Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Bài 81 Mathiơ 23:34-39: "TIẾNG KÊU TẬN ĐÁY LÒNG CỦA CỨU CHÚA"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Tiếng kêu tận đáy lòng
của Cứu Chúa
Mathiơ 23:34-39
1. Trong Cựu Ước, chúng ta thấy sách Ca thương, là sách khác nói về lời tiên tri của Giêrêmi. Thật là thú vị, "Ca thương" có nghĩa là "bài ca tang chế". Vị tiên tri hay than khóc đã viết với hai hàng nước mắt mọi điều sẽ giáng trên dân tộc của ông. Phân đoạn Kinh Thánh hôm nay đáng được gọi là: "Ca thương của Chúa Jêsus". Đây là tiếng kêu tận đáy lòng của Ngài về sự chối bỏ của dân tộc Ngài.
2. Như chúng ta đã lưu ý, chương 23 là sứ điệp sau cùng của Chúa Jêsus cho dân tộc Israel. Khi nói với "đoàn dân đông cùng các môn đồ Ngài", Ngài bắt đầu bằng một lời cảnh cáo về muông sói, các cấp lãnh đạo tôn giáo giả hình: "các thầy thông giáo và người dòng Pharisi". Họ sử dụng tôn giáo vì lợi ích riêng tư và tánh ích kỷ của họ, rồi lôi kéo dân sự xa cách Đức Chúa Trời (các câu 1-12). Bài giảng lên tới cao điểm khi Chúa Jêsus nói thẳng thừng vào các cấp lãnh đạo tôn giáo giả hình. Trong các câu 13-33, Ngài tuyên bố một loạt tám điều "khốn cho" hay những lời đoán phạt sẽ giáng xuống trên họ. Lời tuyên bố nầy lên tới cao điểm ở các câu 32-33, ở đây Ngài bảo họ "hãy làm cho đầy dẫy cái lường của tổ phụ các ngươi" rồi hỏi: "Làm thế nào các ngươi tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được?"
3. Bây giờ ở tiểu đoạn cuối nầy trong sứ điệp của Chúa Jêsus, chúng ta nghe thấy tiếng kêu tận đáy lòng rất đau khổ của Cứu Chúa, một cánh cửa sổ để nhìn vào tấm lòng đầy sự thương xót của Đức Chúa Trời. Nếu tám điều “khốn cho” kia là sấm sét của một cơn bão đầy quyền lực sự đoán phạt của Đức Chúa Trời, những câu sau cùng nầy là thanh âm của những giọt nước mắt của Cứu Chúa rơi xuống giống như những hạt mưa vậy.
4. Trong tiểu đoạn nầy, chúng ta thấy cả sự đoán phạt sau cùng dành cho kẻ vô tín cùng bài kinh tạ ơn buồn rầu dành cho Israel.
I. Sự đoán phạt sau cùng dành cho các cấp lãnh đạo giả hình (các câu 34-36).
A. Đức Chúa Trời sẽ sai nhiều sứ giả đến nữa (câu 34).
1. Chúa Jêsus phán: "vậy nên" hay căn cứ vào sự thực quí vị sẽ "làm đầy… cái lường của tổ phụ các ngươi" và không "tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được", Ngài sẽ sai "những Đấng tiên tri, kẻ khôn ngoan và thầy thông giáo" đến với họ, đến nỗi sẽ bị họ "giết", "đóng đinh trên cây thập tự""đánh đập" hầu cho họ sẽ sa vào tội lỗi khiến cho "hết thảy máu vô tội bị tràn ra trên mặt đất".
2. Chúa Jêsus đã sử dụng từ ngữ Do thái để khán thính giả của Ngài sẽ hiểu được hầu mô tả công việc của Hội thánh đầu tiên. Ngài phán Ngài sẽ sai phái nhiều "Đấng tiên tri" hay các sứ đồ, về mặt siêu nhiên họ nói ra Lời Đức Chúa Trời giống như các Đấng tiên tri thời Cựu Ước. "Kẻ khôn ngoan" là hạng người trung tín của Đức Chúa Trời trỗi cao hơn các sứ đồ giống như Êtiên, Abôlô và Philíp. Kế đó có những "thầy thông giáo" họ viết ra và ghi chép lại Ngôi Lời, những người giống như Mác và Luca.
3. Sự thương xót của Đức Chúa Trời rất là lớn. Qua những người Do thái đã được lập làm chứng nhân của Ngài trong hàng ngàn năm, mặc dù Emmanuên đã đến và đã bước đi giữa vòng họ, Đức Chúa Trời vẫn và sẽ tiếp tục làm chứng cho họ về ân điển của Ngài.
4. Ngài tiếp tục bằng chiều sâu lớn lao hơn với hạng bất kỉnh nhất trong loài người. Ngài lặp lại những lời cảnh cáo của Ngài. Ngài gửi hết sứ điệp nầy đến sứ điệp khác, hết sứ giả nầy đến sứ giả khác đến với họ. Ngài quở trách họ và kêu gọi họ hãy ăn năn. Ngài "lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn" (II Phierơ 3:9).
5. Đức Chúa Trời kêu gọi loài người phải ăn năn. Ngài đang gõ vào cánh cửa lòng của họ với sự đau ốm và bịnh tật. Ngài kêu gọi lương tâm họ bằng sự làm chứng của những tín đồ trung tín. Ngài đặt họ trước mồ mả của gia đình và bạn bè đang mở ra. Ngài khiến họ phải suy nghĩ tới sự sống sau khi chết. Hầu hết đều không nhìn thấy chương trình hay ân sũng của Ngài. Dù vậy, họ không thể chữa mình được.
6. Chúa Jêsus sẽ phái các đại biểu sau cùng nầy đến để cho kẻ phạm tội đời đời không chữa mình được khi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời giáng xuống.
7. Chúa Jêsus bảo người Do thái rằng các tôi tớ trung thành của Ngài "một số người trong họ, các ngươi sẽ giết và đóng đinh trên cây thập tự". Có lẽ điều nầy có ý nói tới cả phương tiện hành hình của người Do thái và người La mã. Chúa Jêsus đã bị đóng đinh trên cây thập tự. Truyền thuyết cho biết rằng Phierơ đã bị đóng đinh ngược trên cây thập tự. Êtiên đã bị ném đá chết. Giacơ bị gươm giết chết.
8. Ngài phán: "trong những người ấy, kẻ thì các ngươi sẽ giết và đóng đinh trên cây thập tự, kẻ thì các ngươi sẽ đánh đập trong nhà hội mình, và các ngươi sẽ đuổi bắt họ từ thành nầy qua thành kia". Phaolô nói trong II Côrinhtô 11:24-25: "năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá…". Ông đã từng bắt bớ nhiều Cơ đốc nhân "từ thành nầy qua thành kia" cũng như chính mình ông đã bị bắt bớ cùng một kiểu cách ấy. Sách Công Vụ các Sứ Đồ cho thấy rằng ông đã bị người ta xua đuổi ra khỏi khỏi nhiều thành phố.
B. Sứ giả của Đức Chúa Trời sẽ nhất quyết về tội lỗi của họ (các cấp 34-35).
1. Chúa Jêsus sẽ phái người của Ngài "đến cùng các ngươi, hầu cho hết thảy máu vô tội bị tràn ra trên mặt đất".
2. Trong khi nhiều người sẽ được cứu; các cấp lãnh Do thái nầy sẽ tiếp tục chối bỏ Đấng Mêsi của họ. Dân sự của Đức Chúa Trời sẽ trở thành những vị Mục sư của ơn chửng cứu cho nhiều người, nhưng cũng là Mục sư của sự đoán phạt cho những kẻ nào chối bỏ Đấng Christ.
3. Người ta càng nghe Lẽ thật của Đức Chúa Trời tội lỗi của họ càng lớn lao hơn và sự đoán phạt càng lớn hơn nữa khi họ chối bỏ Lẽ thật đó.
4. Chúa Jêsus nhắc tới "máu Abên là người công bình" đã kêu la với Đức Giêhôva từ dưới đất, ngay tại nơi Abên bị Cain anh mình giết chết (Sáng thế ký 4.10). Cain không chịu đựng nổi sự công bình của em mình, vì vậy Cain đã giết Abên.
5. Có một sự khác biệt giữa vòng các giáo sư Kinh Thánh như về lai lịch của "Xachari là con của Balachi" là người đã bị "giết ở giữa khoảng đền thờ và bàn thờ". II Sử ký 24 mô tả thể nào Xachari con của Giêhôgiađa đã bị ném đá theo lịnh của Vua Giôách vì dám đứng nghịch lại sự thờ lạy hình tượng của ông. Có hơn 20 người mang tên "Xachari" trong Kinh Thánh Cựu Ước. Tiên tri Xachari là "con trai của Balachi" (Xachari 1:1). Ông là một trong những tiên tri cuối cùng của thời kỳ Cựu Ước. Có lẽ Chúa Jêsus đã chọn hai cái tên nầy, một, vào lúc bắt đầu và một vào lúc cuối của thời Cựu Ước để tượng trưng cho hết thảy những ai đã xuất hiện ở giữa hai người.
6. Hãy chú ý Chúa Jêsus phán: "mà CÁC NGƯƠI đã giết". Mặc dù các sự cố nầy đã diễn ra hàng trăm năm trước khi các khán thính giả của Ngài chào đời, họ đã cưu mang tội lỗi vì họ đã chối bỏ Đấng Mêsi của họ.
7. Đức Chúa Trời không hề quên tội lỗi chưa được tha thứ. Những tội lỗi chưa ăn năn cách đây một ngàn năm vẫn còn mới mẻ trong lý trí của Ngài cũng y như tội lỗi chưa ăn năn của ngày hôm nay vậy.
8. Huyết của những nhà tuận đạo vẫn còn kêu la cùng Đức Chúa Trời. Các tín đồ có lòng trung tín, họ đã chết trong những kỹ nguyên tăm tối, họ đã bị thiêu sống trong suốt thời kỳ Cải Chánh và bị Toà Án Pháp Đình kết án tử hình, hết thảy vẫn còn được kể tới. Thi thiên 58:11 chép: "Người ta sẽ nói rằng: Quả hẳn có phần thưởng cho kẻ công bình, quả hẳn có Đức Chúa Trời xét đoán trên đất".
9. Một thành ngữ xưa nói rằng: "Cái cối công bình của Đức Chúa Trời xay tuy chậm, nhưng  rất nhuyễn".
10. Tội lỗi của tình trạng nô lệ tại nước Mỹ vào thế kỷ thứ 18 đã phải trả giá bằng một cuộc nội chiến đổ máu vào thế kỷ thứ 19. Một sử gia nói: "Tình trạng nô lệ là con rắn độc thu mình nằm dưới cái bàn hội nghị của quốc hội".
11. Người nào cứ lo bắt bớ dân sự của Đức Chúa Trời sẽ đối diện với cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Ngài nhìn biết khi nào con cái Ngài bị tổn thương, bị chế nhạo hay bị vu khống vì cớ đức tin của họ. Ngài không hề quên tấn công con cái của Ngài chính là tội lỗi của họ, y như họ đã tấn công Ngài vậy. Xachari 2:8 chép: "…vì ai đụng đến các ngươi tức là đụng đến con ngươi mắt Ngài".
C. Sự đoán phạt đó sẽ giáng trên dòng dõi nầy (câu 36).
1. Chúa Jêsus phán: "Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mọi điều đó sẽ xảy đến cho dòng dõi nầy".
2. "Dòng dõi" nầy sẽ chẳng qua cho tới chừng sự ứng nghiệm đầy đủ và sự huỷ diệt hoàn toàn thành Jerusalem đã diễn ra. Nguyện mắt của quí vị sẽ nhìn vào trang Kinh Thánh ở 24:2. Sau khi thấy "các nhà thuộc về đền thờ", Chúa Jêsus phán cùng các môn đồ Ngài: "Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống".
3. Chúa Jêsus đã loan báo trước điều sẽ xảy ra 40 năm sau vào năm 70 SC. Ngài gọi điều nầy là "ngày báo thù" trong Luca 21:22.
4. Vào năm 66 SC, một cuộc cách mạng của người Do thái đã nổ ra chống lại Rôma. Sử gia Josephus ghi lại thể nào Rôma đã sai quân viễn chinh của họ dưới quyền chỉ huy của Tướng Titus để đánh hạ phe nổi loạn. Hàng ngàn người đã bị giết trong xứ Galilê. Titus tiến vào thành Jerusalem với 80.000 binh lính rồi vây chặt thành phố. Khi người Do thái không chịu đầu hàng, ông ta đã đánh cả thành phố bằng gươm.
5. Từ khi ấy trở đi, thậm chí cho tới những năm gần đây, người Do thái đã bị bắt bớ và bị giết. Ngày nay xứ sở Israel thường xuyên chịu nhiều cuộc tấn công. Tại sao phải chịu vậy chớ?
6. Chúa Jêsus đã hứa rằng khi quốc gia Israel chối bỏ các Đấng tiên tri và Đấng Mêsi của nó, nó sẽ chối bỏ sự làm chứng giàu ơn của Tin lành bởi các sứ đồ. Họ sẽ nhìn thấy công việc lạ lùng của Chúa trong những ngày đầu sớm sủa của Hội thánh mà cứ cố tình xây lưng đi.
7. Trong nhiều thế kỷ, Đức Chúa Trời đã để cho sự đoán phạt thiêng liêng giáng trên xứ sở, nhưng cũng bảo tồn theo cách thiêng liêng xứ sở ấy cho tới ngày đó, là ngày mà nó sẽ công nhận Đấng Mêsi của mình. Hãy chú ý câu 39: "Vì, ta bảo, các ngươi sẽ không thấy ta nữa, cho đến lúc các ngươi sẽ nói rằng: Phước cho Đấng nhơn danh Chúa mà đến!"
II. Lời tạm biệt sau cùng dành cho người Do thái (các câu 37-39).
A. Lòng thương xót bao la của Chúa Jêsus (các câu 37-38).
1. Buổi sáng hôm trước, khi Chúa Jêsus cỡi lừa vào thành phố, Ngài đã phán: "Ước gì, ít nữa ngày nay, mầy đã hiểu biết sự làm cho mầy được bình an! Song hiện nay những sự ấy kín giấu nơi mắt mầy" (Luca 19:42).
2. Chúa Jêsus đã bật khóc, không nghi ngờ chi nữa với hai hàng nước mắt trên gò má Ngài: "Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem". Cũng một cung cách ấy Ngài đã phán: "Hỡi Mathê, Mathê" hay "Hỡi Simôn, Simôn" Ngài đã phán cùng dân Israel.
3. Ngài đã phán: "ngươi [cứ] giết các đấng tiên tri và [cứ] ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi".
4. Sâu xa hơn, Ngài buồn rầu mà nói: "bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấy trong cánh". Tiếp đến Ngài phán: "Nhưng các ngươi chẳng khứng!" Giăng 1:11 chép: "Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy".
Có bao giờ quí vị ở trong một sân nuôi gà chưa? Bà nội tôi có một sân nuôi gà ở phía sau nhà của bà. Một con gà mẹ sẽ nhóm mấy con gà con của mình lại. Nó xoè rộng đôi cánh bên trên chúng và kéo chúng vào gần thân mình nó. Bên dưới đôi cánh của nó chúng sẽ tìm được hơi ấm, an toàn và yên ninh. Cảm nhận được nhịp đập của quả tim của nó làm cho chúng được an lòng. Dại dột làm sao khi chú gà con nào "chẳng khứng" rồi chạy ra khỏi lòng mẹ nó. Nó sẽ trở thành con mồi dễ dàng cho bất kỳ một con dã thú nào khác.
5. Thi thiên 36:7 chép: "Hỡi Đức Chúa Trời, sự nhơn từ Chúa quí biết bao! Con cái loài người nương náu mình dưới bóng cánh của Chúa".
G. Campbell Morgan đã viết: "Mục đích của Ngài không phải là đưa ra một lời rủa sả mà là đưa tới một phước hạnh; không phải rên rỉ khốn khổ do thất bại, mà là ca ngợi con người. Chúng ta nhớ hình ảnh người mẹ của Sôphôni: ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ở giữa ngươi; Ngài là Đấng quyền năng sẽ giải cứu ngươi: Ngài sẽ vui mừng cả thể vì cớ ngươi; vì lòng yêu thương mình, Ngài sẽ nín lặng; và vì cớ ngươi Ngài sẽ ca hát mừng rỡ’" (Sôphôni 3:17).
6. Trọng tâm của tội lỗi là do "chẳng khứng" khi Đức Chúa Trời kêu gọi!
7. Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời là tối cao trên muôn vật, tuy nhiên Kinh Thánh chưa hề dạy “thuyết quyết định” (determinism), rằng mọi hành động của ý chí con người hoàn toàn đã được tiền định. Đức Chúa Trời đã "khứng" cho Israel được cứu, thế nhưng Israel đã "chẳng khứng".
J.C. Ryle từng viết: "Bổn tánh của con người vốn bất lực, không thể nghĩ  điều chi tốt đẹp về cái tôi của mình, không có quyền hướng bản thân mình vào đức tin và kêu cầu Đức Chúa Trời, con ngươi có một khả năng mạnh mẽ chuyên hủy phá chính linh hồn mình. Thật lấy làm tốt khi con người ở trong tình trạng vô quyền, con người luôn có khả năng hướng về điều ác. Nói thẳng ra, chúng ta thấy một người chẳng làm chi được cho chính bản thân mình, nhưng chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng chính ý chí của người là ngôi của tình trạng bất lực đó. Một ý chí muốn ăn năn và tin theo chẳng có người nào tạo ra được cho mình, nhưng một ý chí muốn chối bỏ Đấng Christ và đi đường riêng mình, tự trong bản chất mỗi con người đều có, và nếu sau cùng chẳng được cứu, ý chí ấy sẽ đem lại sự hủy diệt cho người đó".
8. Khi có ai đó chối bỏ Đấng Christ, đây không phải là hành động của may rủi, mà là một sự luyện tập của ý chí trong tội lỗi.
9. Ở đây chúng ta thấy sự cân đối rất tinh tế nơi quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người. Tấm lòng chai cứng nhất của con người có thể trở nên sẵn lòng do quyền phép của Đức Chúa Trời tạo ra. Ân điển của Đức Chúa Trời là một sức mạnh vô đối. Còn con người là một hữu thể có trách nhiệm. Êtiên đã buộc tội người Do thái khi ông nói trong Công Vụ các Sứ Đồ 7:51: "Hỡi những người cứng cổ, lòng và tai chẳng cắt bì kia! Các ngươi cứ nghịch với Đức Thánh Linh hoài; tổ-phụ các ngươi thế nào, thì các ngươi cũng thế ấy!" Khi con người không chịu đến với Đấng Christ, không phải vì Ngài không khứng cứu lấy họ, nhưng vì họ không khứng chạy đến với Ngài.
10. Chúa Jêsus sẽ cứu hết thảy mọi người nhưng hết thảy mọi người sẽ không được cứu. Sự cứu rỗi hoàn toàn là công việc của Đức Chúa Trời nhưng sự hư mất của con người hoàn toàn là do chính con người. Trong cõi đời đời, người được cứu sẽ dâng lên mọi sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời, còn kẻ bị hư mất sẽ chẳng có ai để đổ thừa cho trừ ra chính mình họ.
11. Chúa đã phán "các ngươi chẳng khứng" cũng nói về nhiều người trong chính thế hệ của chúng ta nữa. Có lẽ họ đã có một bằng chứng lớn lao về ân điển của Đức Chúa Trời hơn bất kỳ một thế hệ nào khác trước họ. Nói chung, như một tổng thể, họ đã "chẳng khứng", rồi vì thế tội lỗi họ sẽ xét đoán họ.
12. Trong câu 38, Chúa Jêsus phán: "Nầy! Nhà các ngươi sẽ bỏ hoang". Khi đứng trên nền của đền thờ ở đó, tôi tin Chúa Jêsus đã đề cập tới điều mà Ngài đã nói trước đó "Nhà của Cha ta" (Giăng 2:16)"Nhà ta" (Mathiơ 21”13). Giờ đây Ngài gọi nhà nầy là "Nhà các ngươi", một tham khảo tới cả nước. Ngài đã gọi họ là Ycabốt vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đã lìa khỏi họ. Sự hoang vu trong nhà đã được tạo ra bởi sự vắng mặt của Chủ Nhà.
B. Sự trở lại đạo không lấy gì làm chắc chắn của dân Israel (câu 39).
1. Chúa Jêsus nói thêm một câu cuối có cả sự phán xét và hy vọng. Sự phán xét là: "Các ngươi sẽ không thấy ta nữa". Sau sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài, Chúa Jêsus đã hiện ra nhiều lần cho các môn đồ Ngài xem thấy, nhưng không bao giờ cho những người Do thái vô tín xem thấy.
2. Sự hy vọng là: "cho đến lúc". Ngài không phán "trừ phi" đưa ra điều kiện có lời hứa mà "cho đến lúc" có nghĩa là có một thời điểm trong tương lai khi hết thảy người Israel sẽ nói: "Phước cho Đấng nhơn danh Chúa mà đến!"
3. Nhiều ngày trước đó họ đã hô to lời ngợi khen dành cho Đấng Mêsi từ Thi thiên 118:26 khi Ngài cỡi lừa vào thành. Chúa Jêsus đã nhìn thấy thời điểm dân sót Israel chân thật sẽ tôn vinh Ngài là Vua.
4. Hướng sang Xachari (là người "bị giết giữa khoảng đền thờ và bàn thờ") 12:8-10; 13:1-2; 14:1-9.
5. Lòng thương xót của Chúa Jêsus dành cho người công bình không hề làm mất đi lòng thương xót của Ngài dành cho người tệ hại nhất. Lòng thương xót của Ngài dành cho người tệ hại nhất không hề làm mất đi lòng thương xót của Ngài dành cho người công bình.

***



Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Bài 80: Mathiơ 23:13-33: "KHỐN CHO MUÔNG SÓI"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Khốn cho muông sói
Mathiơ 23:13-33

1. Kinh Thánh dạy rõ ràng rằng các cấp lãnh đạo có uy quyền thuộc linh là người phân phát đúng đắn Lời lẽ thật, họ đáng được ủng hộ và đáng tôn kính. Phaolô viết trong I Têsalônica 5:12-13: "Hỡi anh em, xin anh em kính trọng kẻ có công khó trong vòng anh em, là kẻ tuân theo Chúa mà chỉ dẫn và dạy bảo anh em. Hãy lấy lòng rất yêu thương đối với họ vì cớ công việc họ làm". I Timôthê 5:17 chép: "Các trưởng lão khéo cai trị Hội thánh thì mình phải kính trọng bội phần, nhất là những người chịu chức rao giảng và dạy dỗ". Hêbơrơ 13:17 chép: "Hãy vâng lời kẻ dắt dẫn anh em và chịu phục các người ấy, bởi các người ấy tỉnh thức về linh hồn anh em, dường như phải khai trình, hầu cho các người ấy lấy lòng vui mừng mà làm xong chức vụ mình, không phàn nàn chi, vì ấy chẳng ích lợi gì cho anh em".
2. Nếu Kinh Thánh tỏ ra sự kính trọng đối với cấp lãnh đạo thuộc linh trung tín, Kinh Thánh cũng chỉ ra sự đoán phạt nghiêm chỉnh nhất dành cho cấp lãnh đạo tôn giáo giả hình. Những người chăn bầy cần được kính nể. Muông sói phải bị xét đoán vì chúng tiêu biểu cho mối nguy hại trầm trọng nhất cho bầy chiên của Đức Chúa Trời, là Hội Thánh. Chúa Jêsus đã phán trong Mathiơ 7:15: "Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé".
3. Có khi dân sự của Đức Chúa Trời ngại không muốn đương đầu với sự dạy giả dối. Chúng ta ngại không muốn quở trách với tính nghiêm khắc mà Chúa Jêsus đã tỏ ra trong phân đoạn nầy. Như một kết quả, Tin lành đã bị mất đi tính thiêng liêng, sự trưởng thành về mặt thuộc linh bị đình trệ và các triết lý của con người đã được nâng lên tới vị trí của Kinh Thánh.
4. Đức Chúa Trời dành sự phán xét nghiêm ngặt nhứt của Ngài cho các cấp lãnh đạo tôn giáo giả dối, là những kẻ làm cho Tin lành phải hư đi và nhào nặn dân sự của Ngài. Khi chúng ta nghiên cứu bài giảng công khai sau cùng nầy của Chúa Jêsus, chúng ta phải công nhận giọng nói chứa đầy sự căm phẫn và nỗi buồn đau sâu sắc của Ngài. G. Campbell Morgan đã viết: "…có một giọng than vãn xuyên suốt toàn bộ bài giảng nầy, cũng y như giọng lên án sấm sét". Chúng ta nhìn thấy tính nghiêm khắc trong lời phán xét của Chúa Jêsus ở những từ ngữ "giả hình", "mù", “dại”, "rắn",  "rắn lục". Có lẽ phần mô tả đáng sợ nhất về tính nghiêm khắc trong sự phán xét của Ngài là "sự đoán phạt nơi địa ngục" hay gehenna. Vẫn có trong âm điệu của giọng nói Ngài một sự nài nĩ thương xót. Ngài đau khổ kêu lên trong câu 37: "Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem…". Thật là thú vị khi so sánh những chữ “khốn cho” nầy.
5. Từ các câu 13-33, chúng ta sẽ xem xét 7 từ "khốn cho" hay những sự đoán phạt mà Chúa Jêsus đã tuyên bố giáng trên các cấp lãnh đạo tôn giáo giả hình trong thời của Ngài.
I. Sự đoán phạt sẽ giáng trên những ai đóng nước thiên đàng trước mặt người ta (câu 13).
A. Tám lần trong bài giảng nầy Chúa Jêsus phán: "Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si". Chúng ta nhớ từ câu 1 rằng Ngài bắt đầu bằng cách phán cùng "dân chúng" cùng các môn đồ Ngài nhưng bây giờ Ngài hướng sự chú ý thiêng liêng của Ngài vào các cấp lãnh đạo tôn giáo giả hình. "Khốn cho" là tiếng thét từ trong yết hầu của sự giận dữ và đau khổ. Êsai đã kêu la: "Khốn nạn cho tôi" (Êsai 6:5). Sách Khải huyền nói tới sự phán xét hầu đến là những điều "khốn nạn". Trong kinh Yiddish người Do thái nói: "Oy veh!" Trong trường hợp nầy cách nói ấy nhắc tới sự đoán phạt chắc chắn và nhất định xảy đến.
B. Bảy lần trong bài giảng nầy Chúa Jêsus đề cập tới các cấp lãnh đạo giả dối nầy là "giả hình". Chữ nầy có ý nói tới những nghệ sĩ đeo mặt nạ. Họ xuất hiện với vai trò mà họ chẳng phải là vai trò đó. Giống như biểu tượng trong nhà hát, sống  "giả hình" là sống "hai mặt".
C. Chữ "khốn cho" hay sự đoán phạt đầu tiên nầy, sở dĩ như vậy là vì người Pharisi và các thầy thông giáo "các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta". Chúa Jêsus còn phán sâu xa hơn thế: "các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở".
D. Họ "đóng nước thiên đàng" bằng cách nào? Trước tiên, họ dạy rằng sự cứu rỗi đến bằng cách tuân giữ mọi luật lệ, điều răn dạy cùng những nghi thức của họ thay vì nhờ ân điển bởi đức tin. Thứ hai, họ chống đối Chúa Jêsus và sứ điệp của Ngài ở mỗi góc độ.
E. Thí dụ, trong Mathiơ 3, Giăng Báptít đã rao giảng Tin lành, dân sự đã đến "xưng tội mình và chịu phép báp têm". Thế rồi những đầu tóc tôn giáo giả hiệu đã lộ ra, họ làm sai lệch sự dạy của Giăng rồi xây dân sự xa cách lẽ thật. Giăng nói về họ như sau: "Hỡi dòng dõi rắn lục kia, ai đã dạy các ngươi tránh khỏi cơn giận ngày sau?" (các câu 5-12).
F. Luca 11:52, một phân đoạn Kinh Thánh tương tự chép: "Khốn cho các ngươi, là thầy dạy luật, vì các ngươi đã đoạt lấy chìa khóa của sự biết, chính mình không vào, mà người khác muốn vào, lại ngăn cấm không cho!"
G. Bức tranh cho thấy dân sự thành thực đến gặp các cấp lãnh đạo thuộc linh của họ với sự tìm kiếm Đức Chúa Trời, thế nhưng các cấp lãnh đạo đã "đóng sầm" hai cánh cửa lại không cho vào Nước với sự giả hình cố quyết của họ.
H. Khi Chúa Jêsus chữa lành người mù vào ngày sabát. Họ chẳng chút quan tâm chi đến tình trạng của người mù hoặc vui mừng khi người ấy được chữa lành. Họ đã nổi giận vì Chúa Jêsus đã phạm vào những lời truyền khẩu do con người lập nên.
I. Sau ngày lễ Ngũ Tuần, khi Phierơ và Giacơ bị bắt, họ đã nói: "rằng: Chúng ta xử với hai người nầy làm sao? Vì cả dân thành Giê-ru-sa-lem đều biết rõ thật họ đã làm ra một phép lạ sờ sờ; chúng ta chối không nổi. Dầu vậy, hầu cho việc khỏi đồn ra trong dân nữa, chúng ta nên lấy lời ngăm dọa, cấm họ, từ rày về sau, chớ lấy danh đó dạy dỗ không cứ là ai" (Công vụ Các Sứ Đồ 4:16-17).
J. Phaolô đã nói về họ trong I Têsalônica 2:15-16, họ "là người đã giết Đức Chúa Jêsus và các Đấng tiên tri, đã bắt bớ chúng tôi; làm trái ý Đức Chúa Trời và thù nghịch với mọi người nữa, ngăn trở chúng tôi giảng dạy dân ngoại cho được cứu, lại hằng đầy dẫy cái lượng tội lỗi mình. Nhưng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời sau hết đã đến trên họ".
K. Những giáo sư giả vẫn muốn làm cho tin lành bị sai lệch đi, vẫn từ chối không nhơn đức tin tiếp nhận Đấng Christ và vẫn đóng cánh cửa cứu rỗi lại đối với những người tìm kiếm sốt sắng nhất.
L. Phải cẩn thận, đừng để việc làm, thái độ hay cung cách sống của chúng ta góp phần vào việc "đóng cửa Nước thiên đàng lại" đối với nhiều người khác.
II. Sự đoán phạt sẽ giáng trên những ai lừa dối kẻ đang có cần (câu 14).
A. Kế tiếp Chúa Jêsus phán rằng sự phán xét sẽ giáng trên các thầy thông giáo và người dòng Pharisi vì họ "làm bộ đọc lời cầu nguyện cho dài mà nuốt nhà đàn bà góa".
B. Mặc dù câu nầy không thấy có trong một số bản Kinh Thánh Tân ước xưa nhất, vì câu nầy được thấy có trong Mác 12:40 và Luca 20:47, chúng ta đầy lòng tin cậy vào quyền phép của câu Kinh Thánh ấy.
C. Josephus vừa là người Pharisi vừa là một sử gia Do thái. Công việc của ông cung ứng cho chúng ta mọi điều có cần trong các thời kỳ Tân ước. Ông ghi lại một số giáo sư dạy rằng việc cung cấp tài chính cho một vị giáo sư dạy Luật sẽ đem lại nhiều ơn phước từ Đức Chúa Trời.
D. Điều nầy chắc chắn nhắc cho tôi nhớ tới hạng người rao bán tôn giáo trên vô tuyến truyền hình, họ lôi kéo mấy bà goá phụ để có được những tờ chi phiếu An Ninh Xã Hội của họ. Các cấp lãnh đạo giả hiệu lợi dụng sự cả tin để kiếm tiền.
E. Họ che đậy sự dối gạt của họ bằng cách "làm bộ đọc lời cầu nguyện cho dài" hay giống như một sự trình diễn vậy. Mấy bà goá cả tin lại thấy ấn tượng bởi hành vi giả vờ thương xót nầy rồi hiến cho họ hết thảy những gì mình có.
F. Một ý nghĩa khác có thể được thấy có nơi sự giàu có của người dòng Pharisi. Có lẽ họ đã “đọc những lời cầu nguyện dài” theo thông lệ trước đám đông, nhưng lại kín đáo tịch thu tài sản vì nợ nần và đuổi ra khỏi nhà mấy bà goá vô dụng.
G. Dù là trường hợp nào, Chúa Jêsus phán: "Các ngươi sẽ bị đoán phạt nặng hơn". Điều nầy cho thấy rằng có một sự đoán phạt cho sự chối bỏ Đấng Christ, nhưng một "sự đoán phạt nặng hơn", một cấp độ trừng phạt nặng hơn dành cho những kẻ sử dụng tôn giáo giả hình của họ để bóc lột người nghèo khó.
III. Sự đoán phạt sẽ giáng trên những ai dẫn người khác xa cách Đức Chúa Trời (câu 15).
A. Đức Chúa Trời đã dự định người Do thái phải trở thành một nguồn phước cho các dân (Sáng thế ký 12:3). Họ phải trở thành "một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh" (Xuất Êdíptô ký 19:6). Họ phải trở thành "sự sáng cho các dân ngoại" (Êsai 49:6). Tuy nhiên, với sự kiêu ngạo, hầu hết người Do thái đều ghê tởm dân Ngoại. Giôna là một điển hình đúng về mẫu người Do thái không muốn dân Ngoại được cứu.
B. Dù vậy, suốt kỹ nguyên Tân ước, người dòng Pharisi đã khó nhọc làm việc để khiến cho người ta "cải đạo". Từ ngữ nầy có ý nói tới một người vừa chuyển sang một tôn giáo mới. Phần nhiều người dòng Pharisi đều có một lòng nhiệt thành truyền giáo hầu biến cải người khác gia nhập vào nhánh Do thái giáo của họ.
C. Một số dân Ngoại "cải đạo" ai cũng biết là "những kẻ cải đạo tại cửa thành". Điều nầy có nghĩa là họ bị cuốn vào thành Jerusalem nhưng chưa đi đủ các bước có cần để trở thành một người Do thái thực thụ. Họ được nhận biết trong Công vụ Các Sứ Đồ là "những kẻ kính sợ Đức Chúa Trời" hay "những người thờ lạy Đức Chúa Trời". Nhiều người khác trở thành "những kẻ cải theo đạo công bình". Họ tiếp nhận phép cắt bì, phép báp têm theo hình thức rồi trở thành thuộc viên được tiếp nhận trong dân giao ước của Đức Chúa Trời.
D. Nan đề là: một kẻ đạo đức giả thường sản sinh ra những kẻ đạo đức giả lớn hơn. Chúa Jêsus phán họ lao tới cực điểm "các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình" nhưng khi họ hoá đạo người ấy, thay vì dẫn người ấy vào mối tương giao phải lẽ với Đức Chúa Trời, họ đã dẫn người ấy càng xa cách Đức Chúa Trời thêm! Chúa Jêsus phán: "các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi".
E. Từ ngữ "địa ngục" ra từ chữ gehenna, một trũng ở bên ngoài thành Jerusalem, ở đó đồ phế thải phải bị thiêu đốt đi. Những kẻ thờ lạy thần Moloch đã dâng những của lễ con người tại đó. Vua Giôsia đã tuyên bố nó ô uế và nó trở thành nơi đổ rác và liên tục bị thiêu đốt. Đây là ẩn dụ của Chúa Jêsus  rất thông thường về địa ngục.
F. Quí vị há chẳng vui sướng khi có ai đó đưa quí vị đến gần với Đức Chúa Trời thay vì dẫn quí vị đi cách xa Ngài? Mỗi Cơ đốc nhân cần phải đưa người ta đến với Đấng Christ.
IV. Sự đoán phạt sẽ giáng trên những ai ích kỷ làm sai hỏng lẽ thật (các câu 16-22).
A. Hãy chú ý trong câu 16 rằng Chúa Jêsus xoay từ phần mô tả quen thuộc "kẻ giả hình" sang việc gọi người Pharisi là "kẻ mù dẫn đường". Ngài gọi họ bằng cụm từ nầy vì họ đang hướng dẫn dân sự mà bản thân họ chẳng nhìn biết lẽ thật.
B. Sự thật cho thấy rằng họ đã bị "" đối với lẽ thật trong Kinh Thánh, được nhận thấy qua cách họ làm sai lệch Kinh Thánh. Thí dụ, Chúa Jêsus chỉ ra trong câu 16 rằng có một người lập lời thề dâng hiến một số tiền. Nếu người đó "chỉ đền thờ mà thề" người ấy có thể đổi ý vì theo nhận định của họ "thì không can chi". Nếu người ấy "chỉ vàng của đền thờ" mà thề, thì người ấy phải mắc lời thề. Đây là một cách để nhận ra sự kỉnh kiền.
C. Với tình cảm bao la, Chúa Jêsus hỏi: "vàng, và đền thờ làm cho vàng nên thánh, cái nào trọng hơn?" Vàng được tuyên bố là thánh vì nó là một phần của đền thờ. Họ đã lập ra những sự phân biệt mà Lời Đức Chúa Trời chưa hề lập ra. Cũng thực như thế với việc thề thốt của họ khi "chỉ bàn thờ" hay chỉ "của lễ trên bàn thờ" (các câu 18-20).
D. Nếu quí vị "chỉ bàn thờ" mà thề, quí vị thực sự đang "chỉ Ngài là Đấng đang ngự nơi đền thờ" mà thề. Nếu quí vị "chỉ trời" mà thề, quí vị thực sự đang chỉ "ngôi của Đức Chúa Trời và Đấng ngự trên ngôi mà thề vậy".
E. Chúng ta cần phải nói rằng: phải, phải, không không. Chúng ta không cần phải làm sai lệch sự thực, mà phải trở thành người giữ lời nói của mình (Mathiơ 5:33-37).
F. Một số Cơ đốc nhân sa vào bẫy giảng dạy của họ, họ hay "nghĩ thế" thay vì "biết rõ như thế". Chúng ta có thể dễ dàng nâng mọi sự lý giải của chúng ta lên cao thay vì Ngôi Lời.
V. Sự đoán phạt sẽ giáng trên những ai phóng to cái nhỏ và không biết điều chi là quan trọng (các câu 23-24).
A. Dâng phần mười là phần quan trọng trong bổn phận tôn giáo của người dòng Pharisi. Họ đã vượt quá phạm trù luật nông nghiệp đến khu vườn trồng các thứ gia vị dùng trong bếp của họ. Họ đếm theo nghi thức từng chiếc lá “bạc hà” thứ mười  và từng hột giống “hồi hương và rau cần” thứ mười.
B. Họ vượt quá luật pháp ở chỗ nhỏ nhất, mà "bỏ điều hệ trọng hơn hết" tỉ như "sự công bình, thương xót và trung tín". Họ đếm các thứ hột giống nhưng lại đuổi mấy bà goá phụ ra khỏi nhà.
C. Với những thái độ như thế, Chúa Jêsus phán họ "lọc con ruồi nhỏ mà nuốt con lạc đà". Họ lọc rượu của họ bằng hàm răng hầu cho không bị ô uế theo nghi thức bằng cách tình cờ nuốt con ruồi, nhưng nuốt trọng cả con lạc đà của tấm lòng và linh hồn của Lời Đức Chúa Trời.
D. Hệ thống thờ lạy hình tượng ai cũng biết nó bám chặt vào các chi tiết dường như là vô nghĩa. Tuy nhiên, có nhiều Cơ đốc nhân quan tâm tới bề ngoài của một người hơn là quan tân đến linh hồn của người ấy. Có nhiều người quan tâm đến các quan điểm tiên tri dễ đem đến sự tranh cãi hơn là lo rao giảng Tin lành!
VI. Sự đoán phạt sẽ giáng trên những ai có lối sống ích kỷ (các câu 25-26).
A. Chúa Jêsus mô tả họ là "chén và mâm" rửa ở bề ngoài, còn bề trong thì đầy dẫy "sự ăn cướp cùng sự quá độ".
B. Bức tranh đang vạch ra một địa điểm xinh đẹp ở trước mặt một vị khách, nhưng đĩa thức ăn thì đầy thứ thối rửa!
C. "Sự ăn cướp" không những có ý nói tới sự họ ăn nuốt "nhà của đờn bà goá", mà còn ăn nuốt cả mọi thứ đút lót qua hệ thống đồi bại của đền thờ. Nó còn có nghĩa là lấn lướt dân sự.
D. "Sự quá độ" có ý nói tới sự thoả mãn lòng mong muốn không kềm chế được. Họ chẳng có chút lương tâm gì trong các vụ việc nầy. Họ không chần chừ khi sử dụng ảnh hưởng của họ để làm cho tràn đầy cái túi không đáy của họ.
VII. Sự đoán phạt sẽ giáng trên những ai làm hư hỏng người khác (các câu 27-28).
A. Chúa Jêsus còn phán thêm, người dòng Pharisi cùng các cấp lãnh đạo khác "giống như mồ mả tô trắng". Từ bề ngoài, họ trông "xinh đẹp" nhưng họ "thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy" ở bên trong.
B. Các sử gia Do thái tỏ ra rằng trước Lễ Vượt Qua, cư dân thành Jerusalem làm cho bề mặt của thành phố rất là đẹp. Một phương án như thế phải làm cho hết thảy những mồ mả một chiếc áo choàng tươi mới màu vôi trắng. Lý do: ấy là chúng sẽ dễ dàng được nhận ra và không một lữ khách nào đụng đến chúng mà bị ô uế theo phần nghi thức.
C. Mặc dù họ khoác áo màu trắng và sạch sẽ ở bề ngoài, họ "chan chứa sự giả hình" ở trong, họ là những kẻ có hai mặt. Hơn nữa, họ "chan chứa …tội lỗi". Điều nầy có ý nói tới người nào biết luật pháp của Đức Chúa Trời mà cố ý phá vỡ chúng.
D. Là một lữ khách người Do thái sẽ bị ô uế do chạm đến mồ mả trong kỳ Lễ Vượt Qua, các cấp lãnh đạo giả hình nầy đã làm ô uế từng người mà họ chạm đến.
VIII. Sự đoán phạt sẽ giáng trên những ai bắt bớ người công bình (các câu 29-33).
A. Sau hết Chúa Jêsus phán "khốn cho" vì các cấp lãnh đạo giả hình, vì họ "xây đắp mồ mả của đấng tiên tri, trau giồi mồ mả của người công bình". Họ nói rằng nếu họ sống sớm hơn, họ sẽ chẳng xử tệ với "các tiên tri" đâu.
B. Chúa Jêsus phán họ đang làm chứng nghịch lại bản thân họ, vì họ hiện đang hoạch định cái chết của Đấng Mêsi, là Đấng mà các tiên tri đều đã loan báo trước rồi.
C. Ngài phán: "Vậy thì hãy làm cho đầy dẫy cái lường của tổ phụ các ngươi!" Ngài muốn nói: "Hãy đi và làm theo mọi điều mà các ngươi muốn làm".
D. Tuy nhiên, Ngài không để cho họ ra đi mà không có lời cảnh báo. Ngài sử dụng các hình ảnh "loài rắn" gây chết chóc và "dòng dõi rắn lục" là loài tìm cách trốn chạy ngọn lửa của nhà nông đang thiêu đốt đồng ruộng của mình. Họ sẽ chẳng hề "tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được?"

***