Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

Bài 47: Mathiơ 12:33-37: "Sự Làm Chứng Của Cái Lưỡi"




MATHIƠ – VUA CÁC VUA

Sự làm chứng của cái lưỡi

Mathiơ 12:33-37
1. Câu chuyện kể về ba vị Mục sư, họ cùng nhau đi câu cá trong hoang vắng phía Bắc Canada. Trong khi họ ở đó, họ làm quen với nhau và bắt đầu nói về những tư tưởng tận đáy lòng của họ. Một người xưng rằng ông đã vật vã với sự thành thật và đã phạm phải tội xén bớt tiền bạc từ ngân sách của Hội Thánh của mình. Sau khi đưa ra lời xưng tội đáng giật mình nầy, ông đã khuyến khích hai người kia xưng ra tội lỗi của họ. Vị Mục sư thứ hai xưng rằng ông đã vật vã với tội lỗi về tình dục và đã phạm tội tà dâm với vài phụ nữ trong khi thi hành chức vụ của mình. Vị Mục sư thứ ba thì giữ im lặng trong một lúc lâu. Sau cùng khi bị thúc đẩy bởi hai người đồng sự, ông mới tỏ bày ra các điểm yếu của mình, ông nói: "Anh em ơi, tôi không nghĩ anh em muốn biết những điểm yếu của tôi, nhưng khi anh em cố quyết, tôi sẽ nói cho anh em biết. Tôi chỉ thích ngồi lê đôi mách, và tôi không muốn về nhà".
2. Trong tất cả tội lỗi mà người ta đã phạm phải, tội thông dụng nhất là tội lỗi của cái lưỡi.
A. Giacơ 3.8 chép: "nhưng cái lưỡi, không ai trị phục được nó; ấy là một vật dữ người ta không thể hãm dẹp được: đầy dẫy những chất độc giết chết”.
B. Giacơ 3.2 chép: "Chúng ta thảy đều vấp phạm nhiều cách lắm. Nếu có ai không vấp phạm trong lời nói mình, ấy là người trọn vẹn, hay hãm cầm cả mình".
3. Cần phải tính rằng một người trung bình phải trò chuyện 30 lần trong ngày. Mỗi ngày lời nói của người ấy có thể đóng thành một quyển sách dày khoảng 50-60 trang. Mỗi năm lời nói của người ấy có thể chứa trong hơn 100 quyển sách, mỗi quyển dày 200 trang. Cho nên chẳng có gì là lạ hết khi nói chúng ta phạm tội trong lời nói. Chúng ta sử dụng lời nói quá nhiều.
4. Tuần qua chúng ta đã học biết người Pharisi vu cáo Chúa Jêsus bằng cách nói: "Người nầy chỉ nhờ Bê-ên-xê-bun là chúa quỉ mà trừ quỉ đó thôi" (câu 24). Sau khi chỉ ra lời vu cáo của họ lố bịch là dường nào, Chúa Jêsus đã chỉ ra họ đã phạm thượng đối với Đức Thánh Linh bằng cách từ chối không chịu tin nơi Ngài mặc dù có chứng cớ rõ ràng Ngài đã và đang là Con của Đức Chúa Trời.
5. Trong phân đoạn nầy, Chúa Jêsus cho chúng ta thấy thể nào cái lưỡi tỏ ra những điều chất chứa trong tấm lòng và mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời Toàn Năng.

I. Thí dụ về cây (câu 33).

A. Chúa Jêsus gọi người Pharisi là "bịa" trong lý trí của họ.
1. Khi Chúa Jêsus phán: "Hoặc cho...", từ ngữ "make" (cho) có nghĩa là "xem xét, đánh giá, hay phán đoán". Chúng ta dùng chính từ nầy khi chúng ta nói: "Make up your mind" (hãy quyết định đi).
2. Chúa Jêsus đang phán: "Hãy quyết định về ta đi. Hoặc cho là ta tốt và công việc của ta làm là tốt, hoặc cho là ta xấu và công việc của ta làm là xấu".
B. Chúa Jêsus dạy rằng bởi lời nói và việc làm thì biết được người ta.
1. Chúa Jêsus phán: "Hoặc cho là cây tốt thì trái cũng tốt, hoặc cho là cây xấu thì trái cũng xấu”. Ngài tiếp tục phán: “vì xem trái thì biết cây” .
2. Chúa Jêsus đã sử dụng chính thí dụ nầy trong Bài Giảng Trên Núi của Ngài ở 7.17 ở đó Ngài phán như sau: "Vậy, hễ cây nào tốt thì sanh trái tốt; nhưng cây nào xấu thì sanh trái xấu".
3. Cây táo sanh trái táo. Cây đào sanh trái đào. Cây sầu riêng sanh trái sầu riêng có gai nhọn. Quí vị không thấy cây sầu riêng sanh trái đẹp bao giờ. Quí vị cũng không thể thấy cây đào sanh trái có gai đâu!?!
4. Satan đã đưa tội lỗi vào trong thế gian. Từ tội lỗi đó xảy ra tật bịnh, sự chết, sự huỷ diệt và quỉ ám. Chúa Jêsus đã đến trong thế gian chữa lành từng thứ bịnh tật, làm cho kẻ chết sống lại, và đuổi quỉ. Ngài mang theo một sứ điệp nói về đức tin và sự tha thứ. Thật là dại dột khi nói rằng Ngài đã làm công việc của mình bằng quyền phép của Satan khi Ngài tước đoạt công việc của Satan.
5. Những việc lành của Chúa Jêsus đều là bằng chứng khó tranh cãi về sự nhơn từ và quyền phép thiêng liêng của Ngài.
6. Cũng một thể ấy, người ta được nhận biết bởi trái của họ. Quí vị có thể nhìn thấy tánh tình bề trong của ai đó bởi đường lối họ đang sinh sống và lời lẽ mà họ đang nói ra.

II. Điều ác của tấm lòng (các câu 34-35).

A. Chúa Jêsus gọi người Pharisi là "dòng dõi rắn lục" (câu 34a).
1. Không những Chúa Jêsus sánh người Pharisi với một "cây" mà lại là cây "xấu", mà Ngài còn gọi họ là "dòng dõi rắn lục” nữa.
2. Trong 3.7, Giăng Báptít đã sử dụng phần mô tả nầy khi họ đến với ông để chịu phép báptêm. Về sau trong 23.33, Chúa Jêsus đã sử dụng phần nầy một lần nữa khi Ngài công bố một loạt "khốn thay" giáng trên họ vì sự dối trá của họ.
3. "Rắn lục" là một danh xưng dành cho loài rắn độc dữ đã tràn vào xứ Palestine. Chúng là loại độc dữ gây CHẾT CHÓC và phần lớn các nạn nhân của chúng đều ngã chết cách mau chóng. Chúng cũng là loài TRÁ HÌNH, trà trộn với cây cối. Một con rắn độc như thế đã cắn vị sứ đồ Phaolô trong Công vụ Các Sứ Đồ 28:3-6.
4. Một con rắn mẹ sẽ ôm ấp một số trứng và khi chúng nở ra, một "bầy" rắn nhỏ được thả vào trong thế gian.
5. Giống như một "dòng dõi rắn lục", người Pharisi đã rãi chất độc tôn giáo của họ về sự tuân giữ luật pháp và những lời truyền khẩu do con người lập ra. Mathiơ 23.15 chép: "Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi".
6. Mặc dù chúng ta được kêu gọi phải sống nhu mì, chúng ta cũng phải noi theo gương của Chúa chúng ta tỏ ra cho những kẻ xuyên tạc con đường cứu rỗi vì họ quả là loài “rắn lục” trá hình, gây chết chóc. Hầu hết hệ thống thờ lạy hình tượng đều có cơ sở của chúng nơi Cơ đốc giáo theo Kinh Thánh.
B. Tấm lòng gian ác của người Pharisi bị nhận ra là bởi lời nói của họ (câu 34b).
1. Chúa Jêsus hỏi: "làm sao các ngươi nói được sự tốt?" Bởi lời nói phạm thượng của họ, người Pharisi đã tỏ ra sự đồi bại của họ. Quả thực họ là "xấu" và mọi sự họ có thể "nói" cũng là "xấu" và tự mãn. Nếu họ chịu tìm kiếm điều “tốt” họ đã tiếp nhận Đấng Christ rồi.
2. Có lẽ sự nổi bật của tiểu đoạn nầy là câu nói: "Bởi vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra".
a. Trong Kinh Thánh, "lòng" là ngai của ý chí và sinh hoạt của tư tưởng. Tấm lòng tiêu biểu cho cá tánh bề trong của một người.
b. Chính do "sự đầy dẫy ở trong lòng" nên "miệng" mới “nói ra". Bất cứ điều chi lý trí quí vị định liệu, quí vị sẽ đặt thành lời bằng cái “miệng” của mình.
c. Êlihu, sau khi chờ một lúc lâu, ông đã nói với Gióp trong 32.18-20: "Vì tôi đã đầy dẫy lời nói, trí trong lòng tôi cảm giục tôi nói. Nầy, lòng tôi như rượu chưa khui, nó gần nứt ra như bầu rượu mới. Tôi sẽ nói và được nhẹ nhàng; Tôi sẽ mở môi miệng ra và đáp lời".
d. Châm ngôn 23.7 chép: "Vì hắn tưởng trong lòng thể nào, thì hắn quả thể ấy".
C. Chúng ta nói ra sự đầy dẫy của tấm lòng (câu 35).
1. Trong câu 35, Chúa Jêsus phán về "nơi chứa điều thiện" "nơi chứa điều ác" của tấm “lòng".
2. "Nơi chứa” (Treasure)  ra từ chữ Hy lạp thesauros, từ chữ nầy chúng ta có "thesaurus", nơi chứa lời nói. Ý nghĩa là nhà kho.
3. Tấm "lòng" là nơi chứa tư tưởng, những điều ham muốn, tình cảm và các thái độ. Người có “tấm lòng” đầy dẫy với ý tốt nói ra “những việc tốt". Người có “tấm lòng” đầy việc ác sẽ nói ra “điều ác”.
4. Trong Giacơ 3.11, ông hỏi: "Có lẽ nào một cái suối kia, đồng một mạch mà ra cả nước ngọt và nước đắng sao?"

III. Sự phán xét cái lưỡi (các câu 36-37).

A. Người ta sẽ bị phán xét bởi "từng lời hư không" (câu 36).
1. Vì lời nói của chúng ta đưa ra từng đánh giá chính xác của tấm lòng mình, chính vì lời nói của chúng ta mà chúng ta "sẽ khai ra" trong "ngày phán xét”.
2. Chúng ta không được cứu hay chịu phán xét bởi lời nói hay việc làm của chúng ta vì sự cứu rỗi chỉ bởi đức tin nơi Đấng Christ mà thôi. Tuy nhiên, lời nói và việc làm của chúng ta là bằng chứng của đức tin chúng ta nơi Đấng Christ.
3. Trong "ngày phán xét", khi Đức Chúa Trời xem lại đời sống của những tín đồ thực, mối tương giao của họ với Ngài sẽ được minh chứng bằng lời nói và hành động của họ. Mặt khác, khi Ngài xem lại đời sống của những người không tin, vô luận là rất tôn giáo hay rất kỉnh kiền thể nào, lời nói và việc làm của họ sẽ minh chứng sự họ thiếu đi một mối tương giao với Đấng Christ.
4. Không những người ta sẽ “khai ra”"phạm thượng nghịch lại Đức Thánh Linh" , mà còn vì “mọi lời nói hư không” nữa.
5. "Hư không" ra từ chữ argos có nghĩa là "vô giá trị, trơ trẻn hay vô ích". Những lời nói "hư không" là bất kỳ lời nói nào là vô dụng, suồng sã, hay không thích nghi.
6. Không những phải khai ra loại câu nói rủa sả và cách nói năng tục tỉu, mà còn cả cách ăn nói giả hình của người thiên về tôn giáo nữa. Chúa phán trong Êsai 29.13: "Vì dân nầy chỉ lấy miệng tới gần ta, lấy môi miếng tôn ta, mà lòng chúng nó thì cách xa ta lắm".
7. Các tín đồ sẽ vẫn có nhiều nan đề với cách ăn nói hết lúc nầy sang lúc khác. Chúng ta nên dâng lên lời cầu nguyện của tác giả Thi thiên trong Thi thiên 141.3: "Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy giữ miệng tôi, và canh cửa môi tôi".
Một người chơi gôn gặp một ngày khủng khiếp hết chuyện nầy tới chuyện khác. Ở lổ sau cùng, ông ta đã nổi cáu, rủa sả và chửi thề, rồi dùng gậy đập xuống đất. Sau cùng, khi bình tỉnh lại, ông nhìn bạn cùng chơi với mình nói nhỏ: "Tôi đoán là tôi phải bỏ đi thôi?" Người kia hỏi: "Bỏ chơi golf sao?" "Không, không phải golf đâu" ông ta buồn buồn nói: "bỏ chức vụ của tôi kìa".
8. Hết thảy mọi lời nói của người không tin Chúa đều vô giá trị về mặt thuộc linh. Người ấy chẳng có điều chi “tốt” ở trong lòng mình vì Đấng Christ không ngự ở đó.
B. Chúng ta một là “được xưng công bình” hoặc là “chịu xét đoán” bởi lời nói của chúng ta (câu 37).
1. "Ngày phán xét" dành cho người vô tín được gọi là Toà Lớn và Trắng (đối chiếu Khải huyền 20.11). Ở đây mọi tội lỗi, lời nói và việc làm sẽ diễu hành trước mặt người và người sẽ chịu “phán xét” vì người đã chối bỏ sự Đấng Christ trả thay cho nợ tội của người trên thập tự giá.
2. "Ngày phán xét" dành cho người tin Chúa được gọi là Toà Án Đức Chúa Trời  (đối chiếu Rôma 14.10). Mặc dù không có một sự phán xét nào dành cho người tin Chúa, chúng ta nhận lãnh phần thưởng hay mất phần thưởng vì những việc đã làm lúc còn trong xác thịt. Hết thảy chúng ta sẽ mất phần thưởng dựa theo những lời nói "hư không" và những việc làm vô ý tứ.
Có người nói: "Cái muỗng luôn luôn rộng gấp bằng hai khi bạn lấy một liều thuốc cho mình". Trong ánh sáng sự dạy của Chúa Jêsus trong Mathiơ 12, chúng ta phải đóng ngoặc đơn lẽ thật đó: "Lời nói tỏ ra là nhỏ nhoi hư không và tầm phào ở đây sẽ hiện ra to lớn như dãy núi sai lầm khi chúng ta đối diện với chúng trong sự phán xét!" Không những mấy lời gian ác mà lưỡi thốt ra sẽ chổi dậy nghịch lại chúng ta trong ngày ấy, mà còn mọi lời nói hư không, dại dột mà chúng ta sẽ phải khai trình nữa!
PHẦN KẾT LUẬN:
1. Từng người phải xem xét bông trái của mình để thấy mình có ở trong đức tin hay không!?!
2. Những người tin Chúa phải cẩn thận về "mọi lời nói hư không" vì sự thiệt hại sẽ giáng trên cả ở đây và trong cõi đời đời nữa đấy.



Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013

Bài 46: Mathiơ 12:22-32: "Tội Không Đáng Tha Thứ"




MATHIƠ – VUA CÁC VUA

Tội không đáng tha thứ

Mathiơ 12:22-32
1. Hết lúc nầy đến lúc khác, có người đến hỏi tôi: "Thưa Mục sư, ông có tin vào tội không đáng tha thứ không?" Những điều họ muốn nói là tôi có tin rằng có người phạm tội tồi tệ đến nỗi Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ tha thứ cho người ấy chăng? Liệu có người trở thành tay giết người, say xỉn, hư hỏng, lừa đảo, v.v... đến nỗi người ấy đã đi quá mức ân điển của Đức Chúa Trời không? Không, tôi không tin như thế đâu!
2. Đức Chúa Trời của chúng ta được đánh dấu bằng sự tha thứ.
A. Thi thiên 86.5 chép: "Chúa ôi! Chúa là thiện, sẵn tha thứ cho, ban sự nhơn từ dư dật cho những người kêu cầu cùng Chúa".
B. Thi thiên 103.3 cho biết: "Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, chữa lành mọi bịnh tật ngươi".
C. Đaniên 9.9 nhắc cho chúng ta nhớ: "Những sự thương xót và tha thứ đều thuộc về Chúa là Đức Chúa Trời chúng tôi; bởi chúng tôi đã bạn nghịch cùng Ngài".
D. Xuất Êdíptô ký 34.6-7 chép: "Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực,  ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời".
3. Kinh Cựu Ước đầy dẫy với những điển hình về sự tha thứ của Đức Chúa Trời, nào là Ađam và Êva, Ápraham, Ysác, Giacốp, Môise. Di sản của nước Israel là di sản của tội lỗi và sự tha thứ.
4. Kinh Tân Ước có nhiều sự dạy về ơn tha thứ của Đức Chúa Trời.
A. Êphêsô 1.7 chép: "Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài".
B. 1 Giăng 1.9 chép: "Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác".
C. Tội lỗi tệ hại nhất mà chúng ta có thể hình dung được là tội giết chính Con một của Đức Chúa Trời đang khi Ngài ra sức tìm cứu chúng ta. Ấy là từ trên thập tự giá, Chúa Jêsus đã cầu nguyện: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Đoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài" (Luca 23.34).
5. Ở một chừng mực nào đó, thậm chí Đức Chúa Trời tha thứ cho tội chối bỏ Đấng Christ, vì trước khi chúng ta trở thành người tin Chúa, hết thảy chúng ta đều là hạng người chối bỏ Đấng Christ.
6. Mặc dù ít nhất là một năm trước khi Chúa Jêsus bị người ta đóng đinh trên thập tự giá, các cấp lãnh đạo tôn giáo đã xem Ngài là một mối đe doạ cho Do thái giáo và bắt đầu tỏ vẽ thù nghịch tấn công vào Ngài.

I. Một sự chữa lành đáng ngạc nhiên (các câu 22-23).

A. Chúa Jêsus chữa lành cho kẻ mắc nhiều chứng bịnh (câu 22).
1. Câu 15 cho chúng ta biết rằng "có nhiều người" đã đi theo Chúa Jêsus và "Ngài chữa lành cả". Có lẽ người nầy mới vừa đến. Ông ta không thể tự mình đi theo Chúa Jêsus nên có mấy kẻ "đem" ông ta đến với Ngài.
2. Ngày nay, người ta hiếm khi tìm gặp Chúa Jêsus bằng sức lực riêng của họ. Họ phải được "đem đến".
3. Người nầy có hai nan đề: về thuộc linh và về thuộc thể. Nói theo cách thuộc linh, ông ta đã bị "quỉ ám". Về mặt thuộc thể, ông ta bị "đui" "câm" , và chắc chắn là điếc nữa, một khi điếc hay đi đôi với câm.
4. Chúa Jêsus đã thực thi quyền phép của Ngài trên cả hai lãnh vực và đã “chữa lành” cho người đó. Ông ta là người đã bị “đui và câm” giờ đây đã "nói và thấy được".
B. Đoàn dân đông lấy làm lạ (câu 23).
1. Thật là lạ lùng và ngay lập tức, linh hồn đáng thương nầy đã được giải phóng cho. “Đoàn dân đông” nhận rõ sự chữa lành nầy.
2. "Lấy làm lạ" ra từ một từ ngữ Hy lạp không phổ thông lắm có nghĩa là "không giữ bình tỉnh được". Những định nghĩa khác bởi các nhà ngôn ngữ học, tỉ như: "hoàn toàn kinh ngạc", "trong lòng lấy làm lạ và kinh ngạc", "ý thức bị đánh gục", “vẽ kinh ngạc lộ ra nơi tâm trí".
3. Ở một chừng mực nào đó, chúng ta không thể thấy rõ hết, phép lạ đặc biệt nầy đã thắng hơn họ, đoàn dân đông. Phép lạ nầy được phân biệt hiển nhiên với nhiều phép lạ khác.
4. “Đoàn dân đông” trong chính ngày đó đã nhìn thấy Chúa Jêsus làm ra nhiều sự chữa lành. Không một ai phản kháng khả năng chữa lành của Ngài. Tuy nhiên, vì cớ phép lạ phi thường nầy, người ta đã lấy làm lạ khi hỏi: "Có phải người đó là con cháu vua Đa-vít chăng?"
5. "Con cháu David" là tước hiệu của Đấng Mêsi.

II. Một lời vu cáo lố bịch (các câu 24-30).

A. Người Pharisi chỉ ra nguồn quyền phép của Chúa Jêsus (câu 24).
1. Có lẽ chính thắc mắc về địa vị của Đấng Mêsi khiến cho người Pharisi góp ý cho chúng ta thấy một lời đề nghị lố bịch như thế. Rõ ràng đây là câu nói mà lẽ ra không nên nói ra.
2. Họ nói Chúa Jêsus "nhờ Bêên-Xêbun là chúa quỉ mà trừ quỉ đó thôi". Đây là câu nói tương phản với cách nói cho Ngài là “Con cháu David’. “Bêên-Xêbun” là danh xưng của một vị thần xứ Canaan mà dân xứ ấy gọi là “chúa quỉ".
3. Với sự thù ghét, họ đang ra sức đầu độc “đoàn dân đông” chống lại Chúa Jêsus.
B. Chúa Jêsus chỉ ra sự lố bịch trong lời vu cáo của họ (các câu 25-26).
1. Thứ nhứt, hãy chú ý rằng Chúa Jêsus "biết ý tưởng họ". Mặc dù họ cứ đẩy đưa lời nói vu lố bịch nầy qua đám dân đông, Chúa Jêsus vốn biết rõ họ đang suy nghĩ và đang nói gì. Vì vậy Ngài đã giảng cho họ nghe.
2. Ngài phán rằng bất kỳ "nước" nào "tự nó chia xé nhau" sẽ dẫn tới chỗ "bị phá hoang" và bất kỳ "một thành hay một nhà mà chia xé nhau thì không còn được". Sự tranh chấp nội bộ dẫn tới sự hủy diệt. Abraham Lincoln đã trưng dẫn câu nói nầy để chỉ ra thảm họa của cuộc Nội Chiến.
3. Mặc dù Satan là cha của kẻ nói dối, chắc chắn hắn sẽ không để cho các thế lực của hắn đánh đấm lẫn nhau hoặc hắn sẽ hủy diệt chương trình của hắn.
4. Hiểu như thế nầy thì rất là hợp lý: "nếu Satan đánh đuổi Satan, hắn sẽ tự chia xé mình""nước" của hắn sẽ không sao “còn” được.
C. Chúa Jêsus chỉ ra lời vu cáo của họ là quá thành kiến (câu 27).
1. Chúa Jêsus phán rằng nếu họ nói Ngài đã đuổi quỉ bằng quyền phép của Satan là đúng, thế thì bởi đâu “các con” của họ trừ quỉ cho được?
2. "Các con" có ý ám chỉ đến các môn đồ hay những kẻ theo họ. Chắc chắn có những người Do thái đã luyện tập phù phép. Josephus nói cho chúng ta biết là họ thường sử dụng bùa ngải phù chú cùng các nghi thức thờ lạy hình tượng để đuổi quỉ.
3. Hãy mở ra Công Vụ các Sứ Đồ 19.13-14 để thấy rõ bằng chứng về cách thực hành nầy.
4. Chúa Jêsus chỉ ra là họ đã chấp nhận các thứ phù chú mà “các con” của họ đã ra sức thực thi như một phần đức tin của họ, nhưng đã từ chối không chấp nhận quyền phép trọn vẹn của Ngài thắng hơn các thế lực của ma quỉ và khả năng của Ngài chữa lành mọi thứ tật bịnh, họ tố cáo Ngài đang làm việc cho Satan!
5. Khi một lý trí có thành kiến, nó không nhìn thấy một điều chi tốt đẹp hết. Một số tín đồ có thành kiến với nhà thờ hay hệ phái khác đến nỗi mọi lập luận của họ không cho phép họ nhìn thấy một việc làm nào tốt đẹp đã được làm ra.
D. Chúa Jêsus chỉ ra lời vu cáo của họ là loạn nghịch (các câu 28-30).
1. Vì rất là lố bịch khi cho rằng quyền phép của của Chúa Jêsus đã ra từ Satan, Ngài nói cho họ biết chỉ có một nguồn khả thi duy nhất mà thôi: "Thánh Linh của Đức Chúa Trời".
2. Nếu Chúa Jêsus đã “cậy Thánh Linh Đức Chúa Trời” mà làm công việc của Ngài thì công việc của Ngài chính là công việc của Đức Chúa Trời và Ngài chính là “con cháu David", là Đấng Mêsi. Nếu Ngài thực sự là “Con cháu David” thì “Nước Đức Chúa Trời đã đến với họ rồi.
3. Lý do chính mà họ đã đưa ra một sự giải thích lố bịch như thế là vì họ đã ở trong sự loạn nghịch với Đức Chúa Trời. Các Hội thánh, những vị Mục sư, và các giáo sĩ ngày nay chắc chắn không phải là không phạm sai lầm; tuy nhiên, hầu hết những kẻ chỉ trích họ vì những kẻ ấy, bản thân họ đang ở trong sự loạn nghịch với Đức Chúa Trời rồi.
4. Chúa Jêsus đưa ra một câu hỏi có tính cách thăm dò trong câu 29. Để cướp của từ "một người mạnh sức", trước tiên người ta phải "trói người mạnh sức" lại, Satan là kẻ "mạnh sức". Để cho một người “cướp” lấy nước của Satan, người ấy cần phải mạnh sức hơn, để "trói" hắn lại.
5. Rất nhiều lần, Chúa Jêsus đã trói Satan và đã cướp lấy nhà của hắn. Ngài đã giải cứu kẻ bị quỉ ám, đã chữa lành cho người què, kẻ bị mù, người câm điếc và tật bịnh. Thậm chí Ngài còn làm cho kẻ chết sống lại nữa! Chúa Jêsus đã bước đi trên mọi lãnh vực của Satan và hắn đã vô quyền không cản chi được Ngài! Tuy nhiên, với sự loạn nghịch có trong tấm lòng của họ, người Pharisi đã từ chối không chịu tin.
6. Chúa Jêsus phán: "Ai không ở với ta, thì nghịch cùng ta". Chúng ta không công khai chống đối Chúa Jêsus để bị xem là “nghịch” Ngài, chúng ta chỉ “không” “với” Ngài mà thôi. Nếu quí vị không ở “với” Chúa Jêsus, quí vị đang “nghịch” lại với Chúa Jêsus.
7. Chúa Jêsus cũng phán: "Ai không thâu hiệp với ta, thì tan ra". Người nào không “thâu hiệp” với Ngài, cho dù họ không chống đối Ngài, vẫn "tan ra" nghịch lại Ngài.
8. Chúng ta không thể nói rằng Chúa Jêsus chỉ là một người lành, một giáo sư hay một vị lãnh đạo thuộc linh lỗi lạc. Một là Ngài làm Vua và làm Chúa của đời sống chúng ta hoặc không phải thế. Không có vùng đất trung lập nào hết. Một là chúng ta làm việc “với” Ngài hoặc “nghịch” lại Ngài. Thật là tệ hại khi vẫn có một số người “nghịch” Ngài trong danh nghĩa của tôn giáo.

III. Một tội không thể tha thứ (các câu 31-32).

A. Chúa Jêsus tha thứ từng tội lỗi và sự phạm thượng, trừ ra một tội (câu 31a).
1. Nhờ ân điển và sự thương xót của Ngài, Chúa Jêsus tha thứ mọi hình thái của “tội lỗi”. Thiên đàng có những kẻ giết người, những kẻ hư hỏng đồi trụy đã được chuộc và đã được tha thứ, họ được định cư ở đó. Nếu Đức Chúa Trời không tha thứ cho họ, Ngài không thể tha thứ cho chúng ta.
2. "Phạm thượng" là một loại “tội lỗi”, nhưng cả hai được phân ra riêng biệt trong phân đoạn nầy. Có người định nghĩa "phạm thượng" theo cách nầy "bất kính cố ý, tội cố ý ghê khiếp và công khai nói xấu nghịch lại Đức Chúa Trời thánh khiết hay chế giễu nhạo báng Ngài". Những kẻ phạm thượng đã bị ném đá trong thời kỳ Cựu Ước (Lêvi ký 24.16).
3. Chúa Jêsus phán rằng ngay cả "phạm thượng" cũng sẽ được “tha” khi tội nhân xưng tội và ăn năn.
a. Hãy lắng nghe lời lẽ của sứ đồ Phaolô trong I Timôthê 1.13-14: "ta ngày trước vốn là người phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo, nhưng ta đã đội ơn thương xót, vì ta đã làm những sự đó đương lúc ta ngu muội chưa tin. Ân điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong ta, với đức tin cùng sự thương yêu trong Đức Chúa Jêsus Christ”.
b. Khi Phierơ chối Chúa Jêsus, ông đã rủa sả và đã thề thốt, đã phạm thượng với Chúa. Tuy nhiên, Phierơ đã tìm gặp ơn tha thứ và được phục hồi.
B. Phạm thượng nghịch lại Đức Thánh Linh thì không thể tha thứ được (các câu 31b-32).
1. Hỏi: “Lời phạm thượng đến Đức Thánh Linh” là lời gì? Đáp: "Phạm thượng đến Đức Thánh Linh" là lời từ chối được lặp đi lặp lại, sau khi xem xét mọi chứng cớ, cố ý bất chấp không tiếp nhận Đấng Christ làm Chúa. Người Pharisi  đã phạm phải tội không đáng được tha thứ nầy.
2. Chúa Jêsus phán rằng cho dù có ai "nói phạm đến Con Người, thì sẽ được tha". Nếu do sự thiếu hiểu biết, không hiểu Ngài là ai, ai đó chối bỏ Chúa Jêsus hoặc sử dụng danh thánh của Ngài như một sự rủa sả, người ấy vẫn có thể được “tha”. Người ấy đã nói năng hoặc hành động mà không có sự hiểu biết.
3. Tuy nhiên, người nào "nói phạm đến Đức Thánh Linh" sẽ không bao giờ được tha thứ. Tại sao? Đâu là sự khác biệt?
a. Đức Thánh Linh mong muốn nhiều người được cứu. Ngài thuyết phục chúng ta, kêu gọi và buộc chúng ta phải đến với Đấng Christ.
b. Khi có người nào, sau khi nghe và hiểu biết Tin lành, đã cố tình quay mặt đi, người ấy đã phạm thượng đến Đức Thánh Linh và bị hư mất cho đến đời đời.
4. Một người thể ấy còn có thể được cứu không? Chúa Jêsus phán người thể ấy “thì dầu đời nầy hay đời sau cũng sẽ chẳng được tha".
5. “Làm sao một người biết mình ‘đã phạm thượng đến Đức Thánh Linh?’" Nếu một người vẫn còn tìm kiếm, vẫn còn rộng mở, vẫn có lòng tin... người ấy không chối bỏ Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, người ấy chịu phục quay trở lại trước khi đi quá xa.



Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

Bài 45: Mathiơ 12:15-21: "Tôi Tớ Cao Trọng Nhất Của Đức Chúa Trời"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA

Tôi tớ cao trọng nhất

của Đức Chúa Trời

Mathiơ 12.15-21
1. Đức Chúa Trời đã có nhiều tôi tớ được chọn. ÁPRAHAM ai cũng biết là vì đức tin lớn của ông. GIÔSÉP ai cũng biết vì tính quả quyết của ông. MÔISE ai cũng biết vì tình thiệt hữu của ông với Đức Chúa Trời. GIÔSUÊ ai cũng biết vì lòng can đảm của ông. DAVID ai cũng biết vì cớ tấm lòng của ông. ĐANIÊN ai cũng biết vì cớ sự vâng phục của ông. Đức Chúa Trời cũng đã có hạng tôi tớ hâm hẩm như  BALAAMGIÔNA. Trong Tân ước, có PHIERƠ rất hăng hái, PHAOLÔ đầy nhiệt huyết, TIMÔTHÊ trẻ tuổi, và GIĂNG đã cao tuổi.
2. Trong tất cả các tôi tớ của Đức Chúa Trời, tôi tớ cao trọng nhất chính là Đức Chúa Jêsus Christ. Chúng ta thường nghĩ tới Chúa Jêsus là Vua các vua và Chúa các chúa. Chúng ta nghĩ tới Ngài là Đấng ngự trên cao và là Đấng Tể Trị Tối Cao của muôn loài vạn vật. Tuy nhiên, chúng ta thường không nghĩ tới Ngài là một tôi tớ. Phải, đấy là chức vụ trên đất của Ngài...phục vụ. Sách Mác đã được viết ra với lẽ đạo nói tới Cứu Chúa phục vụ. Câu trọng tâm của sách nầy là 10.45: "Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người". Chúa Jêsus hoàn toàn làm cho mình ra trống không theo ý chỉ của Đức Chúa Cha.
3. Phân đoạn nầy là viên đá được chạm trổ, là một bản đồ hoạ chính xác chức vụ tôi tớ của Đấng Christ. Trong khi đọc qua chương nầy, quí vị sẽ bị cám dỗ đọc qua thật nhanh mấy câu nầy giống như chúng không nằm đúng vị trí trong tác phẩm đối thoại và tường thuật. Tuy nhiên, chúng ta hãy dừng lại và đào sâu vào trong những sự giàu có của phân đoạn nầy khi chúng ta xem xét 7 tấm gương tôi tớ của Đấng Christ và đổi lại, ứng dụng một số lẽ thật liên quan tới sự phục vụ của chúng ta đối với Đức Chúa Trời.

I. Chúa Jêsus rất tận tâm với ý chỉ của Đức Chúa Trời (các câu 15-17).

A. Đoàn dân đông theo sau Chúa Jêsus (câu 15).
1. Chúa Jêsus "biết" người Pharisi đang bàn bạc "lập mưu giết Ngài" và vì vậy Ngài đã rời nhà hội sau khi chữa lành cho một người vào ngày sabát. Ngài đã không sợ hãi, song đấy không phải là giờ chết định cho Ngài đâu.
2. Khi Ngài "bỏ đi khỏi chỗ đó...có nhiều người theo Ngài". Họ sẽ không để cho Ngài lìa khỏi họ.
3. Mặc dù Ngài rất mệt mỏi sau một ngày dài, câu nầy hàm ý: "Ngài chữa lành cả". Mọi người đều nhận lãnh sự chăm sóc.
B. Chúa Jêsus cấm ngặt họ đừng cho ai biết Ngài (câu 16).
1. Từ ngữ "cấm ngặt" ra từ chữ Hy lạp có gốc rễ mang ý nghĩa "đòi hỏi gay gắt". Nói cách khác, Chúa Jêsus không cho dân sự có ý kiến gì, họ không nên có một sự chọn lựa nào hết. Họ bị cấm ngặt, phải giữ im lặng về quyền phép chữa lành của Ngài, đừng cho “ai biết Ngài”.
2. Tại sao vậy? Tại sao họ phải giữ kín như thế? Có vài câu trả lời đích đáng, nhưng tôi nghĩ có hai câu trả lời quan trọng nhất. Thứ nhứt, Chúa Jêsus không muốn các phép lạ trở thành tiêu điểm của chức vụ Ngài. Thứ hai, chưa phải lúc để cho Ngài tỏ mình. Đây là thời điểm của sự hạ mình, chớ không phải thời điểm của sự tôn cao.
C. Chúa Jêsus đã đến để làm ứng nghiệm Kinh Thánh (câu 17). Chúa Jêsus đã đến để hết thảy những lời tiên tri nói về Đấng Mêsi sẽ được “ứng nghiệm”. Phân đoạn nầy nêu rõ "Êsai đã nói". Câu nối theo sau  là một trưng dẫn từ Êsai 42.1- 4, một phác hoạ đẹp đẽ về một Cứu Chúa phục vụ.
D. Giống như Chúa Jêsus, chúng ta phải dâng mình làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus không đến để thiết lập một Nước theo đời nầy, dù sự đến ấy là xuất thần. Ngài không đến để gây ấn tượng cho người ta. Ngài đã đến để làm theo ý chỉ của Đức Chúa Cha. Ngài đã phán trong Giăng 6.38: "Vì ta từ trên trời xuống, chẳng phải để làm theo ý ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai ta đến". Vì vậy chúng ta không nên nhắm vào ý định của con người hay ý định ích kỷ của chính chúng ta, mà phải nhắm theo ý chỉ của Đức Chúa Cha.

II. Chúa Jêsus được khen ngợi bởi Lời của Đức Chúa Trời (câu 18a).

A. Chúa Jêsus đã được Đức Chúa Cha “chọn”.
1. Từ Hy lạp chỉ về “tôi tớ” ở đây là bất thường. Đây là từ mô tả một tôi tớ sống gần gũi với chủ của mình đến nỗi người được xem là con.
2. Chúa Jêsus đã được “chọn” không theo ý nghĩa Ngài được chọn từ những người đến xin việc. Ngài là Con độc sanh của Đức Chúa Trời. Ngài đã được “chọn” theo ý nghĩa Ngài là Đấng duy nhất có khả năng mua lấy sự cứu rỗi cho chúng ta.
B. Chúa Jêsus là Con “yêu dấu” của Đức Chúa Cha. Chúa Jêsus đã và đang bị thù ghét bởi người thế gian cho dù Ngài là Con “yêu dấu” của Đức Chúa Cha. Êphêsô 1.6-7 chép: "để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài! Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài".
C. Chúa Jêsus là Con vừa lòng đối với Đức Chúa Cha. Lúc Chúa Jêsus chịu phép báptêm, Đức Chúa Cha đã khẳng định lẽ thật của lời tiên tri khi Ngài phán bằng một giọng nói đến từ trời: "Nầy là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đường" (Mathiơ 3.17).
D. Giống như Chúa Jêsus, chúng ta được Đức Chúa Trời khen ngợi. Qua sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jêsus Christ, chúng ta trở thành những người được “chọn” của Đức Chúa Trời. Chúng ta được “tiếp nhận trong thân thể yêu dấu của Đấng Christ”, là cô dâu của Chúa Jêsus. Bởi sự công bình của Ngài, chúng ta được làm cho đẹp lòng đối với Đức Chúa Cha.

III. Chúa Jêsus được Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự vào (câu 18b).

A. Đức Chúa Trời "cho Thánh Linh" Ngài ngự trên Chúa Jêsus. Chúng ta biết từ Mathiơ 1.20 rằng Chúa Jêsus được "thai dựng...bởi Đức Thánh Linh". Chúng ta biết từ 3.16 rằng lúc chịu phép báptêm Đức Thánh Linh đã ngự xuống "như chim bò câu, đậu trên Ngài". Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hoá Toàn Năng Toàn Tại Toàn Tri. Ngài là Một trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Tại sao Chúa Jêsus cần Đức Thánh Linh “đậu trên Ngài?" Tôi đề nghị hai lý do:
1. Chúa Jêsus cần Đức Thánh Linh vì Ngài vừa là Đức Chúa Trời trọn vẹn, cũng là con người trọn vẹn nữa. Ngài đã chịu đựng tất cả những sự cám dỗ mà con người nhìn biết. Sức lực thuộc thể của Ngài bị hạn chế trong sức lực của một con người. Nhân tính của Ngài đòi hỏi quyền phép của Đức Thánh Linh để ca tụng thần tính của Ngài. Công vụ Các Sứ Đồ 10.38 chép "thể nào Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Jêsus ở Nazarét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép".
2. Chúa Jêsus cần Đức Thánh Linh vì sự hiện diện và quyền phép của Đức Thánh Linh chứng thực lai lịch Ngài là Đấng Mêsi. Một phân đoạn Cựu ước tiên báo Đức Chúa Trời sẽ "cho Thánh Linh đậu trên Ngài". Đức Thánh Linh đã xác định uy quyền và sự tán thưởng của Đức Chúa Cha về Chúa Jêsus (đối chiếu Luca 4.18-19).
B. Giống như Chúa Jêsus, Đức Chúa Trời đã đặt Thánh Linh Ngài trong và trên chúng ta. Tất cả những ai là tín đồ đích thực đều ở trong hay được dầm thấm trong Đức Thánh Linh. Vì Ngài là một Đấng thường trú trong đời sống chúng ta, Ngài có thể làm cho chúng ta đầy dẫy và tể trị chúng ta khi chúng ta thuận phục Ngài. Chức năng tôi tớ phải phục theo chức năng lãnh đạo của Đức Thánh Linh.

IV. Chúa Jêsus đang truyền đạt sứ điệp của Đức Chúa Trời (câu 18c).

A. Chúa Jêsus đã đến không những vì người Do thái, mà cũng vì “dân Ngoại” nữa
1. Một phần giao ước với Ápraham chép: "Và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước" (Sáng thế ký 12.3).
2. Simêôn, cụ tiên tri trong đền thờ khi Chúa Jêsus giáng sinh đã nói Ngài là "ánh sáng soi khắp thiên hạ, và làm vinh hiển cho dân Israel là dân Ngài" (Luca 2.32).
3. Người đờn bà đầu tiên mà Chúa Jêsus đã tỏ ra cho người biết Ngài là Đấng Mêsi là một người Samari. Ngài phán với bà ta trong Giăng 4.26: "Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó".
4. Chúa Jêsus đã phán về thầy đội La mã trong 8.10: "Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta chưa hề thấy ai trong dân Y-sơ-ra-ên có đức tin lớn dường ấy!"
5. Mác 3.8 nói cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus đã tận tuỵ với các môn đồ đến từ "xứ Y đu mê, xứ bên kia sông Giôđanh; miền xung quanh thành Tyrơ và thành Siđôn cũng vậy".
B. Chúa Jêsus đã đến để "rao giảng sự công bình” cho cả thế gian.
1. Người Do thái nghĩ họ là tuyển dân duy nhất của Đức Chúa Trời, mọi dân khác trên thế gian bị hư mất trong vô vọng. Họ xem khinh ý niệm cho rằng bất kỳ dân Ngoại nào được xếp đồng đẳng với họ trong Vương quốc. Đây là một trong những lý do mà họ rất ghét bỏ Chúa Jêsus.
2. Chúa Jêsus đã đến vì mọi người. Ngài đã phán trong Giăng 12.32: "Còn ta, khi ta đã được treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta". Một trong những câu chuyện đẹp đẽ nhất nói về Chúa Jêsus đang đến với một người dân Ngoại là câu chuyện nói tới người đờn bà SirôPhênixi trong Mác 7 với đứa trẻ bị quỉ ám.
3. Chúa Jêsus công khai rao giảng “sự công bình của Đức Chúa Trời”  và ân điển của Ngài cho cả thế gian.
C. Giống như Chúa Jêsus, chúng ta phải rao giảng Lời của Ngài cho mọi người!

V. Chúa Jêsus sống phù hợp với chương trình của Đức Chúa Trời (câu 19).

A. Chúa Jêsus chẳng "cãi lẫy", Ngài cũng chẳng “kêu la”.
1. "Cãi lẫy" có nghĩa là cãi cọ ầm ĩ, tranh cãi, và thậm chí cãi lộn to tiếng. "Kêu la" có nghĩa là "hò hét hay kêu xé tai inh ỏi". Đây là một từ ngữ dùng để mô tả một con chó đang sủa, một con chim đang kêu quang quác hay thậm chí tiếng rên rỉ của kẻ say rượu.
2. Chúa Jêsus không hề dùng bất kỳ phương pháp phỉnh phờ nào để truyền đạt sứ điệp của Ngài. Ngài không hề sử dụng hình thức tình cảm, lôi kéo vận động, hoặc nổi loạn căn cứ vào thành kiến để có được nhiều người theo Ngài. Hầu hết các cấp lãnh đạo chính trên thế giới đã sử dụng các phương pháp nầy để kiếm cho kỳ được nhiều người ủng hộ.
3. Chúa Jêsus đã mang theo mình lòng tự trọng và tiết độ. Sứ điệp của Ngài luôn luôn là lẽ thật đời đời áp dụng cho nhiều tấm lòng và đời sống bởi quyền phép của Đức Thánh Linh. Mục tiêu của Ngài là chu toàn chương trình của Đức Chúa Trời, chớ không kiếm số người ủng hộ.
B. Không hề “có ai nghe tiếng Ngài trên đường phố”. Truyền đạo l.9-17 chép: "Lời của người khôn ngoan được nghe tại nơi êm lặng còn hơn tiếng kêu la của kẻ cai trị trong đám dại dột".
C. Giống như Chúa Jêsus, tiêu điểm của chúng ta phải nhắm vào chương trình của Đức Chúa Trời, chớ không nhắm vào sự chúng ta được lòng người. Hãy chú ý lời lẽ của sứ đồ Phaolô trong I Côrinhtô 2.1-4.

VI. Chúa Jêsus đang khẳng định lòng thương xót của Đức Chúa Trời (câu 20a).

A. Chúa Jêsus là một Thân Vị thương xót tử tế.
1. Sậy thường mọc dọc theo hai bên bờ sông ở xứ Israel. Thường thì những người chăn chiên sử dụng chúng để làm các thứ ống sáo. Một cây “sậy” bị “bẻ cong” hay bẻ gãy, nó bị xem là vô dụng khi bị gãy hoặc bị ném bỏ.
2. Khi tim của ngọn đèn cháy hết, nó sẽ chẳng còn phát ra chút ánh sáng nào và sẽ bị dập rồi bị ném bỏ đi.
3. Câu nầy chỉ ra cho thấy thể nào Chúa Jêsus nhìn thấy dân sự dường như vô giá trị đối với thế gian. Xã hội, thậm chí cả Hội Thánh cũng có khi gạt bỏ hạng người nầy qua một bên. Bản chất của con người là huỷ diệt hay gạt bỏ; bổn tánh của Đức Chúa Trời là phục hồi.
B. Giống như Chúa Jêsus, chúng ta cần tấm lòng tử tế và biết thương xót dành cho "hạng người vô dụng". Chúng ta cần làm mới lại tình yêu của chúng ta dành cho người già, “hạng cặn bã của xã hội” v.v...

VII. Chúa Jêsus sắp hoàn tất phần chiến thắng của Đức Chúa Trời  (các câu 15-17).

A. Chúa Jêsus được định cho phải “đắc thắng”.
1. Mặc dù bị hiểu lầm, bị bắt bớ, bị lấn lướt, bị chối bỏ và bị đóng đinh trên thập tự giá, Chúa Jêsus đã đạt được một sự đắc thắng hoàn toàn trên thập tự giá!
2. Khi "Ngài khiến sự công bình được thắng", Chúa Jêsus sẽ lãnh đạo dân sự Ngài và ngự trên ngai hợp pháp của Ngài là Vua các vua.
B. Giống như Chúa Jêsus, chúng ta được định cho phải “đắc thắng”. Đừng để cho thế gian nầy hạ thấp quí vị xuống. Quí vị được định cho một số phận lớn lao hơn nhiều lắm.