hiện để đương diện với lối sống buông thả của họ không? Đấy là lý do tại sao Chúa Jêsus phán: “Đừng tưởng ta đến để huỷ diệt luật pháp hay lời tiên tri”.
2. Mệnh đề “Luật pháp và lời tiên tri” đã được sử dụng khắp Tân ước để nói tới toàn bộ Cựu ước.
3. Chúng ta đang sống trong thời buổi mà người ta muốn gạt Kinh Thánh qua một bên và tin phần nầy và chối bỏ phần kia. Chúa Jêsus phán rằng Ngài đến không phải để huỷ diệt bất cứ phần nào. Ngài không huỷ phá “luật pháp và lời tiên tri”.
4. Ngài đến không phải “phá, song để làm cho trọn”. Hãy chú ý thể nào Các Phước Lành đều nói tới ngôi thứ ba (Phước cho những kẻ…”). Tiếp đến Chúa Jêsus mới nhấn mạnh ngôi thứ hai (“Các ngươi là muối… Các ngươi là sự sáng…”). Trong câu 17, Ngài phán trong ngôi thứ nhất: “Ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn”.
5. Chúa Jêsus đã làm ứng nghiệm Cựu ước theo 2 cách.
a. Thứ nhất, Ngài là sự ứng nghiệm các lời hứa của Cựu ước. Ngài là Đấng Mêsi mà Cựu ước đã nói trước trong nhiều cách thức khác nhau.
b. Thứ hai, Ngài là sự ứng nghiệm Cựu ước vì Ngài thể hiện trọn vẹn mọi đòi hỏi đạo đức của Cựu ước. Chúa Jêsus “vốn chẳng biết tội lỗi” (II Côrinhtô 5.21). Êsai 42.3 chép: “Người sẽ chẳng bẻ cây sậy đã giập, và chẳng dụt tim đèn còn hơi cháy”.
6. Chúa Jêsus hứa rằng mọi điều trong luật pháp sẽ “được ứng nghiệm”.
a. Chữ “chấm” tiêu biểu cho dấu nhỏ nhất trong mẫu tự Hybálai. Dấu nầy giống như dấu móc đơn vậy.
b. Chữ “nét” là một dấu nhỏ hơn. Giống như nét gạch ngang giữa hai chữ vậy.
c. Chúa Jêsus đang nói rằng Ngài tin vào Thẩm Quyền của Kinh Thánh thậm chí từng chấm từng nét một.
d. J.B. Phillips dịch: “Ta bảo đảm với các ngươi rằng, trong khi trời đất chưa qua đi, luật pháp sẽ không mất đi một dấu chấm hay dấu phết nào cho tới chừng mục đích của Kinh Thánh đã được trọn”.
7. Sẽ có một ngày khi “trời đất qua đi”. Hãy chú ý Chúa Jêsus đã phán “cho đến khi” chúng qua đi. Bao lâu chúng ta còn sống trong thế giới tội lỗi nầy, Kinh Thánh sẽ còn là một bằng chứng cho sự công bình của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, một ngày kia sẽ không còn cần tới Lời Đức Chúa Trời nữa. II Phierơ 3.13 chép: “Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, là nơi sự công bình ăn ở”.
C. Mối quan hệ của người tin Chúa với Kinh Thánh (các câu 19-20).
1. Hãy chú ý hai từ chính trong câu 19, “huỷ”“dạy”. Người nào “dạy” Lời của Đức Chúa Trời không phải là kẻ “huỷ” các điều răn của Đức Chúa Trời. Khi làm như thế, người ấy sẽ được gọi là “cực nhỏ trong nước thiên đàng”. Người sẽ có mặt trong nước thiên đàng, nhưng người sẽ chẳng có phần thưởng nào hết.
2. Ngược lại, người nào “giữ” theo ý muốn của Đức Chúa Trời rồi “dạy” Lời của Đức Chúa Trời sẽ được xưng là “lớn” trong nước của Đức Chúa Trời. Người sẽ được ban thưởng lớn lắm. Chúa Jêsus muốn chúng ta sống theo những điều chúng ta tin, ăn ở theo điều chúng ta nói!
3. Trong câu 20, Chúa Jêsus dạy rằng “sự công bình của chúng ta” phải trỗi hơn sự công bình của “các thầy thông giáo và người dòng Pharisi”.
a. “Các thầy thông giáo và người dòng Pharisi” là các cấp lãnh đạo trong thời đó. Họ ăn mặc trông rất tôn giáo, hành động trong một tư thế rất kỉnh kiền, và ăn nói bằng các âm điệu tôn giáo. Thường dân rất sợ họ.
b. Về bề ngoài, họ có đủ mọi thứ ấy. Còn bề trong, họ sống rất là tội lỗi. Chúng ta hãy để ý 15.7-9; 23.13-16a, 23-28…
Khi tôi còn nhỏ, tôi thường nhận ra những người chuyên nuôi heo để triển lãm. Họ rối lên với bầy heo trong nhiều tháng trời trước cuộc triễn lãm. Chúng được tắm rửa, chải lông, làm cho sạch sẽ để đi dự triển lãm. Tuy nhiên, khi chúng trở về với nông trại, chúng liền nhảy ngay vào vũng xình. Heo là heo vô luận chúng có được tắm rửa sạch sẽ đến ngần nào. Cũng một thể ấy, tội nhân là tội nhân vô luận bề ngoài có tôn giáo đến đâu đi chăng nữa!
4. Chúa Jêsus đang rao giảng rằng trừ phi đức tin của chúng ta trước hết là nội tại, chân thực, dù bề ngoài của chúng ta có ra sao đi nữa, vì chúng ta “chẳng có phương tiện gì để vào trong nước thiên đàng”.

II. GIẾT NGƯỜI THƯỜNG BỊ PHẠT BẰNG NGÔI LỜI, CHỚ KHÔNG BỊ PHẠT BẰNG GƯƠM GIÁO (các câu 21-22).
Trong các câu 17-20, Chúa Jêsus đã nói ra các giới hạn chung chung về Lời của Đức Chúa Trời. Trong phần còn lại của chương, Ngài sẽ tỏ ra cho chúng ta thấy rất đặc biệt SỐNG theo sự dạy của Kinh Thánh có ý nghĩa như thế nào! Ngài bắt đầu ở đây với quan niệm GIẾT NGƯỜI. Trong câu 27, Ngài phán về TỘI TÀ DÂM. Trong câu 31, Ngài dạy về SỰ LY DỊ. Trong câu 33, Ngài dạy về SỰ THỀ THỐT. Trong câu 38, Ngài dạy về SỰ ĂN MIẾNG TRẢ MIẾNG. Trong câu 43, Ngài dạy về TÌNH YÊU THƯƠNG. Trong mỗi chỗ đó, Chúa Jêsus phán: “Các ngươi có nghe lời phán rằng… Song ta phán cho các ngươi biết…”.
A. Cựu ước dạy “Ngươi chớ giết người” và luật dân sự dạy rằng một người sẽ “bị toà án (của dân sự) xét đoán”.
1. “Ngươi chớ giết người” ra từ 10 Điều Răn (Xuất Êdíptô ký 20.13). Điều nầy có nghĩa là đã dự tính trước cướp lấy mạng sống của người khác.
2. Khi thời gian trôi qua, luật dân sự thêm “bị toà án xét đoán” cho tội phạm. Người dòng Pharisi dạy như vậy.
B. Chúa Jêsus còn đi xa hơn các điều răn ngoại tại đến với bên trong tấm lòng. Lời lẽ của Ngài trong câu 22 tiệm tiến lên cao dần. Ngài đề ra ba bản cáo trạng.
1. Thứ nhất, Ngài phán: “Hễ ai giận anh em mình thì đáng bị toà án xử đoán”. Đây là cơn giận vượt quá các lằn ranh cho phép. Êphêsô 4.26 chép: “Ví bằng anh em đang cơn giận, thì chớ phạm tội”. Giận “không lý do” là cơn giận không công bình, nó ra từ một tâm linh cay đắng. Người nầy sẽ bị đưa ra “toà” hay toà án dân sự.
2. Thứ hai, Ngài phán: “Ai mắng anh em mình rằng: Raca, thì đáng bị toàn công luận xử đoán”. “Raca” là môt từ Aram có nghĩa là “cái đầu trống rỗng”. Chúng ta sử dụng các từ ngữ tương tự “đần độn, ngốc nghếch…”. Khi bạn nỗi giận đủ với ai đó, rồi suy nghĩ hay nói: “Mày là thằng ngốc trí óc không bình thường!” Bạn đã đi quá xa rồi.
3. Thứ ba, Ngài phán: “Ai mắng anh em mình là đồ điên! Thì đáng bị lửa địa ngục hành phạt”.
a. “Đồ điên” ra từ chữ moros, từ đó chúng ta mới có chữ “moron”, nghĩa là “khờ dại, thoái hoá”. Trong thời buổi đó, chữ nầy được dùng để mô tả ai đó đã phá sản về mặt đạo đức.
b. Khi cho rằng ai đó về mặt đạo đức là một sự thất bại hoàn toàn, và vô dụng cho Đức Chúa Trời hay cho con người, là tự lập mình làm quan án, mà thực sự chúng ta không phải là quan án.
c. Người nào nói như vầy, sẽ không nhất thiết phải đi địa ngục, song “đáng bị lửa địa ngục hành phạt”. Một hành động như vậy là tội lỗi sẽ khiến cho người ta đi địa ngục.
C. Giận khó mà tự chủ được.
Trong tuần nầy, tôi sẵn sàng rời Hội thánh để đi một chuyến qua đêm khi một trong các em học sinh quyết định quấy rối tôi. Tôi đã thất bại, không kềm được và đã nổi giận dữ lên. Khi tôi trở về, tôi đến xin lỗi em đó.
1. Giận như thế đủ xấu rồi, nhưng khi chúng ta lộ ra sự giận đó, thì giống như nhắm khẩu súng vào đầu ai đó hoặc đâm ngay tim họ. Lời nói của chúng ta trong cơn giận có thể giết chết tâm linh của người khác.
2. Có khi chúng ta bị cám dỗ mà suy nghĩ: “Nó đáng phải chịu như thế” hay “Tôi nói mà, đáng đời lắm”. Nếu chúng ta thực sự muốn sống một đời sống Cơ đốc, chúng ta đừng bao giờ lộ ra cơn giận dữ.
Clarence Darrow - một vị luật sư nổi tiếng về tội phạm nói: “Mỗi người là một tên giết người có khả năng. Tôi chưa giết ai, nhưng tôi thường thấy thoả lòng khi nghe tiểu sử của người chết”. I Giăng 3.15 chép: “Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người; anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình”.

III. NHỮNG CUỘC TRANH CÃI NÊN HƯỚNG VỀ SỰ LÀM HOÀ, CHỚ ĐỪNG HƯỚNG TỚI SỰ TRẢ THÙ (các câu 23-26).
Chúa Jêsus giảng về việc làm cho những cuộc tranh cãi phải êm đi. Ngài đưa ra cho chúng ta 2 ví dụ. Bối cảnh tôn giáo là ví dụ thứ nhất, “bàn thờ” trong các câu 23-24. Bối cảnh thứ hai là với “kẻ nghịch”.
A. Sự hoà thuận trong Hội thánh (các câu 23-24).
1. Chúa Jêsus phán rằng nếu bạn “dâng của lễ nơi bàn thờ” và trong khi bạn có mặt ở đó bạn “nhớ lại anh em có điều gì nghịch cùng mình” bạn phải “để của lễ trước bàn thờ” rồi “trở về giảng hoà với anh em” trước khi bạn “đến dâng của lễ”.
2. Hãy hình dung ra bối cảnh nầy. Bạn đến nhà thờ, nhưng khi buổi thờ phượng bắt đầu, bạn nhớ lại mình đã mắc lỗi trong cả tuần lễ. Bạn không thể tập trung vào sự cầu nguyện hay ca hát vì Đức Thánh Linh đang thuyết phục bạn về tội lỗi của bạn. Vậy thì bạn cần phải đứng dậy, trở lại nơi xe rồi đến gặp người đó mà làm hoà lại.
3. Người ấy có thể là một người bạn, một người cùng làm ăn, một nhân công, một tín hữu, một người bạn đời, một đứa con, một…
4. Khi bạn làm hoà xong, như Swindoll nói: “Mục tiêu của quý vị là đổi thù thành bạn”. Việc nầy phải làm ngay lập tức thôi.
5. Nếu bạn không làm hoà, bạn đang bất tuân đối với Đức Chúa Trời và thêm nhiều việc vô tích sự vào đời sống của bạn. Sự mất lòng ấy chỉ quấy rối và tạo ra sự cay đắng mà thôi.
6. Bạn không thể hoà lại với Đức Chúa Trời nếu không làm hoà với người khác.
Khi Leonardo da Vinci đang vẽ bức Tiệc Thánh, ông có một sự tranh cãi ghê gớm lắm với một hoạ sĩ kia. Leonardo đã giận đến nỗi ông quyết định vẽ khuôn mặt kẻ mình ghét thành khuô mặt của Giuđa. Làm như thế khuôn mặt của vị hoạ sĩ bị ghét kia sẽ được giữ luôn trong khuôn mặt của người môn đồ có tánh phản bội. Khi Leonardo đã vẽ xong Giuđa, ai nấy dễ nhận ra khuôn mặt của vị hoạ sĩ kia với người mà Leonardo đã cãi cọ. Ông cứ tiếp tục làm công việc vẽ tranh của mình. Nhưng khi ông cố gắng càng nhiều, ông không thể vẽ được khuôn mặt của Đấng Christ. Có cái gì đó đã giữ ông lại, không vẽ được. Sau cùng ông quyết định thái độ thù ghét của mình đối cùng vị hoạ sĩ kia chính là vấn đề. Ông đã làm việc qua thái độ thù ghét bằng cách hoạ khuôn mặt của Giuđa, ông thay thế mặt của người bạn hoạ sĩ của mình thành một khuôn mặt khác. Chỉ khi đó ông mới có thể hoạ được khuôn mặt của Chúa Jêsus và hoàn thành kiệt tác ấy.
B. Làm hoà với người thế gian (các câu 25-26).
1. Chúa Jêsus cũng khuyên chúng ta phải “lập tức hoà với họ, khi đi đường với kẻ nghịch mình”. nói cách khác, chúng ta phải luôn luôn tìm cách “đừng ra toà”.
2. Chúng ta bị cám dỗ khi nghĩ rằng vì chúng ta đối xử với người không tin Chúa không làm hoà cũng không sao. Không phải như vậy đâu. Dân sự của Đức Chúa Trời cần phải sống cho Đức Chúa Trời ở trước mặt mọi người.
3. Chúng ta sống trong thời buổi thường hay kiện cáo. Người ta rất muốn kiện tụng nhau. Có phải bạn không? Có phải bạn có tên tuổi của vị luật sư trên danh bạ điện thoại của mình? Tôi mong là không có.
4. Lý do chúng ta không làm hoà là vì sự kiêu ngạo. Chúa Jêsus nhắc cho chúng ta nhớ trong phần cuối của câu 25 và câu 26 rằng có khi quan toà không nhìn sự việc theo cách nhìn của mình.
5. Sự kêu gọi của Đức Chúa Trời cho đời sống chúng ta là phải làm hoà chớ không phải ăn miếng trả miếng.
PHẦN KẾT LUẬN:
1. Các nguyên tắc của Kinh Thánh trước nhất không phải ngoại tại, mà là nội tại. Tôn giáo bề ngoài, giống như bề ngoài của người dòng Pharisi vốn không có hậu. Thực ra bề ngoài đó sẽ đưa bạn xuống địa ngục mà thôi. Bạn có đức tin chân thật không?
2. Những lời nói giận dữ có thể giết chết tâm linh của người khác. Phải biết kềm chế tánh khí của bạn. Hãy coi chừng lời lẽ châm biếm. Hãy quyết định để cho Đức Chúa Trời giúp bạn thắng hơn tật nói năng trong lúc giận dữ.
3. Khi có sự lỗi gì, hãy tìm cách làm hoà lại, chớ đừng báo thù. Hãy làm theo y như thế. Đừng quá nhỏ nhen. Đừng để cho sự cay đắng ngấm sâu trong linh hồn bạn như một sự nguội lạnh bám chặt mãi không chịu buông ra. Hãy thu nhận cho mình một lượng lớn các đức tính tốt trong Lời của Đức Chúa Trời.
Kinh Thánh cung ứng cho con người sự dẫn dắt mà người cần vì đó là Lời bất biến của Đức Chúa Trời, có ích cho mọi lứa tuổi và mọi thế hệ. Tôi từng đọc về một vị nhạc sĩ, ông nầy đi gặp vị giáo sư nhạc của mình đã luống tuổi rồi. Trong khi thăm viếng, ông thầy nhiều kinh nghiệm kia đánh vào thanh âm rồi nói: “Đó là nốt LA”. Ngay lúc đó, từ dưới nhà có tiếng hát của người ca sĩ. “Cô ấy hát the thé”, vị giáo sư già kia nói. Ông dừng trong một lúc, rồi phát lại thanh âm kia một lần nữa. Lần thứ hai ông gõ thanh âm ấy, ông nói: “Đây là nốt LA. Luôn luôn là như vậy, luôn luôn với 400 lần nó rung trong một giây đồng hồ. Từ bâu giờ cho tới 5.000 năm nữa cũng y như thế”. Và cũng một thể ấy với Lời của Đức Chúa Trời: Lời ấy bền vững và không hề thay đổi.


Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Bài 17: Mathiơ 5:13-16: "Một Ảnh Hưởng Sáng Chói, Làm Lay Chuyển"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
SỨ ĐIỆP CỦA NHÀ VUA
Một ảnh hưởng sáng chói,
làm lay chuyển

Mathiơ 5.13-16

1. Trong thành phố nhỏ kia có một thứ máy đã làm bật ra một số đòi hỏi về ngân sách của thành phố hầu mở rộng hoạt động của nó. Đã có một số chống đối như thường lệ, họ cho rằng công ty chẳng có quan trọng chi hết, và thành phố sẽ hoạt động bình thường mà chẳng cần tới sự hiện diện của máy móc đó. Để chỉ ra ảnh hưởng của nó, công ty có ý định trả lương cho công nhân bằng đôla bạc thay vì tiền mặt. Những đồng đôla bạc đã bắt đầu lưu hành ở quầy thu tiền của các cửa hàng, ở các trạm xe bus, nhà hát và v.v… Ở đâu có những đồng đôla bạc lưu hành, chúng ta cũng dễ dàng trong cách chuyển đổi. Ảnh hưởng của công ty được công chúng biết tới nhiều hơn, và sự chống đối kia đã rút lại.
2. Bạn mô tả “ảnh hưởng” như thế nào? Tự điển Webster định nghĩa theo cách nầy: “Khả năng tạo ra một hiệu quả theo cách gián tiếp hay không thể nắm bắt được”. Quả là mơ hồ, có phải không? Tôi nghĩ ảnh hưởng là: “khả năng khiến cho ai đó nhìn thấy sự việc theo quan điểm của bạn”.
3. Nếu người ta đến yêu cầu bạn liệt kê ra một người nào đó có ảnh hưởng chẳng hạn, bản danh sách của bạn phải bao gồm những vị Tổng Thống, các nhà học giả, Tướng lãnh, những chính trị viên cùng những người (nam và nữ) có quyền thế khác chẳng hạn. Tuy nhiên, nếu bạn suy nghĩ về bảng danh sách ấy, một số người có ảnh hưởng nhất ít ra là người bị để ý hay được tán thưởng nhiều nhất.
A. Một người mẹ vốn kiên nhẫn yêu thương và dạy dỗ con cái của bà. Một người cha, chẳng có quyền thế cũng không có danh vọng gì cả, nhưng dạy dỗ con cái của mình bằng cách nêu cho chúng một tấm gương tin kính, bền đỗ.
B. Một huấn luyện viên thể thao trong trường đại học chuyên tâm vào việc gây dựng những người nam người nữ hơn là gây dựng tên tuổi cho chính mình.
C. Một vị giáo viên Trường Chúa Nhật nhìn thấy những học viên trẻ tuổi của mình không những là hạng ngôi sao trên bảng điểm, mà còn là những nhà lãnh đạo thuộc linh trong tương lai nữa.
D. Một người lân cận trầm lặng luôn luôn đi nhà thờ đều đặn vào ngày Chúa nhật và luôn luôn bằng lòng chìa tay ra giúp đỡ, cho một món đồ, hay lấy thư dùm.
4. Có khả năng người có ảnh hưởng nhất trong đời sống bạn là Cơ đốc nhân. Hãy xem lại các đức tính của người tin Chúa trong 8 phước lành (các câu 3-12). Người nào sống như thế không thể giúp chi được, song đang ảnh hưởng vào nhiều người khác!
5. Đây là một câu hỏi khó: Có phải bạn đang ảnh hưởng người khác vì cớ Đấng Christ không? Có phải đức tin bạn giống như những đồng đôla bạc trong thành phố nhỏ kia chăng? Ảnh hưởng ấy có rõ ràng trong từng chi tiết của đời sống bạn chăng?
6. Trong phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta, Chúa Jêsus chỉ ra cho chúng ta thấy hai cách để ảnh hưởng vào người khác, lắc một ít muối và chiếu ra một ít sự sáng.

I. LẮC MỘT ÍT MUỐI (câu 13).
A. Những người tin Chúa là “muối của đất”. Muối góp phần ít nhất ba mục đích.
1. Thứ nhất, muối có tính cách bảo tồn.
a. Trước thời kỳ có tủ lạnh, thịt được sắp thành từng lớp ướp muối để bảo tồn thịt cho tới chừng nó được đem ra dùng.
b. Trong thời kỳ khai phá, các tổ phụ chúng ta đã băng ngang qua phía Tây mang theo thịt đã được ngâm trong nước muối để bảo tồn nó cho lâu dài như có thể được.
c. Thậm chí tôi có nghe nói tới một nhà kho hiện đại ở Kansas, ở đây mọi thứ từ tài liệu của toà án tới phim ảnh gốc đã được lưu giữ trong một hình thức ướp muối.
d. Cơ đốc nhân lo bảo tồn xã hội. Chúng ta thối lui trước điều ác và chống lại tội lỗi. Hãy tưởng tượng một thế giới chẳng có ảnh hưởng của Cơ đốc nhân xem.
2. Thứ hai, muối làm cho có thêm mùi thơm. Bạn biết rõ là chỉ trộn một ít muối sẽ làm cho có thêm mùi thơm cho một đĩa thức ăn. Muối làm thêm một chút “ngon lành” cho thức ăn của chúng ta. Cơ đốc nhân luôn luôn đối diện với các quan điểm của thế gian. Chúng ta đang làm nền văn hoá của chúng ta được thơm hơn lên.
Một vị vua thời Trung cổ đã hỏi 3 người con gái, không biết họ có yêu thương ông ta nhiều hay không!?! Hai trong số đó đáp rằng họ quan tâm đến ông hơn cả vàng và bạc trên thế gian nầy. Còn cô con gái út, cô ta nói cô yêu ông giống như yêu muối vậy. Nhà vua không đẹp lòng với câu trả lời của nàng, vì ông xem muối là thứ rất ít giá trị. Bà đầu bếp nghe được cuộc trò chuyện, vốn biết rõ lời đáp của đứa con có nhiều ý nghĩa hơn người cha có thể tưởng tượng. Mặc dù cô con gái không dám nói cho nhà vua biết rõ vấn đề, bà ta khuyên phải tìm cách nào đó để làm sáng tỏ ý nghĩa thực lời lẽ của đứa con gái. Sáng hôm sau lúc ăn điểm tâm, bà đã giữ muối lại không nêm vào thứ bà đã dọn, và bữa ăn nhạt nhẽo đến nỗi nhà vua không muốn dùng bữa nữa. Khi đó ông ta mới nhận ra ảnh hưởng trọn vẹn lời nói của con gái mình. cô ấy yêu ông nhiều đến nỗi chẳng có gì là ngon lành hết nếu chẳng có ông!
3. Thứ ba, muối tạo ra cơn khát.
a. Người nào phơi nắng quá mức đều phải ngậm muối để làm tăng thêm sự khát nước của thân thể họ. Cơn khát do muối gây ra ngăn ngừa tình trạng mất nước và sự chết.
b. Chúng ta cần phải sống khác biệt với những người xung quanh, hầu cho nhiều người sẽ khao khát cung cách sống của chúng ta.
Vào năm 1985, một con cá voi dài 40 foot, nặng 45 tấn có tên là Humphrey đã đổi hướng sai khi di trú dọc theo bờ biển California. Nó trở thành một con vật nổi tiếng của cả nước khi nó chuyển hướng vào Vịnh San Francisoco, bơi lội dưới cầu Golden Gate, và đi suốt 70 dặm dòng sông đó. Trong hơn 3 tuần lễ, Humphrey đã không chịu làm theo mọi nổ lực để đưa nó trở ra với vùng biển mặn. Sau cùng, các nhà nghiên cứu hải sinh học đã tìm cách nhữ nó với các âm thanh đã được ghi băng khi nuôi loài cá voi. Cách làm nầy đã có hiệu lực. Humphrey đã đáp lại với “loài cá sung sướng” kia, rồi lội theo “chúng” trở ra lại Thái Bình Dương. Cách nhữ bằng âm thanh vui sướng tác động không những các loài cá voi đi lạc, nhưng cũng có tác động với con người hư mất nữa. Đức Chúa Trời làm cho đời sống của các thánh đồ ra lôi cuốn đối với những người chưa nhìn biết Ngài. Thánh Linh Ngài đem lại sự thuyết phục và tạo ra một sự khát khao đối với những gì Cơ đốc nhân đang có.
B. Chúa Jêsus phán chúng ta là “muối của đất”.
1. Trong thời của Chúa Jêsus, muối là một mặt hàng có giá trị. Các binh lính La mã thường trả tiền để mua muối. Đây là chỗ mà mệnh đề “muối ấy không dùng chi được nữa” bắt nguồn. Là muối, quý vị rất có giá trị. Quý vị là khâm sai của Đức Chúa Trời.
2. Ngài không phán chúng ta phải trở thành muối, chúng ta có thể trở thành muối , hoặc chúng ta sẽ là muối. Ngài phán chúng ta đang “là” muối.
3. Quý vị không cần phải cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin biến con mặn như muối, xin giúp con trở thành một ảnh hưởng”. Quý vị là muối. Quý vị là một ảnh hưởng. Chỉ cần lắc nó lên mà thôi!
4. Như muối là một chất có tính cách bảo tồn và làm cho có thêm mùi thơm, chúng ta đang bảo tồn và làm cho xã hội có mùi thơm. Muối ở trong bình sữa trứng là muối vô dụng. Hãy làm cho người ta nhìn biết đức tin của quý vị. Hãy thể hiện ra đức tin ấy và đức tin sẽ ảnh hưởng nhiều người khác!
C. Chúa Jêsus cũng phán rằng muối đôi khi “mất mặn đi”.
1. Muối hay Clorua Natri là một hợp chất hoá học. Hợp chất nầy chưa thực sự “mất mặn” đâu. Tuy nhiên, khi nó bị lấm với đất, cát hay các chất bẩn khác, quý vị không thể nếm được muối đó nữa.
2. Chúa Jêsus phán muối đó “không dùng chi được nữa” (Chúng ta sử dụng câu nói nầy để mô tả một người biếng nhác). Muối đó chỉ “phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chân”.
3. Một số Cơ đốc nhân đánh mất ảnh hưởng của họ cho Đấng Christ. Họ đã bị bán vào trong thế gian, họ chẳng có gì khác biệt nữa. Họ không còn mặn như muối nữa.
Thật thú vị thay, theo tờ Christianity Today (Cơ đốc giáo ngày nay), một phần tư cư dân của Hoa kỳ đã xưng nhận họ có kinh nghiệm biến đổi khi nghe giảng tin lành. William Iverson lưu ý: “Một cân thịt chắc chắn bị ảnh hưởng bởi ¼ cân muối. Nếu muối của đất nầy chính là Cơ đốc giáo, tác dụng của muối mà Chúa Jêsus đã nói tới nằm ở đâu?”

II. CHIẾU RA MỘT TIA SÁNG (các câu 14-16).
A. Chúa Jêsus phán rằng chúng ta là “sự sáng của thế gian”.
1. Chúng ta là “muối” và là “sự sáng”. Có một sự khác biệt. Muối tác động cách công khai. Muối tác động từ bên trong đang khi ánh sáng tác động từ bên ngoài. Muối là ảnh hưởng gián tiếp của tin lành, một lối sống tin kính. Sự sáng là ảnh hưởng trực tiếp của Tin lành, làm chứng đặc biệt cho người ta biết về Đức Chúa Jêsus Christ.
2. Cơ đốc nhân là “sự sáng” của Đức Chúa Trời, là một lẽ đạo phổ thông trong Kinh Thánh.
a. Trong Thi thiên 36.9, Đavít nói: “Vì nguồn sự sống ở nơi Chúa; Trong ánh sáng Chúa chúng tôi thấy sự sáng”.
b. I Giăng 1.5-7 chép: “Đức Chúa Trời là sự sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm đâu”. Câu 7 chép: “nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta”.
c. Thi thiên 119.105 chép: “Lời Chúa là ngọn đèn cho chơn tôi, ánh sáng cho đường lối tôi”.
d. Chúa Jêsus đã đến “Để soi những kẻ ngồi chỗ tối tăm và trong bóng sự chết, Cùng đưa chân chúng tôi đi đường bình an”.
e. Êphêsô 5.8 chép: “Vả, lúc trước anh em đang còn tối tăm, nhưng bây giờ đã nên người sáng láng trong Chúa. Hãy bước đi như các con sáng láng”.
f. I Phierơ 2.9 chép chúng ta là “dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài”.
g. Philíp 2.15 chép chúng ta “ở giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được, lại giữa dòng dõi đó, giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian”.
3. Mục đích của sự sáng là xua tan đi bóng tối tăm.
a. Chúng ta được kêu gọi để chiếu sáng vào bóng tối tăm. C.T. Studd viết: Có người muốn sống trong âm thanh của Hội thánh hay tiếng chuông nhà thờ; tôi muốn tránh khỏi địa ngục.
b. Có nhiều lần chúng ta chiếu ánh sáng cho nhau. Chúng ta có nhiều đội có đèn chiếu sáng. Chúng ta tích trữ sự sáng.
B. Chúa Jêsus cung ứng hai trường hợp về “sự sáng của thế gian”.
1. Thứ nhất, chúng ta cần phải sống giống như một “thành” được thắp sáng. Chúa Jêsus phán: “một cái thành ở trên núi thì không khi nào bị khuất được”.
a. Người nào là môn đồ thật của Chúa Jêsus sẽ tỏ ra minh bạch cho mọi người. William Barclay nói: “Không có một việc gì là môn đồ kín nhiệm cả, vì sự kín nhiện huỷ phá chức năng môn đồ, hoặc chức năng môn đồ tiêu diệt sự kín nhiệm”.
b. Nếu quý vị không phiền khi làm chứng cho người ta về đức tin của quý vị nơi Đấng Christ, có nhiều cơ hội cho họ nhìn biết đức tin đó.
c. Có người than phiền với tôi đang làm việc hoặc sinh sống ở nơi có nhiều người không tin Chúa vây quanh. Họ ao ước họ được sống với Cơ đốc nhân. Đừng than phiền nữa! Hãy chiếu ra ánh sáng của quý vị đi! Đúng là một cơ hội.
d. Một “thành” có rất nhiều ngọn đèn. Có lẽ thành ấy tiêu biểu cho một nhà thờ, mỗi tín hữu lo chiếu ra ánh sáng của mình (nam hay nữ) cùng với nhiều người khác.
2. Thứ hai, chúng ta cần phải sống như một “ngọn đèn” trong nhà của mình.
a. Một “ngọn đèn” trong thời của Chúa Jêsus chỉ là một quả bóng nhỏ chứa dầu ôlive và có một ngọn bấc bằng vải. Đây là phương tiện chiếu sáng duy nhất trong một gia đình sau khi mặt trời lặn.
b. Chúa Jêsus phán rõ ràng rằng không ai “thắp đèn” mà đem “để dưới cái thùng” bao giờ. Alexander Maclaren nói rằng nếu quý vị thắp một ngọn đèn rồi để dưới cái thùng, một trong hai việc sẽ xảy ra. Ngọn lửa một là bị dập tắt hoặc nó sẽ đốt “cái thùng” cháy bùng lên!
c. Thật là buồn cười khi thắp một ngọn đèn rồi đem giấu nó đi. Mục đích của ngọn đèn là “soi sáng mọi người ở trong nhà”. Đậy ngon đèn bằng cái thùng là ngược lại với mục đích của nó.
d. Quý vị đừng để ngọn đèn ở dưới cái thùng, mà để trên “chân đèn” để cho ai nấy đều trông thấy.
e. Có nhiều Cơ đốc nhân đang là “ngọn đèn ở dưới cái thùng”. Họ đi vòng quanh che giấu đức tin của họ để chẳng có ai nom thấy đức tin đó. Họ đang sống vô dụng cho Đức Chúa Trời giống như một ngọn đèn đang đặt dưới cái thùng. Chúa Jêsus đã cứu quý vị để cho quý vị phải soi sáng!
C. Chúa Jêsus khích lệ chúng ta phải “soi sự sáng [mình] trước mặt người ta”.
1. Khi đèn của chúng ta chiếu sáng, người ta sẽ nhìn thấy “các việc lành” của chúng ta.
a. Từ ngữ “lành” ở đây không nhấn mạnh vào tính chất, mà nhấn mạnh ngọn đèn sáng đang lôi cuốn. Chúng ta phải đóng ngoặc kép “thấy những việc lành của các ngươi”.
b. Khi chúng ta sống cởi mở và thành thật cho Đức Chúa Jêsus Christ, người ta sẽ trông thấy một nét đẹp trong đời sống của chúng ta. Họ sẽ để ý tới sự nhã nhặn, nụ cười, thái độ biết ơn, sự bình an, sự phước hạnh, sự giúp đỡ của chúng ta… Họ muốn hỏi: “Tại sao quý vị lại sống được như thế chứ?”
c. Hãy suy nghĩ về điều đó, khi quý vị sống trong chỗ tối tăm, mọi con mắt đều hướng về sự sáng, cho dù đó là một ánh sáng nhỏ nhoi.
Giáo sư Kinh Thánh Keith Brooks vừa giảng xong cho một lớp các thương gia về trách nhiệm của Cơ đốc nhân phải trở thành “sự sáng” trong thế gian. Ông nhấn mạnh rằng người tin Chúa cần phải phản chiếu Sự Sáng của thế gian, là Chúa Jêsus. Sau khi hết giờ, có một tín hữu đến tỏ cho ông biết một kinh nghiệm mà ông đã có tại nhà của mình trước lẽ thật ấy. Ông nói rằng khi ông bước vào tầng hầm, ông có một sự khám phá rất thú vị. Một số quả khoai tây đã đâm chồi trong góc tối của căn phòng. Lúc đầu ông không hình dung được làm sao chúng hấp thụ được đủ ánh sáng để mọc lên. Kế đó ông nhìn thấy có ai đó đã treo ấm nước bằng đồng đỏ từ trần nhà gần cửa sổ của hầm rượu. Cái ấm bóng láng đến nỗi nó phản chiếu các tia sáng của mặt trời vào mấy củ khoai tây. Vị thương gia nói với Brooks: “Khi tôi trông thấy sự đó, tôi nghĩ, tôi không phải là nhà truyền đạo hay một giáo sư vớii khả năng khai thác Kinh Thánh, nhưng ít nhất tôi có thể trở thành cái ấm bằng đồng nắm bắt được các tia sáng của Đức Chúa Con rồi phản chiếu ánh sáng của Ngài cho người nào đang ở trong góc tối tăm”.
2. Khi ánh sáng của chúng ta chiếu ra, người ta sẽ “ngợi khen Cha các ngươi [chúng ta] ở trên trời”.
a. Chúng ta không chiếu ánh sáng ra cho chính mình, mà vì sự khen ngợi Đức Chúa Trời. Chúng ta không sống cho Đấng Christ [muối] và giảng cho Đấng Christ [sự sáng] để lôi kéo người ta chú ý về mình.
b. Chúng ta soi sáng vì chúng ta muốn người ta nhìn biết “Cha chúng ta ở trên trời”.
c. Quý vị có thấy Chúa Jêsus đưa ra một lời bảo đảm không? Khi họ “thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời”. Chúa Jêsus có ý nói rằng có ai đó chưa được cứu, nhưng có người sẽ được cứu! Đừng đứng trên con đường của những người sẽ được cứu! Hãy chiếu sáng ra!

III. LỜI KHUYÊN VỀ VIỆC LẮC VÀ CHIẾU SÁNG.
A. Đừng áp đảo người ta với đức tin của quý vị.
1. Khi quý vị muốn lắc muối lên, quý vị đừng để cho đồ ăn không có nêm nếm gì cả. Quý vị dùng ít muối trước đã. Đừng chất đống các tài liệu chứng đạo, các băng ghi âm truyền giảng, và làm chứng cho bạn bè mình, đừng làm như thế. Hãy tìm thời điểm sao cho thích ứng.
2. Khi quý vị bật đèn lên, đừng chiếu thẳng vào mắt bạn bè mình, bạn sẽ làm cho mắt họ bị quáng lên. Hãy cung ứng ánh sáng cho đúng vị trí, đúng thời diểm. Nếu quý vị đang chiếu sáng, người ấy sẽ nhìn thấy ánh sáng đó.
3. Mục tiêu là, đừng làm ngập đầu họ với Tin lành. Mặt khác, đừng quá rụt rè mà chẳng làm chứng cho họ nghe biết về Đấng Christ. Hãy tạo ra một sự cân đối.
B. Đừng quên rằng những người chưa tin Chúa, họ đang quan sát quý vị từng phút một đấy!.
Một vị Mục sư đang dựng lên một giàn mắt cáo bằng cây để nâng cây nho đang leo lên cao. Khi ông vừa làm xong, ông để ý thấy một đứa trẻ đang nhìn xem ông làm. Đứa bé kia chẳng nói một lời, vì vậy nhà truyền đạo cứ tiếp tục công việc, ông nghĩ đứa trẻ rồi cũng sẽ bỏ đi thôi. Nhưng nó không bỏ đi. Nghĩ chắc trong lòng rằng công việc mình làm sẽ được khen ngợi, vị Mục sư nói: “Nào, con trai, hãy cho biết vài ý kiến về việc làm vườn xem!” Nó đáp: “Không, con đang đợi nghe vị Mục sư nói gì khi ông ta đập cái búa lên ngón tay cái của mình”.
C. Đừng lo nếu quý vị chưa thành công tức thì.
Khi ký giả Clarence W. Hall theo các đội quân Mỹ qua Okinawa vào năm 1945, ông và tài xế xe jeep đến một thị trấn nhỏ có sinh hoạt như một điển hình tốt cho cộng đồng Cơ đốc. Ông viết: “Chúng tôi đã nhìn thấy nhiều làng mạc ở Okinawa… ăn mặc nhếch nhác và thất vọng; ngược lại, ngôi làng nầy chiếu sáng như một viên kim cương ở trong đống phân chuồng. Chúng tôi được tiếp đón khắp nơi bằng nụ cười và những cái cúi đầu chào hữu nghị. Những cụ già tự hào chỉ cho chúng tôi thấy nhà cửa sạch sẽ, những cánh đồng nấc thang… những nhà kho và vựa lúa, nhà máy đường đắt tiền của họ”. Hall nói rằng ông không thấy nhà tù hay kẻ say sưa nào, và tình trạng ly dị không thấy có trong ngôi làng nầy. Người ta cho ông hay cách đấy 30 năm, có một giáo sĩ Mỹ đã đến đây. Trong khi ngụ lại trong làng, ông đã dẫn dắt hai cư dân trong làng tin theo Đấng Christ rồi để lại cho họ một quyển Kinh Thánh tiếng Nhật. Các tân tín hữu mới nầy đã nghiên cứu Kinh Thánh rồi khởi sự dẫn dắt dân làng họ theo Chúa Jêsus. Tài xế xe jeep của Hall nói ông rất ngạc nhiên khi thấy sự khác biệt giữa ngôi làng nầy cùng các làng mạc khác quanh đó. Ông cho biết: “Bấy nhiêu đó chỉ do một quyển Kinh Thánh và hai ông cụ muốn sống giống như Chúa Jêsus mà thôi. Vị giáo sĩ có lẽ chưa hề biết tầm cỡ ảnh hưởng của ông”.


Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

Bài 16: Mathiơ 5.10-12: "PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ CHỊU BẮT BỚ"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
SỨ ĐIỆP CỦA NHÀ VUA
PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ CHỊU BẮT BỚ
Mathiơ 5.10-12
1. John Selwyn – một vị giáo sĩ lỗi lạc cho Nam Thái bình Dương từng được công nhận với tài đánh bốc. Tuy nhiên, khi được quyền phép thuyết phục của Đức Thánh Linh chạm đến, về sau ông đã trở thành một giáo sĩ. Một tạp chí Methodist ghi lại rằng ngày kia vị lãnh đạo thuộc linh nầy ngần ngại đưa ra một lời quở trách nghiêm nghị nhưng đầy tình thương cho một người đi nhà thờ tại địa phương rất đều đặn. Người kia rất bực tức về lời khuyên ấy rồi giận dữ đấm thẳng vào mặt John. Đáp trả lại, vị giáo sĩ đứng khoanh tay khiêm nhường nhìn thẳng vào mắt của người kia. Với khả năng quyền anh và bắp thịt cuồn cuộn, ông có thể dễ dàng hạ nốc ao kẻ chống đối kia. Thay vì thế, ông đã đưa luôn má bên kia rồi bình tĩnh chờ đợi bị đánh thêm một lần nữa. Kẻ tấn công kia liền thấy xấu hổ và lẫn tránh vào đám đông.
Nhiều năm trời sau đó, người kia tiếp nhận Chúa làm Cứu Chúa của mình rồi làm chứng trước Hội thánh. Theo lệ thường vào thời điểm ấy cho một tín hữu phải chọn lấy một cái tên Cơ đốc cho mình sau khi đã được cứu. Khi được hỏi ông ta có muốn làm theo cách nầy hay không, ông ta đáp trả không chút ngần ngại: “Dạ, xin gọi tôi là John Selwyn! Ông ấy là người đã dạy cho tôi biết Đức Chúa Jêsus Christ thực sự là như thế nào!”
2. Phước hạnh sau cùng trong 8 phước lành nói: “Phước cho những kẻ chịu bắt bớ’. Hãy nhớ 8 phước lành là những mô tả về người tín đồ là người đã được cứu. Người “có lòng khó khăn”. Người “than khóc”. Người “nhu mì”. Người “đói khát sự công bình”. Người “có lòng thương xót”. Người “có lòng trong sạch”. Người “làm cho người ta hoà thuận”.
3. Nếu chúng ta sống theo 7 phước lành đầu tiên, chúng ta sẽ mau kinh nghiệm được phước lành thứ 8. Đó là một phương thuốc sống. Hãy trở nên hạng người mà các câu 3-9 nói tới và thế gian dành cho bạn sự bắt bớ ở các câu 10-12.
4. Thật là thú vị khi thấy 7 phước lành đầu tiên chỉ sử dụng chữ “phước” có một lần. Phước lành thứ tám nhắc tới chữ nầy hai lần (các câu 10-11). Giống như Chúa Jêsus đang phán: “Nếu ngươi bị bắt bớ, ngươi sẽ được phước gấp bằng hai”.
5. Chúng ta hãy xem xét qua ba lẽ thật về sự bắt bớ: bắt bớ là một THỰC TẠI, nó đem lại PHẦN THƯỞNG và nó tạo ra sự VUI MỪNG.
I. BẮT BỚ LÀ MỘT THỰC TẠI.A. Kinh Thánh nói rất dứt khoát; một đời sống công bình sẽ tạo ra sự bắt bớ.1. Trong II Timôthê 3.12, Phaolô viết: “Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ”. Trong câu 11, ông nhắc tới “những sự bắt bớ, và hoạn nạn đã xảy đến cho ta tại thành Antiốt, Ycôni và Líttrơ”. Đây là một sự bảo đảm mà bất kỳ ai sống cho Chúa Jêsus sẽ phải gánh chịu. Phaolô vốn biết rõ đau khổ có ý nghĩa như thế nào rồi.
2. Galati 4.29 chép: “Nhưng, như bấy giờ, kẻ sanh ra theo xác thịt bắt bớ kẻ sanh ra theo Thánh Linh, thì hiện nay cũng còn là thể ấy”.
Một người Cơ đốc đã nhận một việc làm mới giữa vòng những kẻ không tin Chúa. Ông rất lo sợ về việc mình sẽ được tiếp đón như thế nào đây!?! Ngày đầu tiên từ chỗ làm ông về nhà, vợ ông hỏi công việc như thế nào!?! Ông đáp: “Tuyệt vời! Họ không đoán được tôi là một Cơ đốc nhân”.
3. Bao lâu bạn song hành với hạng người vô tín, bạn sẽ sống y như người chưa tin Chúa. Tuy nhiên khi bạn bắt đầu sống trong sự vâng phục Đấng Christ, khi bạn thể hiện ra 8 phước lành, khi bạn chia sẻ về Chúa Jêsus, bạn sẽ thấy ngay “kẻ sanh ra theo xác thịt bắt bớ kẻ sanh ra theo Thánh Linh”.
B. Sự bắt bớ xảy đến vì sống chơn thật cho Đấng Christ là chống đối lại người thế gian.1. Nếu bạn chưa kinh nghiệm sự bắt bớ, có lẽ vì người thế gian chưa nhận ra bạn là một Cơ đốc nhân. Cho dù bạn nói cho họ biết bạn là một Cơ đốc nhân, đời sống của bạn chưa chứng minh có gì khác biệt.
2. Thế gian không quan tâm nếu bạn đi nhà thờ, đọc Kinh Thánh hay cầu nguyện. Thế gian quan tâm ngay khi bạn thể hiện ra mọi điều bạn tiếp thu ở nhà thờ, trong Kinh Thánh và trên hai đầu gối của bạn.
Cách đây mấy tuần, có mấy vị Mục sư ở Pampa nhóm lại với nhau để tẩy chay một cuộn phim bẩn thỉu chiếu ở nhà hát địa phương. Họ đã chống đối phim NC-17 dựa theo cuộc đời của một diễn viên vũ thoát y ở Las Vegas do hoạt động tình dục không mất tiền. Một nhà bình luận của tờ báo địa phương lấy họ làm đề tài, công khai bắt bớ họ vì “công tác kiểm duyệt” của họ. Tác giả vốn ít quan tâm tới họ cho tới khi họ đã có được một chỗ đứng.
Quan toà Randall thì chống lại việc uống rượu say sưa. Ông ta nói người lớn đã không đúng khi bảo trẻ con đừng uống rượu trong khi từng sinh hoạt chính trong xã hội lại có rượu hay được bảo trợ bởi một nhà máy bia. Ông ta không phải là một Cơ đốc nhân và ông ta đã bị quật ngã trên cacc tạp chí.
3. Có quá nhiều Cơ đốc nhân thoả hiệp thay vì đối đầu. Thật là dễ lấy làm thoả mãn, thờ ơ, và chẳng làm gì hết. Chúng ta không chiếm một chỗ đứng vì chúng ta không bằng lòng để cho ai bắt bớ mình. Chúng ta chưa bị bắt bớ vì chúng ta thất bại chưa sống thật cho Đấng Christ.
4. Môise là một tấm gương cao cả cho người nào chiếm được một chỗ đứng ngay bề mặt của sự bắt bớ. Ông đã dám đứng ra chống lại xã hội của người Aicập. Hêbơrơ 11.26 chép: “người coi sự sỉ nhục về Đấng Christ là quí hơn của châu báu xứ Ê-díp-tô, vì người ngửa trông sự ban thưởng”.
Dietrich Bonhoeffer là Mục sư người Đức và là giáo sư Thần học việc trong nước Đức trước Đệ II Thế Chiến. Trong khi các vị Mục sư cùng các cấp lãnh đạo tôn giáo khác lo làm cho những người Phátxít nguôi giận, ông đã chống đối họ cách công khai. Ông đã bị bắt, bị bỏ tù nhiều lần và sau cùng bị hành quyết vào tháng 5 năm 1945, ngay trước khi kết thúc cuộc chiến.
5. Chúa Jêsus đã đối diện với sự bắt bớ vì sự công bình của Ngài đương diện với các cấp lãnh đạo tôn giáo. Cũng một thể ấy với các sứ đồ và hết thảy các môn đồ thực của Đức Chúa Trời trong suốt 2000 năm qua.
6. Đây là sự dạy rất khó. Đây là quặng thượng phẩm. Đây là “thịt” chớ không phải “sữa thiêng liêng của đạo” (I Phierơ 2.2).
C. Bắt bớ là bằng chứng hiển nhiên của sự cứu rỗi.1. I Têsalônica 3.3-4 chép: “hầu cho không một người nào trong anh em bị rúng động bởi những sự khốn khó dường ấy; vì anh em tự biết rằng ấy đó là điều đã định trước cho chúng ta. Lại khi ở cùng anh em, chúng tôi đã nói trước rằng sẽ có sự khốn khó phải chịu, điều đó xảy đến rồi, và anh em đã biết rõ”. Đây là phần cho việc trở thành một Cơ đốc nhân.
2. Phaolô làm cho lẽ thật nầy ra rõ ràng hơn ở Philíp 1.28-30. Bắt bớ là một “chứng nghiệm của sự hư mất” hay sự phán xét dành cho kẻ bị hư mất, nhưng cũng cho chúng ta đây là một minh chứng cho “sự cứu rỗi”.
3. Giacơ 4.4 hỏi: “Hỡi bọn tà dâm kia, anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao? Cho nên, ai muốn làm bạn với thế gian, thì người ấy trở nên kẻ nghịch thù cùng Đức Chúa Trời vậy”.
4. I Giăng 2.15 chép: “Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy”. Câu 17 thêm: “Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời”.
5. Cách đây mấy năm, trở nên một Cơ đốc nhân được người ta ưa chuộng lắm. Đó là một sự thay đổi. Khi chúng ta đến gần với kỳ tận thế, sự bắt bớ sẽ thêm nhiều lên. Chúa Jêsus gọi thời kỳ nầy là: “đầu sự tai hại” (Mathiơ 24.8).
D. Bắt bớ dến vào các thời điểm và phương thức khác nhau.1. Chữ “khi nào” trong câu 11 cũng có nghĩa là “bất cứ lúc nào”. Tất cả những người tin Chúa sẽ không ở trong tình trạng bị bắt bớ, song chắc chắn nó sẽ xảy đến cho hết thảy chúng ta. Vì lẽ đó chúng ta không nên lấy làm ngạc nhiên.
2. Chúng ta không tìm kiếm sự bắt bớ; song cần phải bền chí khi bắt bớ đến.
3. Một Cơ đốc nhân trong thời của Phaolô được mời tới lo xây một cái chùa. Một người Cơ đốc ngày nay có thể bị chủ của mình buộc phải bất lương hoặc làm việc kém chất lượng hầu kiếm thêm lợi nhuận. Một phụ nữ Cơ đốc có thể bị tẩy chay vì sự khiêm tốn hay không chịu mở miệng cười ở chỗ ăn nói tục tỉu. Các thanh thiếu niên Cơ đốc có thể bị chối bỏ vì lối sống đạo đức và thanh sạch.
E. Có thể lẫn tránh sự bắt bớ (3 bước).1. Thứ nhất, tán thành đạo đức của người thế gian. Chỉ “sống và để cho sống”. Đừng phản đối ai. Đừng làm bộ đoan trang kiểu cách hay một kẻ phá đám. Cứ “tỉnh bơ đi”.
2. Thứ hai, chấp nhận các tiêu chuẩn của thế gian. Hãy đi xem phim, xem các chương trình TV, đọc các thứ sách báo. Cười đùa với kẻ ăn nói tục tỉu, khoái ngồi lê đôi mách. Không bao lâu thì bạn sẽ sống giống y như họ thôi.
3. Thứ ba, hãy tự xét mình xem coi bạn có thực sự có đức tin chưa!?!
4. Chúa Jêsus rất quan tâm đến sự trung tín.
a. Ngài đã phán trong Luca 9.26: “Vì nếu ai hổ thẹn về ta và lời ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về họ, khi Ngài ngự trong sự vinh hiển của mình”.
b. Trong Luca 6.26, Ngài phán: “Khốn cho các ngươi, khi mọi người sẽ khen các ngươi, vì tổ phụ họ cũng xử với các tiên tri giả như vậy!”
F. Bắt bớ xảy đến ít nhất là ba hình thức.
1. Thứ nhất, có TẤN CÔNG VỀ MẶT THUỘC THỂ. Chữ “bắt bớ” ra từ chữ dioko là chữ có quan niệm truy lùng hay đuổi bắt. Vì cớ đó bắt bớ về mặt thuộc thể có nghĩa là quấy rối và ngược đãi.
a. Tất cả các phước lành khác phải làm với những đức tính bề trong, phước lành nầy nói tới các kết quả của việc thể hiện ra những thái độ đó.
b. Tại sao Cơ đốc nhân lại bằng lòng đối diện với sự bắt bớ về mặt thuộc thể? Câu 10 chép: “vì cớ sự công bình”. Chúng ta phải bằng lòng đối diện với sự bắt bớ.
c. Trong thời kỳ Hội thánh đầu tiên, người ta bị ném đá, bị trét dầu hắc lên người, rồi bị đem làm đuốc sống, bị đốt cháy, bị làm thịt cho sư tử ăn, bị giết rồi bị ném cho chó sói ăn.
d. Thường thì quan niệm truyền giáo của chúng ta có nghĩa là chúng ta làm bạn với người nào đó để chúng ta có thể “đưa lén” tin lành vào. Chúng ta không cần loại Cơ đốc nhân “lén lút”.
Một nhà lãnh đạo Cơ đốc ai cũng biết tiếng đang đi qua Ấn độ, người ta giới thiệu ông với một cô gái nô lệ, cô nầy là chứng nhân cho Chúa. Do cô ta bền đỗ làm chứng cho nhiều người biết tới Chúa Jêsus và tình yêu của Ngài, cô ta đã đem nhiều người về với Đấng Christ. Khi ông nầy gặp mặt cô ta, ông nhìn thấy mặt, cổ và hai cánh tay của cô ta đầy những vết sẹo thật là xấu xí. Cô ta đã lãnh lấy nhiều lần đánh đập vì sự trung tín làm chứng của cô. Ông liền hỏi: “Nầy con, sao con lại mang lấy sự hung ác như thế nầy?” Cô ta đáp: “Bộ ông không vui sao khi ông chịu khổ cho Đấng Christ, thưa ông?” Ông đã nhận ra sự bắt bớ của chính mình là quá nhẹ nhàng. Chúng ta có bằng lòng đối diện với bắt bớ về mặt thuộc thể không?
2. Thứ hai, có sự SỈ NHỤC BẰNG LỜI NÓI. Người ta sẽ “lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi”. Chúng ta sẽ bị chửi rủa và mắng nhiếc.
a. Chúa Jêsus bị đánh đập và bị khạc nhổ nơi mặt. Tên lính yêu cầu Ngài phải “nói tiên tri” (Mathiơ 27.67-68). Người ta “đã lắc đầu” và chế báng Ngài khi Ngài bị treo trên cây thập tự. Có người nói: “Hắn đã cứu kẻ khác; mà cứu mình không được” (Mác 15.29-31).
b. Phaolô đã nói với người thành Côrinhtô: “Vì chưng Đức Chúa Trời dường đã phơi chúng tôi là các sứ đồ ra, giống như tù phải tội chết, làm trò cho thế gian, thiên sứ, loài người cùng xem vậy”.
c. Có bao giờ bạn bị lăng mạ vì đã đem lòng tin đặt nơi Đấng Christ chưa?
d. Khi bạn bị lăng mạ vì cớ đức tin của mình, hãy vững lòng, bạn đang đi đúng hướng rồi đó!
3. Thứ ba, có sự VU CÁO. Trong câu 11, Chúa Jêsus nói người ta sẽ “lấy điều dữ nói vu cho các ngươi”.
a. Có nghĩa là những điều người ta nói về chúng ta sau lưng chúng ta. Người ta đã nói về Chúa Jêsus: “Kìa, là người ham ăn mê uống, bạn bè với người thâu thuế cùng kẻ xấu nết” (Mathiơ 11.19).
b. Thật là thú vị khi người ta sẽ nói “vu” cho chúng ta, nhưng Chúa Jêsus gọi chúng ta là “có phước”. Arthur Pink viết: “Đây là minh chứng mạnh mẽ về sự đồi bại của con người vì những lời rủa sả của con người và phước hạnh của Đấng Christ sẽ gặp nhau trên chính một người”.
c. Khi người ta lấy điều dữ nói vu cho bạn vì cớ đức tin của bạn, hãy vững lòng! Bạn đang đi đúng hướng rồi đấy!
d. Hãy nhận lấy sự can đảm từ các phân đoạn Kinh Thánh như: I Phierơ 3.13-18; 4.12-14, 16, 19; Giăng 15.18-21.
II. BẮT BỚ ĐEM LẠI PHẦN THƯỞNG.A. Câu 10 và câu 11 nói rằng chúng ta được “phước” vì cớ sự bắt bớ. Đây là phước lành duy nhất với hai phước hạnh. Dường như chúng ta được phước bằng hai khi chúng ta hứng chịu sự bắt bớ.
1. Đức Chúa Trời chúc phước cho Đaniên trong hang sư tử.
2. Đức Chúa Trời chúc phước cho Phaolô và Sila trong nhà ngục của người thành Philíp.
B. Câu 10 nói rằng “nước thiên đàng” thuộc về chúng ta.
1. Thứ nhất, đây là một SỰ BẢO ĐẢM chúng ta được cứu. Chỉ có những người nào thực sự được cứu mới chịu đứng lên chống cự lại sự bắt bớ.
2. Thứ hai, điều nầy có ý nói tới SỰ CAI TRỊ TRONG THỜI KỲ THIÊN HI NIÊN. Khải huyền 20.4 nói rằng các tín đồ trung tín “được sống và trị vì với Đấng Christ trong một ngàn năm”.
3. Thứ ba, điều nầy có ý nói tới CÁC PHẦN THƯỞNG ĐỜI ĐỜI. Khi Chúa Jêsus chuẩn bị rời khỏi các môn đồ Ngài, họ rất sợ hãi. Họ không biết điều chi sẽ xảy đến cho họ. Chúa Jêsus phán: “Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa. Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Giăng 14.1-3).
III. BẮT BỚ TẠO RA SỰ VUI MỪNG.A. Chúng ta sẽ có thái độ gì khi chúng ta đối diện với sự bắt bớ? Chúa Jêsus phán: “Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ”.
1. “Vui vẻ” là điều mà một người đương nhiên có khi người nghe giảng tin lành. Bạn có một sự tấn tới, thể xác bạn tươi tắn, bạn đang hướng về quê hương mới, bạn trải qua kỳ thi sau cùng… Khi một người đối diện với sự bắt bớ, người ấy sẽ nhận lãnh sự bắt bớ đó như các tin tức tốt lành vì người đang đi đúng hướng!
2. “Nức lòng mừng rỡ” có nghĩa là “quá mừng, nhảy múa với sự phấn khích”. Bắt bớ không những là các tin tức tốt lành, đó còn là lý do cho sự ca ngợi nữa. Đó là lý do để nhảy múa và reo hò!?!
B. Nghe có kỳ cục không? Tại sao người ta lại ca ngợi khi họ đối diện với sự nói xấu, nói vu, hay đánh đập? Chúa Jêsus đưa ra hai lý do:
1. Thứ nhất, Ngài phán: “phần thưởng các ngươi trên trời rất lớn”.
a. Cuộc sống trên đất của chúng ta ngắn ngủi, nhưng trên trời thì là đời đời (Mathiơ 6.19-20).
b. Bạn thắc mắc: “Chúng ta sẽ hầu việc Chúa để nhận được nhiều phần thưởng sao? Há chúng ta chẳng hầu việc Ngài vì chúng ta kính sợ Ngài sao?”. Đúng là đúng đấy!
c. Hêbơrơ 12.2 nói về Chúa Jêsus: “là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời”. Chúa Jêsus yêu thương chúng ta, nhưng Ngài đã gánh lấy thập tự giá cùng nỗi xấu hổ bằng cách nhớ tới các phần thưởng đang chờ đợi Ngài ở bên hữu của Đức Chúa Trời.
2. Thứ hai, chúng ta vui mừng vì “họ cũng bắt bớ các tiên tri trước các ngươi”.
a. Khi chúng ta bị bắt bớ, chúng ta đang ở trong cộng đồng xứng đáng. Chúng ta đứng vào hàng những người nam và nữ tin kính.
b. Hêbơrơ 11.36-38 nói họ “chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu xiềng xích lao tù nữa. Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi, thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi, trong hang, trong những hầm dưới đất”.
c. Khi chúng ta bị bắt bớ, chúng ta đi chung đường với hàng tiên tri, chúng ta trở nên những người nam và nữ “thế gian không xứng đáng cho họ ở”.
IV. MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ SỰ BẮT BỚ.A. MONG ĐƯỢC BẮT BỚ. Nếu bạn chưa bị bắt bớ, bạn đang lạc đừơng rồi. chúng ta bị bắt bớ vì chúng ta đối diện thay vì thoả hiệp.
B. HÃY NHỚ, ĐỨC CHÚA TRỜI CHÚC PHƯỚC CHO KẺ BỊ BẮT BỚ. Hãy chịu treo ở đó. Hãy tin cậy Chúa và nương vào sự nhơn từ của Ngài. Hãy trở thành một Đaniên.
C. HÃY NHẬN BIẾT CÁC PHẦN THƯỞNG LÀ XỨNG ĐÁNG CHO KẺ CHỊU BẮT BỚ.Có một Cơ đốc nhân làm mất lòng vua cũng như nhiều cấp lãnh đạo tôn giáo. Nhà vua đe doạ trục xuất ông nếu ông không chịu ngưng giảng đạo. Ông đáp: “Thưa vua, vua không thể trục xuất tôi, vì thế gian là nhà của Cha tôi”. Nhà vua nói rằng ông sẽ cho sung công hết mọi tài sản của nhà truyền đạo nầy. Cơ đốc nhân kia đáp: “Thưa vua, vua không thể sung công tài sản của tôi vì tài sản của tôi chất chứa ở trên trời”. Nhà vua nói rằng ông sẽ đưa nhà truyền đạo ra đồng vắng lánh xa hết các bạn hữu. Cơ đốc nhân kia đáp ngay: “Thưa vua, vua không thể đem tôi đi đâu xa khỏi Thiết Hữu cao cả nhất của tôi vì Ngài đang sống trong tôi”. Sau cùng nhà vua nói ông sẽ giết nhà truyền đạo. Cơ đốc nhân ấy đáp: “Vua có thể cất lấy hơi thở của tôi nhưng vua không thể cất lấy sự sống của tôi, vì sự sống ấy giấu với Đức Chúa Trời trong Đấng Christ”.

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Bài 15: Mathiơ 5.9: "PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ LÀM CHO NGƯỜI HOÀ THUẬN"




MATHIƠ – VUA CÁC VUA
SỨ ĐIỆP CỦA NHÀ VUA
PHƯỚC CHO 
NHỮNG KẺ 
LÀM CHO 
NGƯỜI HOÀ THUẬN
Mathiơ 5.9
1. Dường như thế giới đang ở trong cảnh lóng ngóng. Âu châu đã bị thiệt hại nhiều do tai hoạ của Đệ II Thế Chiến. Từ Anh quốc cho đến nước Ý, các thành phố, làng mạc đều có những toà nhà mang dấu tích của bom đạn, nhiều nghĩa trang mọc lên. Ở phía bên kia, những hòn đảo của Biển Nam còn dấu tích của những trận đánh ác liệt. Hiroshima và Nagasaki trông giống như bề mặt của sự chết vậy. Hoà bình của thé giới đã đến, nhưng nó đến với một giá thật là ghê khiếp. Cách đây năm mươi năm, lúc Đệ II Thế Chiến kết thúc, Tướng Doulas MacArthur đã nói ra mấy lời về sự hoà bình cho một thế giới đang trông đợi.
“Ngày hôm nay súng ống đã lặng im… bầu trời không còn mưa sự chết xuống nữa… các đại dương chỉ dành cho thương mại… con người khắp nơi nơi đang bước thẳng vào ánh sáng mặt trời. Cả thế giới yên ổn trong hoà bình… Một kỷ nguyên mới đang giáng trên chúng ta. Thậm chí bài học chiến thắng tự nó đem tới cho nó một mối lo cả về sự an ninh trong tương lai và sự tồn tại nền văn minh. Sức huỷ diệt của chiến tranh, qua những tiến bộ của khai phá trong khoa học, giờ đây kỳ thực đã lên tới một điểm cần phải xét lại khái niệm xưa về chiến tranh… Từ khi bắt đầu thời gian cho tới nay con người đã tìm kiếm sự hoà bình, (nhưng) các liên minh quân sự, sự cân đối về quyền lực, sự kết hợp của các nước, hết thảy đều đi tới chỗ thất bại, chỉ còn có một con đường duy nhất: ấy là con đường dẫn tới lò lửa chiến tranh. Chúng ta đã có cơ hội cuối cùng. Nếu chúng ta giờ đây không nghĩ ra một hệ thống lớn lao hơn và công bằng hơn. Armageddon sẽ tới ngay bên cửa của chúng ta. Nan đề, cơ bản thuộc phạm vi thần học và bao gồm một sự hoạt động về mặt thuộc linh và sự cải thiện tâm tính của con người. Đây là vấn đề của tâm linh nếu chúng ta muốn cứu lấy xác thịt”.
2. Hoà bình dường như rất khó nắm được. Khi xem xét về hoà bình ở vùng Trung đông, Thủ tướng Dothái – Ytzak Rabin đã bị một người Dothái ám sát chết. Tuần lễ nầy tờ báo Toàn Cầu (Globe Times) có đăng một bài viết về một nhóm người đi bộ ngang qua nước Mỹ trong một sứ mệnh về hoà bình. Thật là thú vị thay, họ không thể xoay sở được và đã chia ra làm hai nhóm ở Arkansas! Chúng ta thường ngờ nghệch quá về sự hoà bình.
Một thiếu nữ đang loay hoay với bài tập ở nhà, thì bố cô ấy lấy làm tò mò đến hỏi thăm cô đang làm gì. Cô ta đáp: “Con đang viết thuyết trình về tình trạng của thế giới và làm cách nào để đem lại sự hoà bình”. Người bố hỏi: “Đề tài này có quá lớn cho một thiếu nữ không?” Cô ta đáp: “Ồ, không ạ! Và đừng lo. Chỉ có ba đứa chúng con trong lớp đang làm đề tài nầy đấy ạ!”
3. Trong phần giới thiệu Bài Giảng Trên Núi của Chúa Jêsus, trong cái mà chúng ta gọi là Tám Phước Lành, Chúa nói cho chúng ta biết rằng dân sự Ngài cần phải sống sao cho người ta nhìn biết họ là “những kẻ làm cho người hoà thuận”. Chúng ta hãy đưa ra ba câu hỏi quan trọng nầy về sự hoà thuận và “những kẻ làm cho người hoà thuận”.
I. HOÀ THUẬN LÀ GÌ?A. Hoà bình là một khái niệm quan trọng theo Kinh Thánh.
1. Thứ nhất, Kinh Thánh gọi Đức Chúa Trời là “Đức Chúa Trời Bình An” trong ba phân đoạn khác nhau (Rôma 15.33; II Côrinhtô 13.11; Philíp 4.9). Kinh Thánh chứa khoảng 400 tham khảo trực tiếp đến hoà bình và nhiều tham khảo gián tiếp khác.
2. Sáng thế ký khởi sự với ngôi vườn Êđen xinh đẹp. Đây là một nơi thật an bình. Rồi thế giới mất đi sự an bình của nó qua Sự Sa Ngã vào trong tội lỗi. Đấng Christ đã phục hồi lại sự an bình ấy qua sự chết của Ngài trên thập tự giá. Sách Khải huyền kết thúc với kỷ nguyên đời đời trong đó sự hoà bình được phục hồi và được “Chúa Bình An” tể trị. Hoà bình đánh dấu cách ứng xử của Đức Chúa Trời đối với loài người.
B. Hoà bình không biểu thị đặc điểm con người.
1. Theo thống kê cho biết, trong hơn 3100 năm lịch sử thế giới đã được ghi lại, thế giới chỉ sống trong hoà bình 8% thời gian hoặc tổng cộng 286 năm và 8000 hiệp ước đã được ký kết và bị phá vỡ. Có người nói: “Hoà bình là giây phút vinh quang trong lịch sử khi ai nấy thôi không nạp đạn vào súng nữa”.
2. Không những chúng ta không có hoà bình đối với chiến tranh trên toàn cầu, chúng ta không có hoà bình về kinh tế, hoà bình về tôn giáo, hoà bình về chủng tộc, hoà bình giữa cá nhân với nhau. Thuật ngữ thông dụng trong thời đại của chúng ta là CĂNG THẲNG.
3. Lý do có ít hoà thuận trên thế giới là vì Satan. Hắn là kẻ đối lập với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban ra sự hoà bình và Satan lột bỏ hắn. Hắn bảo chúng ta phải cướp lấy cho bản thân mình, phải đặt “tôi” lên trên hết, phải tức tối, phải thù hận, và phải chiến đấu. Hắn là động lực tối hậu cho mọi sự hỗn loạn trên thế giới.
C. Sự bình an của Đức Chúa Trời rất khác biệt với sự bình an của thế gian.
1. Quan niệm về sự bình an của con người cho mọi người là thôi không chiến đấu nữa, phải thoả hiệp, hạ cánh tay xuống mà bắt lấy nhau. Việc nầy không bao giờ xảy ra vì cớ bổn tánh tội lỗi của chúng ta.
2. Sự bình an mà Chúa Jêsus đang nói tới lại khác đi. Ngài đã phán trong Giăng 14.27: “Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho”. Sự bình an của Ngài chẳng dính dáng gì với sự hoà bình của Liên Hiệp Quốc, NATO, các hiệp ước, những cuộc ngừng bắn, hay phân xử.
3. Sự bình an của Đấng Christ là sự thanh bình bên trong tự nó tỏ ra trong sự tin cậy hoàn toàn vào Đức Chúa Trời cao cả và yêu thương. Philíp 4.7 chép rằng sự bình an của Đức Chúa Trời “vượt quá mọi sự hiểu biết”.
D. Sự bình an của Đức Chúa Trời đến từ sự hiện diện của Ngài trong đời sống của chúng ta.
1. Chúng ta có sự bình an trong tấm lòng vì chúng ta đã được cứu. Rôma 5.1 chép: “Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”.
2. Khi chúng ta được cứu, Đức Chúa Trời làm đầy dẫy tấm lòng chúng ta với một sự khôn ngoan thanh sạch, ưa thích sự bình an. Giacơ 3.17 chép: “Nhưng sự khôn ngoan từ trên mà xuống thì trước hết là thanh sạch, sau lại hòa thuận”.
3. Chúng ta có sự hoà thuận vì Đức Chúa Trời đã làm sự công bình cho chúng ta. Cả hai bước đi tay trong tay. Thi thiên 85.10 chép: “Sự thương xót và sự chân thật đã gặp nhau; Sự công bình và sự bình an đã hôn nhau”.
E. Sư bình an luôn luôn đến với một giá phải trả.
1. Chúa Jêsus đã phán trong Mathiơ 10.34: “Chớ tưởng rằng ta đến để đem sự bình an cho thế gian; ta đến, không phải đem sự bình an, mà là đem gươm giáo”. Điều nầy dường như đối ngược lại với phước lành ngày hôm nay. Chúa Jêsus muốn nói bình an có một giá phải trả.
2. Trước khi một người có sự hoà thuận với Đức Chúa Trời, người ấy phải đến với lẽ thật và sự công bình. Lẽ thật là tin lành. Trong đó người ấy tìm gặp sự công bình của Đức Chúa Trời. Trong sự công bình của Đức Chúa Trời, người ấy tìm gặp mình là tội nhân. Ở đây người gặp một nhu cần phải ăn năn và tin cậy nơi Đấng Christ.
3. Trước khi có sự hoà bình giữa các nước, giữa chồng và vợ, giữa bạn bè, cần phải có một sự nhìn nhận thành thật về tội lỗi và chạy đến với sự công bình.
4. Chúa Jêsus đã đến để đem “gươm giáo” của sự phân rẽ. Tội lỗi chúng ta gạt bỏ sự hoà thuận đi. Sứ điệp của Ngài phân rẽ những người tin cậy Đức Chúa Trời ra khỏi những kẻ không chịu tin, những người chịu vâng theo Đức Chúa Trời và những người không vâng theo. Ngài kêu gọi chúng ta phải đương diện với tội lỗi.
F. Cái giá trả cho sự bình an của chúng ta là thập tự giá của Đấng Christ.
1. Côlôse 1.19-20 chép: “Vì chưng Đức Chúa Trời đã vui lòng khiến mọi sự đầy dẫy của mình chứa trong Ngài, và bởi huyết Ngài trên thập tự giá, thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Đức Chúa Trời”.
2. Chúa Jêsus đã gánh lấy tội lỗi chúng ta rồi hiến cho chúng ta sự công bình của Ngài (II Côrinhtô 5.21), sự công bình đó khiến cho chúng ta được hoà thuận lại với Đức Chúa Trời.
II. TÔI SẼ TRỞ THÀNH KẺ LÀM CHO NGƯỜI TA HOÀ THUẬN BẰNG CÁCH NÀO?.A. Hạng người đem lại hoà bình cho thế gian nầy không phải là Ytzak Rabin, Henry Kissenger hay Jimmy Carter. Nhánh bình an của họ cũng tốt đấy song chưa phải là đời đời đâu. “Những kẻ làm cho người hoà thuận” thật chính là hạng người có sự bình an của Đức Chúa Trời.
1. I Côrinhtô 7.15 chép: “Đức Chúa Trời đã gọi anh em ăn ở trong sự bình an”. Bước sang II Côrinhtô 5.18, Đức Chúa Trời kêu gọi dân sự Ngài bước vào một “chức vụ giảng hoà”.
2. “Chức vụ giảng hoà” nầy đúng là chức vụ làm ra sự hoà thuận, giúp cho nhiều người khác tìm gặp sự bình an của Đức Chúa Trời. Hãy chú ý II Côrinhtô 5.19-20. Giờ đây chúng ta là hàng “khâm sai” hoà bình của Đức Chúa Trời trong một thế giới không có sự hoà bình.
B. Chúng ta hãy chú ý bốn đặc điểm của “những kẻ làm cho người hoà thuận”.
1. Thứ nhất, một kẻ làm cho người hoà thuận đã hoà thuận lại với Đức Chúa Trời.
a. Người ấy là người đã được cứu và nhơn đó đã làm hoà lại với Đức Chúa Trời. Mặc dù người là kẻ thù của Đức Chúa Trời, người đã “được hòa thuận với Ngài [Đức Chúa Trời] bởi sự chết của Con Ngài” (Rôma 5.10).
b. Vì cớ người đã được cứu, người nhìn biết “sự bình an của Đức Chúa Trời, vượt quá mọi sự hiểu biết” (Philíp 4.8; Côlôse 3.15). Helen Steiner Rice viết:
Khi tôi bối rối và phiền ưu trong thất vọng,
Tôi gói ghém mọi rối rắm lại rồi gặp Đức Chúa Trời
Trong sự cầu nguyện,
Tôi cũng nói cho Ngài biết rõ nỗi lòng, sự hư mất và nỗi cô đơn của tôi,
Rằng tôi đầy gánh nặng và chẳng biết phải làm gì.
Nhưng tôi biết Ngài đã quở gió và làm cho biển nổi sóng phải yên lặng,
Tôi hạ mình xuống hỏi không biết Ngài có làm như thế
Cho tôi trong tình yêu của Ngài hay không!?!
Tôi chỉ biết giữ yên lặng và suy nghĩ về sự bình an,
Rồi khi tôi ở trong sự yên lặng, tiếng than phiền không dứt của tôi bèn ngưng lại.
c. Mặc dù người đã được cứu, người biết mình vẫn có tội. Người không muốn tội nầy tác động vào sự bình an trong đời sống mình, vì vậy người xưng tội nầy ra với Đức Chúa Trời (I Giăng 1.9). Cơ đốc nhân ích kỷ, lấy cái tôi làm trọng, ít quan tâm đến tội lỗi không thể trở thành một khâm sai cho hoà bình được.
2. Thứ hai, một kẻ làm cho người ta hào thuận hướng dẫn người khác làm sự hoà thuận lại với Đức Chúa Trời.
a. Êphêsô 6.15 cho chúng ta biết rằng hết thảy những tín hữu đều phải xỏ chơn vào “tin lành bình an”. Chúng ta cần phải sẵn sàng và bằng lòng chia sẻ tin lành trong cách chúng ta sinh sống và trong sự làm chứng bằng môi miệng, cả hai.
b. Người nào tin tin lành đều phải chia sẻ tin lành đó. Quý vị có tin điều đó chăng!?!
Một bà kia tìm gặp con chó nhỏ trong sân nhà mình, nó bị một chiếc xe hơi đụng phải. Bà ta đem nó vào nhà rồi thấy rằng nó chỉ bị choáng, bị tím bầm và xây xát đôi chút thôi. bà ta lau sạch cho con chó rồi cho nó ăn để nó đủ sức chạy đi khi bà ra mở cửa. Bà ta nghĩ: “Con chó nhỏ nầy chẳng biết ơn gì cả!” Bà ta hoàn toàn ngạc nhiên khi nghe tiếng cửa sột soạt vài phút sau đó. Có con chó nhỏ và nó đã mang theo về một con chó đi lạc khác đứng nơi cửa nhà bà.
3. Thứ ba, một kẻ làm sự hoà thuận lo giúp cho tha nhân làm hoà với người khác.
a. Khi một người đến với Đấng Christ, người ấy có sự hoà thuận với Đức Chúa Trời và trở thành kẻ làm sự hoà thuận cho thế gian. Người bắc một nhịp cầu giữa Đức Chúa Trời và loài người. Người cũng bắc những cây cầu giữa người nầy và người kia nữa.
b. Rôma 12.18 chép: “Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người”.
c. Đôi khi làm sự hoà thuận sẽ dính díu với một quở trách. Điều nầy đòi hỏi một tâm linh biết hạ mình và một ao ước về sự hoà bình và ý chỉ của Đức Chúa Trời (Mathiơ 18.15-17).
4. Thứ tư, một kẻ làm hoà thuận trông đợi sự tán thành.
a. Chúng ta không nên đem lẽ thật của Đức Chúa Trời mà thoả hiệp; tuy nhiên, chúng ta có thể tìm được sự tán thành với bất kỳ ai.
b. Chúng ta phải phấn đấu mà không phải tranh cãi, bất đồng mà không có sự gắt gỏng, đương đầu mà không có sỉ nhục.
c. Chúng ta không nên tìm kiếm “sự bình an rẻ tiền”, hãy đoàn kết theo sự dạy của Kinh Thánh. Chúng ta phải đạt cho kỳ được một sự cân đối.
d. Êphêsô 4.15 dạy chúng ta phải “lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật”. Chúng ta không nên thối lui trước lẽ thật, nhưng chúng ta phải luôn luôn phân phát lẽ thật trong một tinh thần yêu thương.
e. Nhiều lần, dân sự của Đức Chúa Trời muốn tranh đấu và bàn cãi. Có những lúc phải kiếm một chỗ đứng, nhưng chỗ đứng ấy phải tìm trong sự hoà bình. Chúng ta đừng làm sự hoà thuận bằng cách tranh đấu. Tôi rất vui sướng khi chúng ta có nhiều kẻ làm sự hoà thuận trong nhà thờ nầy.
Charles Swindoll viết: “Những kẻ làm sự hoà thuận lo làm dịu sự căng thẳng, họ không đào cho sâu thêm. Những kẻ làm sự hoà thuận tìm kiếm những giải pháp và chẳng thấy ham thích chi trong sự cãi vả. Những kẻ làm sự hoà thuận làm cho sóng biển phải im lặng, họ không làm cho chúng dậy lên. Những kẻ làm sự hoà thuận chịu khó làm việc để giữ cho đừng xảy ra sự mất lòng. Và nếu sự mất lòng xảy ra, họ phấn đấu tìm cho ra giải pháp. Những kẻ làm sự hoà thuận hạ thấp giọng của họ xuống hơn là cất cao giọng lên. Những kẻ làm sự hoà thuận phát ra ánh sáng hơn là hơi nóng. Những linh hồn nào có tấm lòng như thế thật phước thay! Chúng ta cần nhiều người như họ trong hàng ngũ những kẻ có đức tin. Chúng ta cần nhiều chiến sĩ, nhiều người sẵn sàng để xông tới”.
5. Thứ năm, một kẻ làm sự hoà thuận lo làm sự hoà thuận bất cứ đâu người đi đến. Chúng ta không chỉ làm sự hoà thuận ở trong nhà thờ thôi. Chúng ta cần phải thực hiện nguyên tắc nầy ở tại gia, trong sở làm, tại trường học…
Tôi thích phần tiểu luận rất hay có đề tựa “Kẻ lăng xăng thánh khiết”:
Smith và Jones sắp “to tiếng” về một vấn đề không đáng kể chi hết. Điều nầy khiến cho Chấp sự Brown phải để ý, vì vậy ông đã cầu nguyện rằng ông sẽ trở thành kẻ làm cho người hoà thuận. Ông gọi Smith đến hỏi: “Anh nghĩ sao về Jones?” “Hắn ta là kẻ lập dị nhất trong xóm”. Brown nói: “Nhưng, ông phải thừa nhận rằng ông ấy rất tốt đối với gia đình của ông ta”. Ngày hôm sau Brown đến gặp Jones rồi hỏi: “Ông có biết Smith nói sao về ông không?” “Không, nhưng tôi có thể hình dung ra thằng xỏ lá đó sẽ nói dối thế nào về tôi!” “Điều nầy sẽ làm ông ngạc nhiên đấy, nhưng ông ta nói ông rất tốt đối với gia đình ông”. “Sao chứ! Smith nói thế à?”. “Phải, ông ta nói thế đấy!” “Được, nếu ông không nói ra, tôi sẽ chẳng tin như vậy đâu!” Chấp sự Brown hỏi: “Ông nghĩ sao về Smith?” “Thực ra, tôi tin ông ta là một kẻ cư xử hạ cấp, nhưng ông phải nhìn nhận rằng ông ta rất thành thật trong công việc”. “Phải, không phải bàn chi về điều nầy; trong công việc ông ta là một người mà ông có thể tin cậy”. Ngày hôm sau Brown gọi lại Smith một lần nữa: “Ông đã biết Jones nói gì về ông rồi, có phải không? Ông ấy cho rằng ông là một người đáng tin cậy trong công việc, và ông rất thành thật tuyệt đối”. “Ông chắc thế sao?”. “Phải tôi chắc đấy!” Brown nói. Smith đáp với một nụ cười vui sướng: “Chắc trăm phần trăm há”. Ngày Chúa nhật sau đó “hai kẻ thù” trước kia đã gật đầu chào nhau. Brown tiếp tục việc “lăng xăng” của mình cho tới buổi nhóm hàng năm của nhà thờ khi Smith và Jones bắt tay nhau và sau cùng đồng ý đứng chung với nhau trong kỳ bỏ phiếu. Đức Chúa Trời yêu “kẻ lăng xăng thánh khiết”.
III. NHỮNG LỢI ÍCH NÀO TRONG VIỆC TRỞ THÀNH KẺ LÀM CHO NGƯỜI TA HOÀ THUẬN?A. Thứ nhất, chúng ta được “phước”. Chúa Jêsus phán: “Phước cho những kẻ làm cho người hoà thuận”. Từ ngữ có ý nói “hạnh phước” hay “may mắn”. Nguyện Đức Chúa Trời sẽ chúc phước cho quý vị!
B. Thứ hai, chúng ta được “gọi là Con Đức Chúa Trời”.
1. Tôi rất biết ơn vì cơ nghiệp của gia đình của chúng tôi. Trong cây gia đình của tôi, tôi có nhiều chiến sĩ, nhiều nhà tiền phong, những nhà truyền đạo, những nhà nông… những người yêu xứ sở nầy và phụ giúp biến nó thành một quốc gia to lớn.
2. Tôi rất tự hào về bố mẹ tôi. Họ đã dạy tôi kính sợ Đức Chúa Trời và sống với tính ngay thẳng và bộc trực. Tôi rất tự hào khi được làm con cái của họ.
3. Quan trọng hơn hết, tôi rất tự hào khi được làm con cái của Đức Chúa Trời. Vì Đức Chúa Trời là Chúa bình an và tôi là con cái của Ngài, tôi phải trở thành một “kẻ làm cho người hoà thuận”.
4. Từ ngữ “con cái” chỉ ra một mối quan hệ lắm vinh dự và đáng tôn trọng giữa đứa con và bố mẹ của nó. Hỡi quý bà, quý vị được gọi là con gái của Đức Chúa Trời. Từ ngữ nầy bao gồm hết thảy dân sự của Đức Chúa Trời.
5. Trở thành một “kẻ làm cho người hoà thuận” là trở thành một Cơ đốc nhân. Người nào thường cãi vả, tranh chấp, làm mất lòng không phải là Cơ đốc nhân hoặc là môt Cơ đốc nhân đang sống trong loạn nghịch chống lại Đức Chúa Trời.
6. Hãy chú ý chúng ta “sẽ được gọi là” con cái của Đức Chúa Trời. Thế gian sẽ gọi chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời bởi phương thức bình an mà chúng ta đang sinh sống trong đó.
IV. NHỮNG CÂU HỎI.
A. Quý vị đã làm sự hoà thuận lại với Đức Chúa Trời chưa? Quý vị có biết rằng quý vị đã được cứu và đã được định cho ở trong thiên đàng cho đến đời đời, hoặc quý vị vẫn còn đánh trận chống nghịch Ngài không?
B. Quý vị có sự bình an của Đức Chúa Trời chưa? Nguyện quý vị sẽ được cứu, nhưng quý vị thường lo toan về nhiều việc. Quý vị cần phải trao mọi điều lo lắng cho Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện và kinh nghiệm sự bình an của Ngài trong tâm trí của quý vị.
C. Quý vị có làm hoà với nhiều người khác không? Có phải đời sống của quý vị được đánh dấu bằng tranh chấp và vãi vả không? Có phải quý vị thường gây gỗ với người khác? Quý vị cần phải được cứu hoặc đầu phục mới mẻ đối với Chúa.
D. Có phải quý vị giúp cho người khác tìm được sự bình an? Khi quý vị giới thiệu cho ai đó biết Chúa Bình An, việc nầy có dài lâu không?
MacArthur đã nói đúng. Nan đề bình an đúng là nan đề về mặt thần học. Đây là vấn đề của tâm linh nếu chúng ta muốn cứu lấy xác thịt.

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

Bài 14: Mathiơ 5.8: "PHƯỚC CHO NHỮNG KẺ CÓ LÒNG TRONG SẠCH"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
SỨ ĐIỆP CỦA NHÀ VUA
PHƯỚC CHO 
NHỮNG KẺ 
CÓ LÒNG TRONG SẠCH
Mathiơ 5.8
1. Tuần vừa qua, thiếu nhi trong nước đã mặc trang phục của chúng và đến trước cửa nhà chúng tôi với sứ điệp: “Trick or Treat” (Câu nói của trẻ em khi gọi cửa các nhà trong dịp lễ Halowe’wn để xin kẹo… và dọa phá phách nếu không cho). Hầu hết chúng ta đều ăn kẹo theo kiểu ăn lấy ăn để rồi vui vẻ gửi sang cho nhà lân cận. Công việc của tôi là lấy thứ kẹo nhỏ “Pocahontas”“Belle the Beauty” đi một vòng mang cho các thành viên trong gia đình vì tánh thích ăn của họ. Môt thành viên trong gia đình đã làm việc trong nhiều năm trời trong khu gian hàng thiếu nhi nói cho tôi biết có mấy lần cô ta gặp mấy em thiếu nhi trong Hội thánh đến nói cho cô ta biết chúng đã đến nhà cô vào dịp Lễ. Cô ta nói: “Với loại mặt nạ nầy, tôi không thể nói chúng là ai!”
2. Hầu hết chúng ta đều mang mặt nạ. Chúng ta chỉ không mang chúng vì “trick or treat”, chúng ta mang chúng mỗi ngày trong đời sống chúng ta. Chúng ta mang một chiếc mặt nạ khi chúng ta đi đến sở làm, song lại cởi nó ra khi chúng ta quay trở về nhà. Chúng ta mang lấy chiếc mặt nạ khác khi có bạn bè đến nhà chơi, nhưng sau khi họ ra về rồi, chiếc mặt nạ được tháo ra. Chúng ta có chiếc mặt nạ khác khi đi nhà thờ, nhưng khi chúng ta bước vào xe, chúng ta tháo nó ra cho đến buổi thờ phượng kế tiếp. Có một bức hoạ mà vợ tôi đã cắt lấy cách đây nhiều năm cho thấy một vị Mục sư đang trò chuyện với vợ của ông ta. Bà ấy nói: “Ngày nay chúng ta hãy làm một việc khác đi. Tại sao anh không dễ mến ở nhà và gắt gỏng ở nhà thờ!”
3. Chúng ta mang nhiều chiếc mặt nạ để người ta không thể nói chúng ta thực sự là ai. Chúng ta không muốn người khác biết rõ chúng ta. Chúng ta thường đánh lừa những người làm công, bạn bè, tín hữu và thậm chí cả gia đình chúng ta nữa. Tuy nhiên, chúng ta chưa bao giờ đánh lừa được Chúa. Ngài nhìn thấu qua các mặt nạ của chúng ta. Lois K. Blanchard đã viết một bài thơ rất hay:
Nếu Chúa Jêsus đến nhà bạn ở một ngày hay hai ngày
Nếu Ngài đến cách bất ngờ,
Tôi lấy làm lạ không biết bạn sẽ làm gì?
Tôi biết bạn sẽ dành căn phòng đẹp nhất
Cho Vị Khách danh dự ấy,
Cùng mọi thức ăn bạn dọn cho Ngài
Sẽ là thứ ngon nhất.
Và bạn sẽ đoan chắc với Ngài
Bạn rất hân hạnh được tiếp đón Ngài
Được phụcc vụ Ngài trong ngôi nhà của bạn
Là niềm vui khôn tả;
Thế nhưng khi bạn trông thấy Ngài đang đứng ở đấy,
Bạn có ra tận cửa,
Với đôi vòng tay rộng mở hoan nghinh Ngài
Là Khách của bạn đến từ Trời không?
Hoặc bạn sẽ thay đổi một vài thứ
Trước khi bạn mời Ngài vào?
Hay giấu đi vài tờ báo rồi trưng dẫn cuốn Kinh Thánh ra?
Liệu gia đình có tiếp tục nói năng bình thường chăng?
Và bạn khó mà gán cho từng bữa ăn là giàu ơn?
Bạn vui vẻ không
Khi có Ngài là thiết hữu thân cận nhất?
Hoặc bạn có hy vọng bạn bè sẽ ở lại
Khi cuộc viếng thăm của Ngài kết thúc?
Bạn có vui vẻ khi có Ngài ở với cho tới đời đời,
Miên viễn không?
Hay bạn thở dài khoan khoái khi Ngài ra về?
Chắc bạn lúng túng ít nhiều
Một khi Chúa Jêsus đến nhà riêng của bạn
Để ở với bạn trong một lúc”
.
4. Trong Tám Phước Lành nầy, ở đây Chúa Jêsus đang nói tới “người có lòng trong sạch”, Ngài đang nói tới việc lột bỏ đi mặt nạ, nói tới việc phải học sống chơn thật, đáng tin trước mặt cả con người lẫn Đức Chúa Trời.
I. CÓ LÒNG TRONG SẠCH CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO?A. Chữ “lòng” là hình bóng của người bề trong.
1. “Lòng” ra từ chữ Hy lạp kardia từ đó chúng ta có chữ “tim” (cardiac) cùng các chữ tương tự khác.
2. Nhiều chữ tương tự đã được sử dụng trong nhiều nền văn hoá đề cập tới người bề trong, ngai của mọi động lực và các thái độ, trung tâm của nhân cách. Trong một số xã hội, họ dùng “quả cật” hay “ruột”. Hãy tưởng tượng xem câu hát: “Tôi để quả cật lại ở San Francisco” hay “Trong khúc ruột sâu sắc ở Texas”.
3. Trong Kinh Thánh, tấm lòng tiêu biểu cho những tình cảm và cảm xúc sâu sắc nhất, nhưng nó cũng tiêu biểu cho lý trí và ý chí nữa. Châm ngôn 23.7 chép: “Vì hắn tưởng trong lòng thể nào, thì hắn quả thể ấy”. Trong Mathiơ 9.4, Chúa Jêsus hỏi các thầy thông giáo: “Nhân sao trong lòng các ngươi có ác tưởng làm vậy?”
4. Đức Chúa Trời luôn luôn quan tâm tới phần bề trong của con người, “tấm lòng” hơn bất cứ thứ chi khác.
a. Châm ngôn 4.23 chép: “Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra”
b. Đức Chúa Trời sai Nước Lụt đến vì Ngài “thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn” (Sáng thế ký 6.5).
c. Sau khi phạm tội tà dâm, Đavít đã cầu nguyện: “Xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng” (Thi thiên 51.10).
d. Tác giả Thi thiên – Asáp đã viết: “Đức Chúa Trời thật đãi Ysơraên cách tốt lành, tức là những người có lòng trong sạch” (Thi thiên 73.1).
e. Giêrêmi 17.9-10 chép: “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được? Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm”.
f. Chúa Jêsus phán trong Mathiơ 15.19-20: “Vì từ nơi lòng mà ra những ác tưởng, những tội giết người, tà dâm, dâm dục, trộm cướp, làm chứng dối, và lộng ngôn. Ay đó là những điều làm dơ dáy người; song sự ăn mà không rửa tay chẳng làm dơ dáy người đâu”.
B. Từ ngữ “trong sạch” là từ đồng nghĩa với thánh khiết.
1. “Trong sạch” dịch từ chữ katharos từ đó chúng ta có “catharsia”. “Catharsia” là từ ngữ được dùng trong môn tâm lý học và trong việc mưu luận, có ý nói tới một sự làm sạch tâm trí hay tình cảm. Từ ngữ Hy lạp có nghĩa là “làm sạch bằng cách thanh tẩy không còn bụi bặm, vết uế, hay sự ô nhiễm”.
2. Trong tiếng Hy lạp cổ điển, từ ngữ thường được sử dụng để mô tả các thứ kim loại đã được luyện lọc rồi trong lửa cho tới chừng chúng được “sạch ròng” không còn cáu cặn nữa.
3. Chúa Jêsus muốn chúng ta phải có tấm lòng “trong sạch”, hay thanh sạch, không đeo mặt nạ.
C. Có ít nhất sáu loại thanh sạch trong Lời của Đức Chúa Trời.
1. Thứ nhất, có sự thanh sạch THIÊNG LIÊNG. Đây là loại thanh sạch hay thánh khiết duy nhất thuộc về Đức Chúa Trời. Đó là loại thanh sạch bên trong nơi bổn tánh của Ngài. Sự trong sạch hay thánh khiết đối với Đức Chúa Trời giống như ánh sáng đối với mặt trời hoặc tình trạng ẩm ướt đối với nước vậy.
2. Thứ hai, có sự trong sạch được TẠO RA. Đây là sự thanh sạch của loài thọ tạo của Đức Chúa Trời trước sự loạn nghịch của Lucifer và Sự Sa Ngã phạm tội của con người.
3. Thứ ba, có sự trong sạch THEO ĐỊA VỊ. Đây là sự trong sạch hay thánh khiết chúng ta nhận lãnh khi chúng ta tin cậy Chúa Jêsus là Cứu Chúa của chúng ta. Ngay giây phút bạn được cứu, Đức Chúa Trời quy cho bạn sự công bình của Đấng Christ (II Côrinhtô 5.21). Từ giây phút chúng ta được cứu, Đức Chúa Trời nhìn thấy chúng ta “mặc lấy” sự công bình trong Đấng Christ.
a. Hêbơrơ 9.14 chép: “huống chi huyết của Đấng Christ, là Đấng nhờ Đức Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì tích cho Đức Chúa Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống, là dường nào!”
b. Rôma 4.5 chép: “còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình”.
4. Thứ tư, có sự trong sạch HIỂN NHIÊN. Khi Đức Chúa Trời gắn sự trong sạch hay công bình của Đấng Christ vào đời sống chúng ta, đây không chỉ là một câu nói thôi đâu, mà là sự hiển nhiên (II Phierơ 1.2-4). Khi một Cơ đốc nhân phạm tội, ấy là do bổn tánh hay phạm tội gây ra, chớ không phải người bề trong thanh sạch, mà bởi xác thịt tội lỗi.
5. Thứ năm, có sự trong sạch THỰC TẾ. Đây là chi tiết rất khó. Sự trong sạch nầy có nghĩa là sống bề ngoài thanh sạch phải y như người bề trong. Đây là một trận chiến!
a. II Côrinhtô 7.1 chép: “Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta”.
b. I Phierơ 1.14-16 chép: “Anh em đã nên như con cái hay vâng lời, thì chớ có làm theo sự dâm dục, là sự cai trị trong anh em ngày trước, về lúc anh em còn mê muội. Nhưng, như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình, bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì ta là thánh”.
c. Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải sống thanh sạch về người bề ngoài cũng y như thanh sạch về người bề trong. Giống như chiếc áo trắng với những dòng chỉ đen vậy.
Keith Miller viết: “Tôi lấy làm lạ một khi là Cơ đốc nhân chúng ta đã phát triển loại khải tượng có khả năng chọn lọc cẩn thận, khải tượng ấy cho phép chúng ta dấn thân sâu sắc và thành thật vào sự thờ phượng, vào các sinh hoạt của Hội thánh hết ngày này qua ngày khác lại quá mệt nhọc trong công việc làm ăn kiếm sống mà không hề nhận biết điều đó”. Trong quyển “Loving God” (Kính sợ Đức Chúa Trời), Chuck Colson viết: “Cơ đốc giáo không phải là nghi thức khoa trương mà chúng ta trình diễn vào ngày Chúa nhật. Cơ đốc giáo không thay đổi bởi các tiêu chuẩn của Kinh Thánh về sự nên thánh của cá nhân và đổi lại tìm cách đưa sự thánh khiết vào trong xã hội mà chúng ta đang sinh sống trong đó”.
6. Thứ sáu, có sự trong sạch HOÀN TOÀN. Đây là sự trong sạch mà dân sự của Đức Chúa Trời sẽ có trong loại thân thể đã được làm cho vinh hiển. I Giăng 3.2 chép: “Chúng ta biết rằng khi Ngài [Chúa Jêsus] hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy”.
D. Vì lẽ đó người “có lòng trong sạch” trước hết đã được cứu, có sự công bình của Đấng Christ bao phủ tấm lòng của bạn. Thứ hai, có lòng trong sạch phải thực thi sự thanh sạch, thể hiện ra bên ngoài những gì Đức Chúa Trời đã dựng nên nơi người bề trong của bạn.
II. MỘT NGƯỜI LÀM SẠCH TẤM LÒNG BẰNG CÁCH NÀO?A. Về mặt lịch sử, con người đã nghĩ ra nhiều cách để đạt tới sự nên thánh.
1. Có người đã thử tuân theo luật pháp, xác định một bộ luật và tín điều rất khe khắt bởi đó họ tự xét đoán họ và xét đoán thế gian. NGƯỜI PHARISI đã thử theo cách nầy. Chúa Jêsus phán rằng họ đã sống giống như “mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy” (Mathiơ 23.37). Chúng ta không cần các luật lệ, chúng ta cần lẽ thật!
2. Có người đã thử hình thức đổi mới, thử quan hệ với xã hội của họ theo các giới hạn của con người. NGƯỜI SAĐUSÊ đã thử cách nầy và đã chối bỏ các sự dạy quan trọng của Kinh Thánh như sự sống lại. Hầu hết các nhóm chính đều gạt bỏ Kinh Thánh qua một bên.
3. Có người đã thử chủ nghĩa tích cực. Đây là hạng người QUÁ KHÍCH, họ tin phương thức duy nhất cho Đức Chúa Trời để thay đổi xã hội là bởi lời tuyên truyền học thuyết về chính trị. Xã hội của chúng ta không cần một sự thay đổi về chính trị, chúng ta cần sự thay đổi về mặt thuộc linh!
4. Có người đã thử chế độ ưu tiên, tự họ rời khỏi xã hội, các mối quan hệ, và mọi thứ tiêu khiển của thế gian, khiến mọi năng lực của họ vào sự suy gẫm và sự cầu nguyện. Làm sao chúng ta làm chứng cho người khác về Đấng Christ theo cách nầy?
B. Đức Chúa Trời luôn luôn cung ứng một phương thức để làm theo mọi điều Ngài đã truyền dạy. Chúng ta không thể sống loại đời sống thánh khiết bằng cách làm theo các ý tưởng của chúng ta cho được. Châm ngôn 20.9 chép: “Ai có thể nói: Ta đã luyện sạch lòng mình, Ta đã trong sạch tội ta rồi?” Giêrêmi nói: “Người Ê-thi-ô-bi có thể đổi được da mình, hay là con beo đổi được vằn nó chăng?” (Giêrêmi 13.23).
C. Kinh Thánh đề nghị ít nhất 5 bước trong việc “có lòng trong sạch”.
1. BƯỚC 1 là Sự Cứu Rỗi Qua Con của Đức Chúa Trời.
a. Một người có thể đi nhà thờ, dâng hiến tiền bạc, sống chơn thật, đáng tin cậy, trung tín, khả kính, và vẫn phải đi địa ngục. Sao vậy? Người ấy không có “lòng trong sạch”. Mặc dù người ấy tìm cách sống trong sạch ở bề ngoài, nhưng như thế vẫn còn cách xa Chúa Jêsus lắm (Rôma 3.10, 23; Êsai 64.6).
b. Rôma 3.20 chép: “vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi”. Êphêsô 2.8-9 chép: “Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình”.
c. Nếu bạn chưa thực được cứu, hãy tin cậy Đấng Christ ngay hôm nay. Chỉ có Ngài mới có quyền làm cho bạn thưc sự “có lòng trong sạch”.
2. BƯỚC 2 là Tin Cậy Vào Quyền Phép của Đức Chúa Trời.
a. Bạn vô quyền không thể tự cứu lấy mình được, bạn vô quyền không thể tự sống công nghĩa được.
b. Trong nhiều năm trời, tôi đã thử sống theo những gì Đức Chúa Trời muốn tôi sống và tôi luôn luôn thất bại. Sao vậy? Tôi đang tìm cách hầu việc Đức Chúa Trời bằng sức riêng của tôi, chớ không phải bằng quyền phép của Ngài. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 15.5: “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được”.
c. Sau cùng tôi học được bí quyết của đời sống Cơ đốc đắc thắng là đơn sơ đầu phục Đức Chúa Trời mỗi ngày và nương cậy vào quyền phép của Ngài. Đức Chúa Trời đã phán với Phaolô: “Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi” (II Côrinhtô 12.9).
3. BƯỚC 3 là Sức Lực Của Lời Đức Chúa Trời.
a. Hêbơrơ 4.12 chép: “Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng”.
b. Không một Cơ đốc nhân nào sống thanh sạch mà lại cách xa Lời của Đức Chúa Trời cho được. Lời Chúa giống như bộ sạc cho loại pin thuộc linh của bạn vậy. Đó là thức ăn thuộc linh. Không có Lời Chúa đời sống thuộc linh của bạn sẽ không còn chi nữa! Thi thiên 119.11 chép: “Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa!”
4. BƯỚC 4 là Quyền Lãnh Đạo của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Tầm quan trọng của một đời sống “thanh sạch” là phải “đầy dẫy Đức Thánh Linh” (Êphêsô 5.18). Galati 5.16 chép: “Vậy tôi nói rằng: Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt”. Hãy lắng nghe Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang ngự trong lòng bạn. Hãy làm theo tiếng phán của Ngài.
5. BƯỚC 5 là Thông Công Trong Sự Hiện Diện của Đức Chúa Trời.
a. Bạn không thể “trong sạch” khi chẳng có sự cầu nguyện. Chúng ta không thể nhìn biết ý chỉ của Đức Chúa Trời, hiểu biết mục đích của Ngài, hay ứng dụng Lời của Ngài mà không có sự cầu nguyện.
b. Êphêsô 6.18 chép: “Hãy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin”.
c. Chúng ta cần phải cầu xin sự tha thứ khi chúng ta phạm tội không thể tránh được. Đavít đã cầu nguyện: “Xin dựng nên trong tôi một lòng thanh sạch” (Thi thiên 51.10). I Giăng 1.9 chép: “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác”.
Dag Hammarskjold – Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc vào giữa và cuối thập niên 1950 nói: “Quý vị không thể chơi đùa với con thú ở trong bạn mà không có việc trở thành một con thú trọn vẹn, chơi đùa với sự nói dối mà không bỏ đi quyền nói thật, chơi đùa với sự độc ác mà không có việc mất đi ý thức trong lý trí. Người nào muốn giữ ngôi vườn của mình thật ngăn nắp không nên để cho cỏ mọc tràn lan”.
III. ĐÂU LÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC “CÓ LÒNG TRONG SẠCH”?A. Chữ đầu tiên của phước lành nầy nói chúng ta sẽ được “phước”. Chữ nầy có nghĩa là “hạnh phúc” hay “may mắn”. Nếu bạn muốn sống hạnh phúc, hãy “có lòng trong sạch”.
B. Lợi ích thứ hai của việc “có lòng trong sạch” đó là chúng ta sẽ “thấy Đức Chúa Trời”.
1. Chúng ta chưa sẵn sàng để nhìn thấy Đức Chúa Trời bằng mắt thường.
a. Môise là vị lãnh tụ tài ba của Ysơraên khi Đức Chúa Trời giải cứu họ ra khỏi cảnh nô lệ ở Aicập. Môise cũng được biết là đấng ban luật pháp vì ông đã trèo lên núi Sinai để nhận lãnh luật pháp từ Đức Chúa Trời.
b. Trong Xuất Êdíptô ký 33, trong khi trò chuyện với Đức Chúa Trời ở trên núi, Môise đã nói ra một điều mà lòng ông hằng ao ước: “Tôi xin Ngài cho tôi xem sự vinh hiển của Ngài!” (câu 18). Đức Chúa Trời đáp: “Ngươi sẽ chẳng thấy được mặt ta, vì không ai thấy mặt ta mà còn sống” (câu 20). Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã cho phép Môise nhìn thấy “lưng” của Đức Chúa Trời, và Ngài có phán: “nhưng thấy mặt ta chẳng được” (câu 23).
c. Tại sao Môise không thể nhìn xem mặt của Đức Chúa Trời? Ông chưa sẵn sàng. Mặc dù ông đã được cứu và đã được dựng nên một “lòng trong sạch”, ông hãy còn sống trong xác thịt tội lỗi. Chúng ta sẽ không thấy được mặt của Đức Chúa Trời cho tới chừng ngày lớn khi xác thịt tội lỗi của chúng ta không còn nữa và chúng ta đứng trước mặt Ngài trong loại thân thể đã được làm cho vinh hiển.
d. I Giăng 3.2 chép: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy”.
2. Chúng ta có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời bằng cặp mắt thuộc linh.
a. Chúa Jêsus phán: “Ai đã thấy Ta thì thấy Cha”. Giống như người Pharisi trong thế kỷ đầu tiên có thể nhìn thấy sự hoá thân thành nhục thể rất trọn vẹn của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, chúng ta có thể thấy Ngài ngay hôm nay khi Ngài đang tác động trong đời sống chúng ta.
b. Tôi có đọc một bài viết trong tuần nầy về một bé gái, nó đến hỏi một bà trong Hội thánh: “Tại sao bà nhắm mắt khi bà cất tiếng hát thế?" Bà ấy đáp: “Làm thế tôi có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời”. Khi chúng ta đóng tất cả những quyến rũ của thế gian lại và cứ nhắm vào sự thanh sạch, chúng ta nhìn thấy Đức Chúa Trời đang tác động mọi sự ở quanh chúng ta.
c. Chúng ta nhìn thấy Ngài trong GIA ĐÌNH, HỘI THÁNH, CÁC MỐI QUAN HỆ VIỆC LÀM của chúng ta. Một trong niềm vui lớn lao nhất của tôi là nhìn thấy Đức Chúa Trời đang vận hành trong đời sống của bạn. Ngài đang vận hành ở trong bạn đấy!
d. Một trong các đặc điểm quan trọng nhất của Chúa Jêsus không giống như chúng ta, ấy là Ngài không hề đeo mặt nạ. Ngài đã sống rất chân thật. Ngài không che giấu điều gì vì Ngài chẳng có chi để che giấu hết. Ngài kêu gọi chúng ta hiệp tác với Ngài, lột bỏ hết các thứ mặt nạ, vì Ngài đã dựng nên “lòng trong sạch” trong chúng ta, chúng ta phải tập trung vào sự thanh sạch có tính thực hành.
Ngày kia, có vị Mục sư trẻ được người ta hộ tống qua một mỏ than. Ngay lối vào ông trông thấy một đoá hoa trắng thật là đẹp nở ra từ mặt đất đen ngòm. “Làm sao đoá hoa ấy nở ra thanh sạch và rực rỡ như thế trong cái mỏ bẩn thỉu nầy?” nhà truyền đạo hỏi. Người hướng dẫn đề nghị: “Ném một ít bụi than lên hoa ấy rồi ông sẽ thấy”. Khi ông làm theo, ông rất đỗi ngạc nhiên khi thấy những hạt than đen bóng rớt khỏi các cánh hoa trắng như tuyết kia, càng làm cho đoá hoa ra dễ thương và chẳng tì vít chi y như trước đó. Bề mặt của đoá hoa ấy mượt mà đến nỗi những mạt than bụi cũng không thể bám vào đó được. Nếu chúng ta nhận biết Đấng Christ làm Cứu Chúa của chúng ta và sống mỗi ngày đầu phục Ngài, những hạt than bùn bẩn thỉu của thế gian sẽ rơi ra khỏi bạn cho xem. Hãy ném bỏ đi các thứ MẶT NẠ và hãy sống chơn thật trước mặt Ngài.