Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Bài 35: Mathiơ 9:27-28: "Bằng Chứng Sự Thương Xót Của Nhà Vua"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Bằng chứng
 sự thương xót của Nhà Vua
Mathiơ 9.27-38
1. Mới đây thôi, phương tiện truyền thông làm cho người ta bị cuốn hút vào câu chuyện thật hứng thú nói về cậu bé 3 tuổi bị té ngã trong một cuộc triển lãm tại sở thú Brookfield, bang Illinois. Trong khi khách tham quan hoảng loạn, một con khỉ đột cái 8 tuổi có tên là Binti, trong lúc mang đứa con nhỏ của nó trên lưng đã đón lấy cậu bé với khuôn mặt hoảng hốt, nhẹ nhàng ôm gọn lấy cậu ta trong hai cánh tay của nó rồi đem đặt cậu bé gần cánh cửa, nơi nhân viên thảo cầm viên có thể nhận lại cậu bé kia. Các phát thanh viên liền tìm cách làm cho lòng thương xót của con thú nầy gần như giống với sự thương xót của con người được nổi bật lên. Tôi muốn đưa ra một câu hỏi thật quan trọng: "Tại sao xã hội của chúng ta bị cảm động bởi một hành vi theo bản năng của một con thú mà chẳng biết gì tới lòng thương xót hiển nhiên và thường xuyên của Đức Chúa Trời?"
2. Mỗi phút chúng ta sống, từng hơi thở chúng ta có là một hành động biểu lộ lòng cảm phục đối với sự thương xót của Đức Chúa Trời. Ngài cung ứng từng nhu cần của chúng ta. Ngài ban cho chúng ta sự sống, sức khoẻ, gia đình, mọi khả năng. Kinh thánh phán rất rõ ràng về lòng thương xót của Chúa chúng ta.
A. Thi thiên 145.8-9 chép: "Đức Giêhôva hay làm ơn, có lòng thương xót, chậm nóng giận, và đầy sự nhơn từ. Đức Giêhôva làm lành cho muôn người, sự từ bi Ngài giáng trên các vật Ngài làm nên”.
B. Giôên 2.13 chép: "Hãy xé lòng các ngươi, và đừng xé áo các ngươi. Khá trở lại cùng Giêhôva Đức Chúa Trời các ngươi; vì Ngài là nhơn từ và hay thương xót, chậm giận và giàu ơn, đổi ý về sự tai vạ”.
C. Đaniên đã cầu nguyện: "Không phải cậy những sự công bình mình mà chúng tôi nài xin Ngài, nhưng cậy những sự thương xót cả thể của Ngài” (Đaniên 9.18).
D. Ca thương 3.22-23 chép: "Ấy là nhờ sự nhơn từ Đức Giêhôva mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt. Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm”.
E. Hêbơrơ 2.17 mô tả Chúa Jêsus là "thầy tế lễ thượng phẩm, hay thương xót và trung tín".
F. Êphêsô 2.7 làm cho mục đích của Đức Chúa Trời ra chi tiết hơn: "hầu cho về đời sau tỏ ra sự giàu có vô hạn của ân điển Ngài, mà Ngài bởi lòng nhơn từ đã dùng ra cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ”.
G. Tít 3.5 nói ơn cứu rỗi "không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài".
3. Đức Chúa Jêsus Christ là nhân vật đầy lòng thương xót đã từng sống trên đất. Ngài chữa lành, tha thứ, khích lệ, khóc lóc và chia sẽ niềm vui của Ngài với con người. Trong hành động quan trọng nhất của Ngài, Ngài đã chịu chết vì tội lỗi của toàn thể nhân loại và đã đắc thắng sống lại ra khỏi mồ mả.
4. Các sách tin lành, đặc biệt tin lành theo Mathiơ cung ứng cho chúng ta một tia nhìn thoáng vào tấm lòng của Đấng Mêsi. Từ phân đoạn nầy, chúng ta hãy lưu ý ba bằng chứng về sự thương xót cả thể của Chúa Jêsus.
I. CHÚA JÊSUS THƯƠNG XÓT DÙ CÓ SỰ BẤT TUÂN (các câu 27-31).
A. Tiếng kêu cứu trong tuyệt vọng (câu 27).
1. Câu Kinh thánh nói rằng Chúa Jêsus "ở đó ra đi", nghĩa là Ngài ra khỏi nhà của Giairu, là “cai” nhà hội, sau khi làm cho đứa bé gái 12 tuổi từ kẻ chết sống lại.
2. Khi Chúa Jêsus rời khỏi nhà của Giairu, đám dân đông một lần nữa vây kín Ngài. Câu 26 chép: "Tin nầy đồn ra khắp cả xứ đó". Trong đám dân đông đi theo Chúa Jêsus đó là “hai người mù”.
Tình trạng mù loà rất phổ thông trong các thời kỳ Tân ước. Merrill Unger viết: “Tình trạng đau mắt là chứng bịnh thông thường nhất trong mọi tật bịnh ở các xứ Kinh thánh... Giữa các chứng tật đó, có lẽ muốn nhìn thấy người có cả hai mắt trọn vẹn thì ít lắm. Phần lớn cư dân đều bị hư một con mắt, và số người bị mù hoàn toàn là rất cao... Nguyên nhân là bụi của tia nắng mặt trời và hầu hết tật ở dơ của người dân làm cho bịnh tật dễ lan rộng, thường gây hại cho mắt".
3. “Hai người mù” nầy "kêu". Từ Hy lạp là krazo (krad'-zo) có nghĩa là "gào lên, la lên, hay hét lên inh tai với hết sức mình". Thực ra, thì động từ cho thấy họ không gào lên từng hồi từng lúc, mà họ liên tục kêu la với Chúa Jêsus.
4. Họ không thể nhìn thấy Chúa Jêsus. Họ mò mẫm theo dọc đám dân đông. Niềm hy vọng duy nhất của họ là mong nhận được sự chú ý của Ngài, họ cứ kêu gào cho tới khi phải chú ý tới họ.
5. Câu nói mà họ cứ gào lên như thế là: "Hỡi con cháu vua Đavít, xin thương chúng tôi cùng!" "Con cháu David" là tước hiệu quen thuộc đối với hầu hết những người Do thái. Đó là tước hiệu của Đấng Mêsi.
Trong một cuộc vận động, vị đại biểu được giới thiệu là "vị Tổng Thống kế nhiệm của nước Mỹ". Phần giới thiệu không có một sự tranh cãi nào nơi người mà phát ngôn viên ủng hộ trong cuộc bầu cử. Khi người ta đề cập tới Cứu Chúa là "Jesus Christ", họ phải nói tới Ngài như một nhân vật lịch sử hay một cấp lãnh đạo tôn giáo. Khi họ nói tới Ngài là "Đức Chúa Jêsus Christ", chúng ta hiểu rằng Ngài là Thầy của họ. Nhắc tới Chúa Jêsus là “con cháu vua David” đã khiến cho người nào nghe thấy tiếng của “hai người mù” hiểu ngay rằng họ đã tin Chúa Jêsus là Con của Đức Chúa Trời.
6. Họ nài xin được "thương xót". Họ đang nài xin sự thương xót của Ngài. Con đường duy nhất để tiếp cận Đức Chúa Trời là qua sự thương xót của Ngài.
7. Hai người nầy đã trưng ra những điều cầu xin cần thiết để kiếm được sự chú ý của Chúa Jêsus. Họ đã có sự hiểu biết Ngài là ai, họ đã có đức tin nơi những gì Ngài có thể làm, và họ tin vào sự thương xót của Ngài.
B. Một thắc mắc của đức tin (câu 28).
1. Chúa Jêsus "đã vào nhà rồi". Chúng ta giả định đây là nhà của Phierơ, căn cứ hoạt động của Chúa Jêsus nằm ở xứ Galilê. Có lẽ Phierơ đã sửa chửa lại mái nhà của mình rồi!
2. Hai người nầy có lẽ là bạn đồng hành với nhau trong bóng tối nhiều năm rồi, không cứ cách nào đó họ cũng “vào trong nhà” và "đến với Ngài". Mỗi một sự chữa lành trong chương nầy cho thấy có nhiều sự kiên nhẫn lắm.
3. Kế đó, Chúa Jêsus đưa ra một câu hỏi dường như là một thắc mắc không cần thiết lắm: "Hai ngươi tin ta làm được đều hai ngươi ao ước [làm cho họ thấy được] sao?"
a. Câu hỏi nầy dường như không cần thiết vì họ đã bền đỗ theo sau Ngài qua đám đông. Nếu họ không tin, họ đã không có mặt ở đó.
b. Câu hỏi dường như không cần thiết vì họ đã công nhận Ngài là “con cháu vua David”, là Đấng Mêsi, là Con Đức Chúa Trời có lòng thương xót.
c. Câu hỏi dường như không cần thiết vì là Đức Chúa Trời toàn tri, Chúa Jêsus vốn biết rõ đức tin của họ rồi.
4. Tôi tin Chúa Jêsus đang yêu cầu họ đưa ra một lời xưng nhận công khai.
a. Ngài phán trong Mathiơ 10.32-33: "Bởi đó, ai xưng ta ra trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ xưng họ trước mặt Cha ta ở trên trời; còn ta chối ta trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha ta ở trên trời”.
b. Roma 10.9 chép: "Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu”.
c. Tiến lên phía trước, đưa ra một lời tuyên xưng công khai không cứu được ai. Tuy nhiên, có một sự nghi ngờ đáng kể là người nào không tuyên xưng Đấng Christ công khai lại được cứu.
5. Hai người đáp: "Lạy Chúa, được". Đây là một lời tuyên xưng công khai đức tin của họ nơi Chúa Jêsus. Họ đã gọi Ngài là “Chúa”. Đây là bằng chứng chỉ ra sự họ hiểu biết Ngài là Chúa của các chúa và là Vua của các vua!
C. Cái chạm của sự thương xót (câu 29).
1. Chúa Jêsus đã chìa ra với hai bàn tay từng chữa lành cho nhiều người, làm cho kẻ chết sống lại, ẳm bồng con trẻ, vẽ dưới đất trước mặt người Pharisi tự xưng công bình, bị đóng đinh trên thập tự giá, mang lấy những vết sẹo của sự hy sinh. Chúa Jêsus "đã rờ mắt hai người".
2. Hãy tưởng tượng xem một đời sống chẳng biết gì khác hơn là sự tối tăm giờ đây bị ánh sáng chói chang bắt lấy. Hãy tưởng tượng khi có thể nhìn thấy lần đầu tiên xem!
3. Chúa Jêsus phán: "Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy".
D. Niềm vui không nín được (các câu 30-31).
1. Hãy để ý, khi "mắt hai người liền mở", Chúa Jêsus "lấy giọng nghiêm phán rằng". Câu nầy có thể được dịch là "quở trách họ". Chúa Jêsus rất nghiêm khắc trong lời phán của Ngài: "Hãy giữ, đừng cho ai biết chuyện nầy”.
2. Tại sao vậy? Chúa Jêsus không muốn địa vị Đấng Mêsi của Ngài được công bố ra quá sớm.
3. Câu 31 chép: "Song lúc hai người ra khỏi nhà, thì đồn danh tiếng Ngài khắp cả xứ”. Họ không thể giữ kín việc ấy trong lòng họ.
4. Là Con Đức Chúa Trời Toàn Tri, Chúa Jêsus vốn biết hết, hai người nầy sẽ không thể giữ kín được niềm vui mừng ở trong lòng của họ. Ngài biết họ sẽ không tuân theo lời của Ngài. Ngài vẫn chữa lành cho họ.
E. Thậm chí khi Chúa Jêsus biết chúng ta sẽ không nghe theo Ngài, chúng ta sẽ phạm tội, chúng ta sẽ xây lưng mình đối với những điều Ngài dạy dỗ chúng ta, Ngài vẫn đối xử với chúng ta bằng sự thương xót!
1. Như Ca thương 3.22 chép: Sự thương xót của Ngài "mỗi buổi sáng thì lại mới luôn".
2. Vì cớ sự thương xót của Ngài, Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta mặc dù chúng ta bất tuân.
a. Đức Chúa Trời đã dựng nên Ađam và Êva, Ngài biết họ sẽ phạm tội.
b. Đức Chúa Trời đã cứu Nôê, Ngài biết ông sẽ bị xấu hổ khi tuổi già.
c. Đức Chúa Trời đã kêu gọi Ápraham, Ngài biết ông sẽ nói dối.
d. Đức Chúa Trời đã chọn David, Ngài biết ông sẽ phạm tội tà dâm.
e. Đức Chúa Trời tiếp đãi Giôna, Ngài biết ông sẽ bỏ trốn.
f. Đức Chúa Trời đã chọn Phierơ, Ngài biết ông sẽ chối Ngài.
g. Khi Chúa Jêsus phán cùng người đờn bà phạm tội tà dâm: "Hãy đi và đừng phạm tội nữa". Ngài vốn biết nàng ta sẽ phạm tội nhiều hơn.
h. Trong sự thương xót, Đức Chúa Trời đã kêu gọi bạn, dù bạn đã và sẽ làm buồn lòng Ngài.
II. CHÚA JÊSUS THƯƠNG XÓT DÙ BỊ NHẠO BÁNG (các câu 32-34).
A. Một người cần được chữa lành (các câu 32-33a).
1. Hãy chú ý cẩn thận câu 32. Trong bản Kinh thánh New King James, câu nầy đọc là: "Khi họ rời khỏi nơi ấy, nầy họ đem đến cho Ngài...". Mặc dù các bản dịch khác đọc hơi khác, có khả năng đây là hai người từng bị mù trước đây, chính họ đã đem tới cho Đấng Christ "một người câm bị quỉ ám".
2. Có thể họ là bạn bè. Có thể người nầy là con mắt của họ và họ là môi miệng của người đó. Họ đã cùng nhau ăn xin bên cỗng thành lâu ngày rồi.
3. Ai đem người “câm”  đến, chúng ta biết tình trạng của ông ta là kết quả của việc “bị quỉ ám”.
4. Mathiơ không cung ứng cho chúng ta các chi tiết của việc chữa lành nầy. Bởi quyền phép của Chúa Jêsus "quỉ bị đuổi ra". Chúa Jêsus mới vừa đuổi một đạo binh ma quỉ ra khỏi một linh hồn đáng thương sống xa lánh sự hiện diện của Ngài.
5. Không bao lâu sau khi ma quỉ đã ra khỏi người rồi: "thì người câm nói được". Tôi chẳng nghi ngờ chi, khi lời nói đầu tiên của ông ta phải là những lời lẽ ngợi khen Chúa Jêsus!
B. Một câu nói đáng xem xét (câu 33b).
1. Khi ma quỉ ra khỏi và người kia được lành thì "đoàn dân lấy làm lạ". "Lấy làm lạ" ra từ một chữ có nghĩa là “ngạc nhiên hoàn toàn, kinh ngạc và thắng hơn sợ hãi". Chữ nầy nói tới sự kinh ngạc trỗi hơn sự kinh ngạc. Nói theo từ ngữ hiện đại, họ đã "dao động!"
2. Họ nói: "Không hề bao giờ thấy sự như vậy trong dân Ysơraên”. Họ đã biết rõ về các trận dịch trong xứ Ai cập và việc băng qua Biển Đỏ. Họ biết rõ việc Đức Chúa Trời ban ra luật pháp, được viết ra trên bảng đá bởi ngón tay của chính Ngài trên Núi Sinai. Họ biết rõ về những tiếng kèn thổi và sự sụp đổ của các tường thành Giêricô. Họ biết rõ về của lễ của Êli trên đỉnh Núi Cạtmên. Họ vốn biết rõ về những người mạnh sức của Vua David, ba bạn trẻ trong lò lửa và Đaniên trong hang sư tử.
3. Khi những điều ấy được đem sánh với những gì Chúa Jêsus đã làm trong thời gian chưa đầy một năm, sự bày tỏ của Ngài về quyền phép thiêng liêng thì trong lịch sử chẳng có một điều chi có thể sánh với được.
C. Một lời dối trá (câu 34).
1. Trong khi dân chúng "lấy làm lạ" và xem trọng quyền phép của Đấng Christ, người "Pharisi" đã nhìn Ngài theo cách khác. Họ đã xem Ngài là một kẻ chống nghịch, một rabi trẻ dại dột, là người hướng dân chúng xa khỏi Do thái giáo truyền thống của họ. Ngài là kẻ thù đối với mọi truyền thống của các trưởng lão rồi vì thế, trong suy nghĩ của họ, Ngài là kẻ thù của Đức Chúa Trời.
2. Thắc mắc phức tạp nhất dành cho người Pharisi là: "Làm sao người làm được các phép lạ nầy?" Họ không thể chối những gì họ đã trông thấy Ngài đang làm. Quyền phép siêu nhiên của Ngài là không thể cãi được. Trong suy tưởng của họ, vì họ từ chối không công nhận Ngài là Con Đức Chúa Trời, Ngài phải rút quyền phép của Ngài ra từ "chúa quỉ". Thực ra, họ bắt đầu truyền sự nói dối ra: "Người nầy cậy phép chúa quỉ mà trừ quỉ”.
3. Khi bạn suy nghĩ về sự nầy, đây là một câu nói rất phi lý và rất dại dột khi nói ra. Hãy xem 12.22-26. Họ nói rằng Chúa Jêsus nhờ “Bêên-Xêbun” mà đuổi quỉ, từ nầy có nghĩa là "thần ruồi". "Bêên-Xêbun" là một vị thần của người Philitin được coi là "chúa quỉ" hay Satan. Chúa Jêsus hỏi: "Nếu quỉ Sa-tan trừ quỉ Sa-tan, ấy là tự nó chia xé nhau". Nói cách khác: "Các ngươi quyết định nghịch lại ta, các ngươi không khôn ngoan chi hết!"
D. Chúa Jêsus vốn biết người Pharisi sẽ dùng sự chữa lành của người nầy để đồn đãi dối trá về Ngài. Tuy nhiên, sự thương xót của Ngài vẫn cảm động Ngài chữa lành cho ông ta.
1. Chúa Jêsus đã đối diện với sự nhạo báng và sự sỉ nhục hoàn toàn tại thập tự giá. Vì sự thương xót Ngài đổ trên chúng ta, Ngài gánh lấy tội lỗi và nỗi xấu hổ của chúng ta. Hêbơrơ 12.2 nói về Đấng Christ: "là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng VÌ SỰ VUI MỪNG ĐÃ ĐẶT TRƯỚC MẶT MÌNH, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời”.
2. Vì Ngài yêu thương bạn và có lòng thương xót bạn, Chúa Jêsus đã đối diện với nỗi xấu hổ của thập tự giá. Bạn có chịu tiếp nhận sự ban hiến của Ngài về sự sống đời đời không?
III. CHÚA JÊSUS THƯƠNG XÓT DÙ CÓ NHỮNG BẤT LỢI (các câu 35-38).
A. Việc làm trong chức vụ của Chúa Jêsus  (câu 35).
1. Chúa Jêsus đã phục sự ở "khắp các thành các làng".
John MacArthur viết: “Chúng ta học biết từ sử gia Josephus người Do thái rằng lúc bấy giờ có khoảng 200 thị trấn và làng mạc trong khu vực Galilê, một khu vực khoảng 40 dặm bề ngang và 70 dặm bề dài. "Có nhiều thành và nhiều làng mạc ở khắp nơi, đông đúc người ta với đất đai trù phú, làng nhỏ nhất trong số đó chứa trên 15.000 dân cư". Căn cứ vào ước tính đó, thì xứ Galilê  chứa ít nhất 3 triệu người, phần lớn trong số họ đều đã trực tiếp gặp gỡ Chúa Jêsus " (Quyển 2, trang103).
2. Chúa Jêsus "dạy dỗ trong các nhà hội, giảng tin lành nước Đức Chúa Trời". Khi tôi lớn lên, việc sau cùng tôi mong muốn trong cuộc sống là trở thành nhà truyền đạo. Khi tôi nhìn biết Chúa Jêsus là một nhà truyền đạo, đấy là thời điểm Đức Chúa Trời kêu gọi tôi bước vào chức vụ!
3. Khi Chúa Jêsus đang trên chuyến hành trình, Ngài đi đó đi đây "chữa lành các thứ tật bịnh”. Điều nầy dường như cho thấy rằng Chúa Jêsus đã chữa lành "từng" người có nhu cần mà Ngài gặp gỡ. Hãy tưởng tượng những đòi hỏi trong thời của Ngài xem! Tuy nhiên, vì cớ sự thương xót của Ngài, Chúa Jêsus đã có mặt ở đó vì cớ họ.
B. Cơn đau đầu trong chức vụ của Chúa Jêsus (câu 36).
1. Bất cứ đâu Chúa Jêsus đi đến, “đoàn dân đông” đều có mặt ở đó. Hàng trăm hàng ngàn người hết thảy đều đã la hét để cho Ngài chú ý tới, họ sốt sắng lắng nghe những gì Ngài đã phán dạy, luôn luôn với một sự khốn khó cần được chữa lành hay một đời sống cần được phấn hưng. Chúa Jêsus đã nhìn qua bên kia các nhu cần về phần xác thể, vào tận tấm lòng của họ.
2. Khi Ngài nhìn xem họ, Ngài đã "động lòng thương xót". Từ Hy lạp nói tới sự thương xót đề cập tới những nơi sâu thẳm là ngai của mọi xúc cảm, theo cùng phương thức chúng ta nói tới tấm lòng. Tấm lòng của Chúa Jêsus đã đau đớn vì dân sự.
3. Mathiơ nói ra lý do Chúa Jêsus đã “động lòng thương xót" trước tiên là "vì họ khốn cùng, và tan lạc". “Khốn cùng” xuất thân từ chữ có nghĩa là "bị lột da". Có phải bạn cảm thấy khốn khó giống như bị lột da chăng? "Tan lạc" có nghĩa là bị ném rãi ra và hoàn toàn vô dụng, giống như một đứa trẻ cô độc trên đường phố.
4. Lý do thứ hai Chúa Jêsus đã "động lòng thương xót" là vì dân chúng giống "như chiên không có người chăn". Bầy chiên là loài thú chỉ biết nương cậy vào người chăn. Chúng cần được bảo hộ và chăm sóc. “Những người chăn” của chúng không quan tâm tới chúng.
C. Sự kêu gọi trong chức vụ của Chúa Jêsus (các câu 37-38).
1. Trong Kinh thánh, "mùa gặt" có ý nói tới sự phán xét hầu đến. Trong chương 13, Chúa Jêsus đưa ra “Thí dụ nói về lúa mì và cỏ lùng”..
2. “Mùa gặt thì trúng lắm” có ý nói tới đoàn dân đông, họ đang cần nghe giảng Tin lành. Họ đã sẵn sàng. Đức Chúa Trời đã sửa soạn đồng ruộng và mùa màng sắp gặt hái.
3. “Con gặt thì ít”. Có một ít người đang sẵn lòng bước vào mùa gặt. Điều nầy không có ý nói tới các vị Mục sư cùng các nhà truyền đạo, mà có ý nói tới tất cả các tín đồ. Chúng ta hết thảy đều là "con gặt".
4. Cha chúng ta là "chủ mùa gặt". Hãy chú ý Chúa Jêsus không bảo cầu nguyện cho kẻ bị hư mất, mà cầu nguyện cho "các con gặt", họ sẽ đi ra mà "vào trong mùa gặt của Ngài".
D. Sự thương xót của Đấng Christ cao kỳ hơn những giới hạn của con người.
1. Điều nầy giống như hoàn thành một lý tưởng rồi phục vụ cho các “đoàn dân đông”. Điều nầy cũng giống như hoàn thành được một lý tưởng cho thế giới của chúng ta bằng tin lành. Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời của mọi lý tưởng.
2. Thậm chí khi bạn làm việc cho Đức Chúa Trời dường như chẳng tạo được điều chi khác biệt, việc ấy đang tạo ra một sự khác biệt đấy!

***

Bài 34: "Mathiơ 9:8-26: "Lòng Thương Xót Của Nhà Vua"


MATHIƠ  - VUA CÁC VUA
Lòng thương xót của Nhà Vua
Mathiơ 9.8-26
1. Thương xót có nghĩa gì? Theo tự điển Webster, thương xót được định nghĩa là: "ý thức cảm thông nỗi đau của người khác kèm theo ước muốn làm vơi đi nỗi đau đó”. Cả hai từ ngữ Hybálai và Hy lạp dịch là: "thương xót" có ý nói tới "sự khao khát ở trong lòng". Như vậy, có lòng thương xót là có lòng tan vỡ đối với ai đó hoặc việc gì đó.
2. Bạn có cảm thấy thương xót đối với ai đó chưa?
A. ...những đứa trẻ đau ốm.
B. ...những đứa trẻ có cha mẹ dường như chẳng lo gì cho chúng.
C. ...người già cả, sức khoẻ yếu kém hay những người bị gia đình bỏ rơi.
D. ...người mắc bị nan y.
E. ...người đau khổ vì mất mát người thân.
F. ...công dân của thế giới thứ ba chậm phát triển thiếu ăn.
G. ...Cơ đốc nhân bị bắt bớ.
H. ...kẻ yếu thế cô... một người mẹ bị chồng bỏ rơi lao động với công việc mức lương thấp và hy sinh sự sống mình lo cho con cái.
I. Cá nhân tôi có một thương xót rất lớn đối với những người làm vợ của các vị Truyền đạo, Mục sư, Giáo sĩ.
3. Bạn không thấy thương xót đối với người nào?
A. ...những kẻ chuyên ức hiếp trong sân trường.
B. ...những công ty lớn, họ chỉ biết nhắm vào giới hạn lợi nhuận hơn là khách hàng của họ.
C. ...hạng người khó thương: những kẻ hay kiêu căng, khó chịu & ích kỷ.
D. ...những tên tài xế chuyên lái ẩu trong thành phố.
E. Chắc chắn chúng ta không cảm thấy thương xót đối với những kẻ chuyên phá thai, những gã điều hành các câu lạc bộ khiêu dâm, những kẻ đâm thuê chém mướn, hạng người chuyên gạ gẫm trẻ em. Thực ra chúng ta lập một danh sách thật dài hạng người xứng đáng với việc xấu xảy đến cho họ.
4. Một trong những điểm khác biệt lớn giữa Đức Chúa Trời và dân sự của Đức Chúa Trời: ấy là chúng ta thể hiện ra lòng thương xót có chọn lựa. Đức Chúa Trời thì không phải vậy! Ngài cảm  thương đối với mọi người và thể hiện ra tình yêu thương không điều kiện của Ngài và sự sống đời đời cho bất kỳ ai bằng lòng tiếp nhận tình yêu ấy nhơn đức tin nơi Chúa Jêsus.
5. Trong phân đoạn nầy, chúng ta sẽ học biết Chúa Jêsus có cùng một sự thương xót đối với mọi người. Từ cấp lãnh đạo Do thái có chức có quyền, giàu có, cho tới người nghèo đều như nhau. Chúng ta hãy tiếp thu ba lẽ thật nói về ơn thương xót của Cứu Chúa chúng ta.
I. CHÚA JÊSUS ĐÁNG TIẾP NHẬN VÌ ƠN THƯƠNG XÓT CỦA NGÀI (các câu 18-19).
A. Trong sự thương xót, Chúa Jêsus đã tiếp một quan cai nhà hội của người Do thái (câu 18).
1. Khi câu 18 chép: "Đang khi Đức Chúa Jêsus phán các điều đó", câu nầy chỉ ngược lại phần đối đáp giữa Ngài với các thầy thông giáo, người dòng Pharisi, các môn đồ của Giăng Báptít trong mấy câu đi trước. Mấy kẻ nầy đang chỉ trích Chúa Jêsus vì quyền tha tội của Ngài, vì Ngài đã trò chuyện và ăn uống với hàng tội nhân và vì Ngài không dạy các môn đồ noi theo các truyền khẩu tôn giáo của người Do thái do con người lập ra.
2. Ở giữa cuộc đối đáp đó, "xảy có người cai nhà hội kia bước vào, quì lạy trước mặt Ngài". Luca 8.41 cho chúng ta biết tên của người nầy là "Giairu" và ông là "người cai nhà hội". Chữ Hy lạp được dùng ở đây dường như có ý nói rằng ông là đầu của quan cai nhà hội, nghĩa là ông có quyền chỉ huy công việc của các thầy tế lễ khác, các thầy thông giáo và người dòng Pharisi.
3. Vị quan cai cao cấp nầy đã đến và "quì lạy trước mặt Ngài". Ông đã quì lạy trước mặt Chúa Jêsus và có lẽ đã hôn chơn của Ngài nữa. Đây là dấu hiệu hạ mình và tôn kính lắm lắm.
4. Hãy xem xét điều mỉa mai ở đây. Khi "người cai nhà hội", người nầy đã ở trong sự chống báng đối với Chúa Jêsus. Những tay bộ hạ của ông ta đã chỉ trích Chúa Jêsus một cách miệt mài, có lẽ họ làm thế là do sự điều động của ông ta nữa là. Thật là hợp lý khi kết luận rằng ông ta đã xem Chúa Jêsus là một kẻ thù đối với truyền thống của người Do thái. Thế mà, ở đây, nơi bệ chơn của Ngài, ông ta đang quì lạy trong sự hạ mình.
5. Người "cai" nói: "Con gái tôi mới chết". Đây là một bé gái còn nhỏ. Mác cho chúng ta biết rằng nó mới 12 tuổi. Hãy tưởng tượng xem tấm lòng tan nát của người cha nầy. Một trong những phần hành khó khăn nhất của bậc làm cha làm mẹ là nhận biết có một số việc mà chúng ta chẳng thể làm gì được cho con cái của mình.
6. Có lẽ ông đã có mặt tại ngôi nhà khi người đau bại được tha thứ và được lành. Có lẽ ông đã có mặt ở đó, khi Chúa Jêsus chữa lành cho tôi tớ của thầy đội Lamã. Có thể ông đã nom thấy Chúa Jêsus đuổi quỉ. Dù ở cấp độ nào, ông ta đã biết Chúa Jêsus là nguồn hy vọng duy nhất của mình, cho nên ông ta mới nói: "xin Chúa đến, đặt tay trên nó, thì nó sẽ được sống”.
7. Nhu cần của Giairu là chính ông ta phải đến với Chúa Jêsus. Ở điểm nầy, địa vị cao trọng của ông không còn là vấn đề nữa rồi. Đẳng cấp tôn giáo của ông không còn là vấn đề nữa. Mọi luật lệ theo luật pháp không còn là vấn đề nữa. Ông thấy mình vô quyền, không làm sao thay đổi được hoàn cảnh. Chúa Jêsus là nguồn hy vọng duy nhất của ông ta.
8. Đức tin của Giairu cũng buộc ông phải đến với Chúa Jêsus. Mặc dù Chúa Jêsus đã khiến cho ai đó sống lại từ kẻ chết, người “cai” nầy có đức tin tin rằng Chúa Jêsus có thể làm được điều đó.
B. Chúa Jêsus làm thoả mãn nhu cần của quan cai nhà hội người Do thái (câu 19).
1. Tin lành rất đơn giản ở đây. Kinh thánh chép: "Đức Chúa Jêsus bèn đứng dậy, cùng môn đồ Ngài đều đi theo người”.
2. Hãy tưởng tượng các môn đồ đã nghĩ gì!?! "Sao Chúa Jêsus lại đi giúp cho người nầy. Ông ta là kẻ thù mà! Ông ta là kẻ luôn luôn chỉ trích chúng ta. Chúa Jêsus đâu có mắc nợ gì ông ta đâu".
3. Vì Chúa Jêsus đã động lòng thương xót, người kia là ai thì chẳng thành vấn đề đối với Ngài. Ông ta có nhu cầu và Ngài bằng lòng phu phỉ nhu cầu đó.
C. Chúa Jêsus sẽ tiếp lấy bất kỳ ai chịu đến với sự hạ mình và với đức tin.
1. Giăng 1.14 dạy chúng ta rằng "Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta". Ngài đã trở thành một người giữa vòng loài người để Ngài có thể bày tỏ chính mình Ngài ra dễ gần gũi và dễ tiếp nhận. Toàn bộ chương trình cứu chuộc đã được soạn sẵn  trong cõi đời đời bởi Đức Chúa Trời rất dễ cho con người tiếp nhận.
2. Rôma 10.13 bảo đảm với chúng ta: "Vì AI kêu cầu danh CHÚA thì sẽ được cứu”.
3. Đức Chúa Trời không hề chối bỏ người nào, nhưng muốn tiếp nhận hết thảy mọi người. II Phierơ 3.9 chép: "Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn”.
4. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 6.37: "Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta THÌ TA KHÔNG BỎ RA NGOÀI ĐÂU”.
5. Nầy bạn tôi ơi, có thể bạn đang sống xa cách Đức Chúa Trời. Có thể bạn tự xem mình là kẻ thù của Đức Chúa Trời, nhưng Chúa Jêsus vẫn động lòng thương xót đối với bạn đấy! Ngài sẽ tiếp nhận bạn nếu bạn chịu đến với Ngài trong sự hạ mình và đức tin.
D. Giống như Chúa Jêsus, dân sự của Đức Chúa Trời cần phải tiếp đón hết thảy những ai chịu đến.
1. Còn Hội thánh, chúng ta cần phải gạt qua một bên mọi thành kiến của con người chúng ta, các thành kiến đó đều có gốc rễ trong hố sâu địa ngục. Chúng ta cần phải gạt qua một bên sự kiêu ngạo cùng các thái độ trịch thượng của mình mà tiếp nhận hết thảy mọi người cách bình đẳng. Chúng ta không thể giống với Chúa Jêsus được cho tới chừng nào chúng ta tiếp nhận người ta theo cách Chúa Jêsus tiếp nhận họ.
2. Có thể bạn nói: "Nhưng thưa Mục sư, chúng ta đang làm như thế đây. Mọi người đều được tiếp đón trong Hội thánh nầy!" Bạn nói đúng đó! Tôi rất tự hào vì dân sự của chúng tôi luôn có tư thế tiếp đón mọi người. Nhiều lần các vị khách của chúng tôi nói cho tôi biết quí vị mến khách như thế nào và tình cảm mà họ nhận được ở đây.
3. Tôi muốn đề nghị một việc còn sâu sắc hơn là làm cho người ta cảm thấy họ luôn được tiếp đón trong Hội thánh nầy. Muốn được tiếp đón giống như Chúa Jêsus, chúng ta cần phải ra khỏi các bức tường của nhà thờ. Chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời ban cho chúng ta tấm lòng biết thương xót đối với mọi người, thậm chí với hạng người mà chúng ta không ưa thích kia. Hạng người mà chúng ta thường không ưa thích là hạng người đang cần đến Chúa Jêsus nhiều nhất.
4. Chúng ta cần phải bày tỏ ra sự tiếp đón có tính thương xót bất cứ đâu: trong nơi lân cận, nơi sở làm, trường học, v.v...
II. CHÚA JÊSUS CÓ THỂ RỜ ĐỤNG ĐƯỢC VÌ ƠN THƯƠNG XÓT CỦA NGÀI (các câu 20-22).
A. Hành động của người đờn bà bị bịnh mất huyết (câu 20).
1. Khi Chúa Jêsus bước theo Giairu hầu thực thi sứ mệnh thương xót của Ngài, có một việc lạ lùng đã xảy ra. Thực ra, đây là một phép lạ trong một phép lạ.
2. Phép lạ nầy xảy ra một cách mau chóng. Kinh thánh chép phép lạ nầy diễn ra "liền trong giờ đó”.
3. Người đờn bà mắc một chứng bịnh được mô tả ở đây là "mất huyết" lại gần sau lưng mà “rờ trôn áo Ngài”.
B. Tình trạng của người đờn bà nầy (câu 20).
1. Chứng bịnh nầy được gọi là "mất huyết" ở đây và “rong kinh” trong một bản dịch Kinh thánh Anh ngữ, được dịch từ cùng một chữ Hy lạp, từ đó chúng ta có chữ "hemorrhage" (xuất huyết) có ý nói tới chứng rong kinh.
2. Có lẽ nan đề của bà ta bắt nguồn từ một khối u hay một chứng bịnh khác của tử cung. Bất luận là lý do nào, nó làm cho bà ta bị ô uế về mặt nghi thức dưới luật pháp Cựu ước. Hãy xem Lêvi ký 15.25-27.
3. Vì cớ bà ta bị ô uế, bà ta không nên có một sự rờ đụng nào với bất cứ ai. Bà ta không được bước vào nhà hội hay đền thờ. Nỗi xấu hổ về sự ô uế của chứng bịnh nầy chỉ đứng hàng thứ hai đối với nỗi xấu hỗ của bịnh phung mà thôi.
4. Bà ta đã chịu khổ từ chứng “mất huyết nầy đã mười hai năm”. Mác 5.26 chép: bà ta "bấy lâu chịu khổ sở trong tay nhiều thầy thuốc, hao tốn hết tiền của, mà không thấy đỡ gì; bịnh lại càng nặng thêm”. Bà ta đã đi hết thầy nầy đến thầy khác, hao tốn tiền của cho tới chừng bà ta lâm vào cảnh nghèo khó. Thể xác không thấy đỡ gì, bịnh lại càng nặng thêm.
C. Đức tin của người đờn bà (các câu 20-21).
1. Trong lý trí của người đờn bà lâm cảnh tuyệt vọng nầy một tia sáng vừa len qua cuối đường hầm. Một tia hy vọng xuyên qua bóng tối tăm đau khổ của bà ta. Mọi người ở xung quanh bà ta đều nói tới Jêsus nầy, Ngài phán dạy với quyền phép như thế nào, thể nào Ngài đã chữa lành đủ thứ tật bịnh kể cả bịnh phung. Có người nói Ngài là Đấng Mêsi.
2. Trong lý trí của bà ta một kế hoạch mới vừa ló dạng. Nếu Chúa Jêsus thực sự là Đấng Mêsi, nếu Ngài thực sự có quyền phép chữa lành như thế thì mọi sự bà ta cần phải lo làm là “rờ” đến trôn áo Ngài. Ngài sẽ không nhận biết được đâu! Bà ta có thể đến gần Ngài và chỉ "rờ đến trôn áo Ngài".  Bà ta không dám làm ô uế Ngài do cái chạm đến thân thể Ngài.
3. Hãy lưu ý các tư tưởng của bà ta trong câu 21: "Nếu ta chỉ rờ áo Ngài, thì cũng sẽ được lành”. Ngôn từ Hy lạp dịch sát nghĩa là: "Bà ta nhũ lòng". Bà ta đã lặp đi lặp lại nhiều lần trong trí suy nghĩ đơn sơ đó.
4. Mác 5.24 chép rằng khi Chúa Jêsus đi theo Giairu: "đoàn dân đông cùng đi theo và lấn ép Ngài". Dân chúng ở khắp mọi nơi. Không cứ cách nào đó, bà ta đã đến gần đủ để rờ “trôn áo” Ngài.
5. Bà ta không muốn cho người khác trông thấy. Bà ta tin Chúa Jêsus có quyền phép đến nỗi bà ta sẽ được lành mà chẳng phải làm phiền Ngài. Vì vậy bà ta đã thực thi kế hoạch của mình một cách trọn vẹn.
D. Phản ứng của Chúa Jêsus (câu 22).
1. Có hai việc xảy ra cùng một lúc: Bà ta được chữa lành và Chúa Jêsus nhận biết bà ta.
2. Thứ nhứt, bà ta được chữa lành. Câu 22 chép: "Liền trong giờ đó, người đờn bà lành bịnh". Mác  5.29 chép: "Cùng một lúc ấy, huyết lậu liền cầm lại; người nghe trong mình đã được lành bịnh". Luca  8.44 chép: "tức thì huyết cầm lại”.
3. Thứ hai, Chúa Jêsus nhận biết bà ta. Luca 8 cung ứng một cái nhìn rất tức cười vào bối cảnh nầy. Chúa Jêsus đã hỏi các môn đồ: "Ai sờ đến ta?" Phierơ đáp: "Thầy thấy đám đông lấn ép thầy, thầy còn hỏi rằng: Ai rờ đến ta?" Khi ấy Chúa Jêsus phán: "Có người đã rờ đến ta, vì ta nhận biết có quyền phép từ ta mà ra".
4. Hãy lưu ý ở đây, câu 22, Chúa Jêsus gọi bà ta là “con gái”. Đây là cách gọi rất tình cảm và thân thương. Đức tin của bà ta nơi Chúa Jêsus đã đem lại cho bà ta còn hơn cả được chữa lành nữa, đức tin ấy đã đem lại sự cứu rỗi cho bà ta, một mối tương giao yêu thương với Chúa hằng sống!
5. Ngài phán: "đức tin con đã làm cho con được lành". Bà ta đã được lành rồi, cả thuộc thể và thuộc linh vì bà ta đã bởi đức tin rờ đến Chúa Jêsus.
E. Bạn có thể đến gần và rờ đến Chúa Jêsus hôm nay.
1. Nhiều người đã đến gần Chúa Jêsus, nhưng chỉ có một vài người đến gần và rờ tới Ngài. Mỗi Chúa nhật, người ta đi nhà thờ và đến gần Chúa Jêsus nhưng họ không rờ đụng Ngài. Mỗi ngày người ta đọc Kinh thánh và lắng nghe phát thanh Cơ đốc hay nghe một người bạn làm chứng rồi đến gần Chúa Jêsus song lại chẳng rờ đụng Ngài.
2. Nếu có một ngàn bước giữa bạn và Chúa Jêsus, Ngài sẽ thực hiện 999 bước. Ngài sẽ đến gần bạn, nhưng bạn phải thực hiện bước sau cùng, bạn phải bước tới và rờ đụng Ngài.
3. Có nhiều người ở đây hôm nay đã đến gần Chúa Jêsus, nhưng họ phải bước tới và rờ đụng Ngài. Bạn còn chờ cái gì nữa chứ?
III. CHÚA JÊSUS BÀY TỎ RA QUYỀN PHÉP VÌ ƠN THƯƠNG XÓT CỦA NGÀI (các câu 23-26).
A. Ở đám tang, cơn đau đầu và hỗn độn đang ngự trị (câu 23).
1. Đức tin của người đờn bà bịnh hoạn kia đã khích lệ Giairu, người “cai” , là dường nào. Tôi dám chắc ông ta đã vịn lấy cánh tay Chúa Jêsus rồi hối thúc Ngài len qua đám đông đi tới nhà của ông ta.
2. Ngày nay, các đám tang của người Mỹ thường buồn rười rượi và có vẻ cung kính. Ai nấy thầm thì cách yên tỉnh khi họ nói chuyện với nhau. Trong thời buổi ấy tại xứ Palestine, các đám tang thì ồn ào, và “om sòm”.
3. Câu 23 chép có bọn “thổi sáo” nữa. Bọn nầy được các gia đình Do thái thuê để thổi cho lớn tiếng, thứ nhạc gây bối rối để cho khán thính giả phải suy gẫm về nỗi đau và sự bối rối mà gia đình người chết cảm nhận  được.
4. Cũng có “những kẻ khóc mướn” ở đó nữa. Tôi có nghe thấy tiếng kêu gào tận đáy lòng của người mẹ được tin con gái mình đã chết. Còn đây là chuyện khác nữa. Những kẻ khóc mướn chuyên nghiệp thường được các gia đình giàu có thuê để “khóc lóc” lớn tiếng. Đám tang mà có tiếng khóc lớn tiếng thì người chết càng được yêu quí hơn, theo truyền thống thì là như vậy.
B. Trong nhà của người cai nhà hội, nghi ngờ và sự nhạo báng được tỏ ra (câu 24).
1. Khi Giairu, Chúa Jêsus cùng các môn đồ tới gần bọn "làm om sòm” nầy, Chúa Jêsus phán: "Sao các ngươi làm ồn ào và khóc lóc vậy? Đứa trẻ chẳng phải chết, song nó ngủ”.
2. Bạn có thể hình dung ra bạn bè và người thân cảm nhận như thế nào không? Bạn có thể hình dung những kẻ khóc mướn nghĩ gì không? Điều nầy tương đương với việc vào một ngôi nhà có tang chế rồi nói với gia đình ấy ngày nay: "Đừng sợ, cha của anh chỉ ngủ mà thôi”.
3. Khi Laxarơ chết, Chúa Jêsus đã dặn gia đình: "Laxarơ, bạn ta, đương ngủ; nhưng ta đi đánh thức người" (Giăng 11.11). Chúa Jêsus đã phán về sự chết như đang ngủ chỉ ra cái chết là một trạng thái tạm thời mà thôi.
4. Kinh thánh chép: "Chúng nghe thì chê cười Ngài". Sát nghĩa câu nầy đọc là: "nhạo báng, chế giễu, cười, khinh mạn". Tôi dám chắc rằng họ đã nói đại loại như thế nầy: "Đúng, Ngài có thể chữa lành đủ thứ tật bịnh, khiến kẻ đui thấy được, kẻ què đi được, nhưng đứa gái nầy đã chết, C-H-Ế-T, CHẾT RỒI! Không có ai làm cho kẻ chết sống lại được đâu!"
5. Có nhiều người chế nhạo quyền phép của Đức Chúa Trời ngày hôm nay. Quyền phép đáng kinh sợ của Ngài một ngày kia sẽ tỏ ra số phận của họ!
C. Trong căn phòng của đứa gái, quyền phép và uy quyền đã được tỏ ra (câu 25).
1. Chúa Jêsus truyền rằng bọn làm om sòm kia phải "lui ra". Đem theo bố mẹ đứa gái, cùng với Giacơ, Giăng và Phierơ, Chúa Jêsus bước vào căn phòng nơi thi thể của nó đang nằm đó.
2. Tôi hình dung ra bối cảnh thật dịu dàng ở đây. Chúa Jêsus "cầm lấy tay đứa gái" y như tôi cầm lấy tay con gái của tôi lúc tôi nhẹ nhàng đánh thức nó.
3. Ngài phán trong Mác 5.40: "Talitha, cumi" nghĩa là "Chiên con nhỏ ơi, hãy chờ dậy!"
4. "Thì nó liền chờ dậy". Hãy tưởng tượng ra bối cảnh lúc Ngài trao nó cho bố mẹ nó! Hãy tưởng tượng những kẻ khóc mướn kia, là những người đã chế nhạo Chúa Jêsus khi đứa gái nhỏ đó chẳng còn động đậy chi nữa ở trên giường!
D. Khắp cả xứ, người ta đã chia sẻ cho nhau nỗi kinh ngạc và sự lạ lùng ấy (câu 26).
1. Mathiơ nói thêm vào: "Tin nầy đồn ra khắp cả xứ đó”. Lâu nay chẳng có một tin gì mới mẻ giống như tin nầy kể từ khi Êli làm cho con trai của người đờn bà goá sống lại!
2. Chúa Jêsus đã minh chứng, không những ơn thương xót của Ngài có cả cho người cai nhà hội nhiều quyền thế kia và người đờn bà bị bịnh mất huyết nọ, mà quyền phép Đấng Mêsi của Ngài cũng có cho kẻ chết nữa!
E. Chúa Jêsus vẫn còn làm cho kẻ chết sống lại ngày hôm nay!
1. Giăng 11.25: "Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi”.
2. Mỗi người được sanh ra trong thế gian nầy đều chết về mặt thuộc linh. Chúa Jêsus bởi ơn thương xót của Ngài làm cho kẻ chết về mặt thuộc linh được sống lại về mặt thuộc linh!
3. Ngài có thể ban cho bạn sự sống ngay hôm nay!
PHẦN KẾT LUẬN: Bạn có bao giờ để ý tới Jêsus nầy chưa? Ngài chưa hề dự một đám tang trọn vẹn nào hết! Ngài làm cho mỗi đám tang mà Ngài đến dự bị hư hỏng đi. Ngài có thể nắm lấy tang lễ của bạn rồi biến nó thành một sự hồi cư đầy vui mừng nếu bạn chịu đến với Ngài bằng sự hạ mình và đức tin!

***