Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

Bài 82 Mathiơ 24:1-14: "NHỮNG DẤU CHỈ CHO BIẾT THỜI THẾ"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Những dấu chỉ cho biết thời thế
Mathiơ 24:1-14
1. Chúng ta ngắt quãng từ loạt bài học về sách Mathiơ ở một điểm dừng rất hay. Các chương 24-25 là một tiểu đoạn rất quan trọng của sách Mathiơ cần phải được nghiên cứu theo một cung cách liên tục. Tiểu đoạn nầy được gọi là Bài giảng trên Núi Ôlive vì nó chứa sự dạy của Chúa Jêsus cho các môn đồ Ngài khi họ ngồi trên Núi Ôlive. Đây là sự giảng dạy riêng tư của Chúa Jêsus về thời kỳ mạt thế.
2. Tiểu đoạn Kinh Thánh nầy thường bị tranh cãi và hiểu sai vì các học viên Kinh Thánh tìm cách biến nó sao cho phù hợp với bộ máy lọc hay phương thức lý giải về thuyết mạt thế của chính họ. Như chúng ta sẽ thấy, các môn đồ đã hỏi những câu đơn giản và Chúa Jêsus đã đưa ra những câu trả lời trực tiếp và đơn sơ.
3. Gần như hết thảy chúng ta đều đối mặt với phân đoạn nầy bằng những niềm tin nhất định về kỳ tận thế. Những niềm tin riêng tư nầy nắn đúc cách thức chúng ta tra xem Lời của Chúa Jêsus. Các môn đồ cũng có những niềm tin của họ, vì vậy trước khi chúng ta bắt đầu, chúng ta hãy tra xem những điều họ đã tin. Cách giải thích thông thường của người Do thái về các phân đoạn tiên tri trong Cựu Ước có thể được tóm tắt lại theo cách nầy. Họ đã tin Đấng Mêsi sẽ hiện ra trong thời kỳ rắc rối lớn hay đại nạn dành cho người Do thái, rằng Ngài sẽ được một người tiền khu giống như Êli đến báo trước, rằng Ngài sẽ giải phóng Israel rồi dựng lên kỷ nguyên vương quốc vinh hiển trong khi hủy diệt các kẻ thù của Ngài. Những niềm tin như thế nầy không mâu thuẫn với các sự dạy của Tân Ước trừ ra đối với một lẽ thật. Họ đã xem sự đến của Đấng Mêsi và kỳ tận thế là một biến cố nhất định. Họ không hiểu rằng Đấng Chịu Xức Dầu trước tiên phải chịu khổ vì tội lỗi của cả thế gian. Đối với họ kỷ nguyên Hội thánh trong đó chúng ta đang sinh sống chỉ là một sự mầu nhiệm. Họ đã xem dân tộc của mình là tuyển dân của Đức Chúa Trời thay vì là một dân thánh gồm những người được chuộc từ từng nước, từng chi phái và từng tiếng nói.
4. Trong 23:38-39, Chúa Jêsus đã phán với dân Israel: "Nhà [đền thờ] các ngươi sẽ bỏ hoang". Ngài phán họ sẽ không còn thấy Ngài nữa cho tới chừng nào họ nói: "Phước cho Đấng nhơn danh Chúa mà đến!" ấy là lúc họ chịu công nhận Đấng Mêsi của họ.
5. Sau đó 24:1 cho chúng ta biết: "Khi Chúa Jêsus ra khỏi đền thờ". Các môn đồ của Ngài "đến gần để chỉ cho Ngài xem các nhà thuộc về đền thờ". Trong Mác 13:1, họ nói: "Thưa thầy, hãy xem đá và các nhà nầy là dường nào!"
6. Quả thực đền thờ là một bối cảnh rất nguy nga nằm ở cao trên Núi. Một số hòn đá có kích cở 40’x12x12, kích cở của những toa xe lửa và đã được khai thác thành các khuôn mẫu nhất định. Đối với những người Galilê lạc hậu nầy, Đền Thờ quả thực rất đáng kinh ngạc. Các toà nhà xinh đẹp nầy giờ đây sẽ bị bỏ "hoang" (23:38). Như trong Tân Ước, chúng là "Ycabốt" sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đã lìa khỏi họ (I Samuên 4:21).
7. Chúa Jêsus phán: "Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống". Hai hàm răng của họ ngậm lại. Họ không thể tưởng tượng cấu trúc đồ sộ của Đền Thờ sẽ bị hủy diệt.
8. Họ đi xuyên qua Cửa phía Đông, xuống trũng Kít-rôn rồi đi lên "Núi Ôlive" từ đó họ có thể nhìn thấy mặt trời lặn chiếu vào Núi Đền Thờ. Phierơ, Giacơ, Giăng và Anh rê đã đến với Chúa Jêsus mà hỏi: "Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế?" Vì sự dạy của người Do thái, họ cho rằng "lúc nào" chắc là ngay bây giờ, có lẽ ngày mai. Họ không màng tới sự dạy của Chúa Jêsus về sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài. Họ suy nghĩ tới "sự đến", parousia của Ngài hay sự hiện ra vinh hiển sẽ xuất hiện, trong kỳ Lễ Vượt Qua và sẽ lên tới cực điểm với "kỳ tận thế" hay sự hoàn tất của muôn vật. Luca 19:11 chép: "…và người ta tưởng rằng nước Đức Chúa Trời sẽ hiện ra ngay". Họ đã đi theo Ngài trong ba năm trời và muốn biết "lúc nào" và bằng cách nào hay "điềm gì" sẽ loan báo cho biết sự nắm lấy thế gian của Ngài.
9. Một số giáo sư Kinh Thánh đã cho rằng các sự cố nầy đã diễn ra ngắn ngủi sau sự thăng thiên của Chúa Jêsus và có ý nói tới sự hủy diệt toàn bộ Jerusalem của Titus vào năm 70SC. Tuy nhiên, có nhiều dấu chỉ cho thấy rằng Chúa Jêsus đang phán về các biến cố sắp xảy đến. Dấu chỉ rõ ràng: ấy là Chúa Jêsus không tái lâm vào năm 70SC! Chúng ta tin từ các phân đoạn khác trong Tân Ước rằng Hội thánh sẽ được cất lên trước các biến cố nầy diễn ra (Khải huyền 3:10; I Têsalônica 1:10; 4:13-17). Ở đây Chúa Jêsus đang nói tới sự đến lần thứ hai của Ngài, parousia của Ngài, chớ không phải nói tới sự cất lên của Hội thánh.
10. Với mọi điều nầy trong trí, chúng ta tiếp tục dù có sáu dấu lạ đầu tiên Chúa Jêsus đã đưa ra về sự đến của Ngài khi đáp lại các câu hỏi của họ.
I. Sự dỗ dành của các đấng mêsi giả hiệu (các câu 4-5).
A. "Hãy giữ kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi". Nói cách khác, đối với người nào sẽ sống trong những ngày sau rốt, Ngài phán: "Hãy tỉnh thức, hãy giữ cho mắt các ngươi mở ra""Vì nhiều người sẽ mạo danh ta đến mà nói rằng: Ta là Đấng Christ; và sẽ dỗ dành nhiều người".
B. Có những mêsi hay christ giả hiệu trước khi Chúa Jêsus thi hành chức vụ trên đất, rồi từ đó có nhiều kẻ giả hiệu lắm. Chúng ta đã nhìn thấy họ trong thời buổi của chúng ta, những kẻ giống như David Koresh và Jim Jones.
C. Hãy nhìn vào các câu 23-24. Dường như trong các thời kỳ trước sự tái lâm vinh hiển của Chúa Jêsus đã có nhiều mêsi giả hiệu lắm. Điều nầy cho thấy rằng họ có nhiều quyền lực siêu nhiên của ma quỉ, vùa giúp cho mọi sự dỗ dành của họ.
D. Hãy xem xét tình trạng của thế giới trong các chặng đường sau cùng trong sự phán xét của Đức Chúa Trời. Các tín đồ và với họ, ảnh hưởng đạo đức và thuộc linh của Hội thánh sẽ được cất đi. II Têsalônica 2:7 chép: "…song Đấng còn ngăn trở cần phải cất đi". Công tác của Đức Thánh Linh trong khi ngăn trở ma quỉ sẽ bị cất đi. Xã hội sẽ bị phân hủy và con người sẽ tìm kiếm hy vọng trong vô vọng. Họ sẽ dễ dàng trở thành miếng mồi cho những tay lang băm do ma quỉ xúi giục.
E. Dĩ nhiên là mêsi giả hiệu bản thân hắn sẽ trở thành Antichrist. Hắn sẽ dỗ dành cả thế gian. Đaniên 8:23 mô tả hắn là kẻ "…thấu rõ những lời mầu nhiệm".
II. Sự tàn phá của chiến tranh (các câu 6-7a).
A. Thêm vào với sự dỗ dành về mặt thuộc linh sẽ là sự tàn phá của những cuộc chiến tranh trên toàn thế giới. Chúa Jêsus phán về các thánh đồ trong kỳ tận thế: "Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc". Câu nầy chứa ý tưởng nói tới các tin tức liên tục về những cuộc chiến tranh và "tiếng đồn" về chiến tranh hầu đến.
B. Có người nói: "Sao chứ? Luôn luôn có chiến tranh và tiếng đồn về chiến tranh. Điều nầy hiện đang diễn ra ở vùng Trung đông mà". Hãy xem câu 8. Chúa Jêsus phán: "Song mọi điều đó chỉ là đầu sự tai hại". "Tai hại" là một từ ngữ nói tới đau đẻ và được dịch theo cách nầy trong nhiều bản dịch Kinh Thánh. Đau đẻ khởi sự từ từ và càng phát triển tới mức cao hơn. Vì vậy chiến tranh toàn cầu sẽ càng phát triển tới mức cao thêm trong những ngày sau rốt trước khi Chúa Jêsus hiện ra trong sự vinh hiển.
C. Chúa Jêsus phán: "hãy giữ mình, đừng bối rối, vì những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu". Các tín đồ trong thời buổi ấy không cần phải bối rối vì cớ bạo lực và đổ máu là một phần trong chương trình phán xét của Đức Chúa Trời.
D. Chúa Jêsus phán: "Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia". Không một quốc gia hay bộ tộc nào sẽ bị tách ra khỏi sự tàn diệt của chiến tranh toàn cầu. Từng quốc gia, từng vương quốc sẽ có binh lính cùng cư dân của nó bị nghiền nát bởi con thú chiến tranh khát máu.
E. Các sách tiên tri trong Cựu Ước, đặc biệt là sách Đaniên, ông ghi ra nhiều chi tiết quan trọng về các cuộc chiến tranh trong những ngày sau rốt và chúng liên quan thể nào tới Antichrist. Sách Khải huyền ghi rất chi tiết bằng ngôn ngữ có tính ẩn dụ tình trạng bạo lực cực độ sẽ hoành hành cả đất.
F. Chúng ta đang sinh sống trong thời kỳ tương đối hoà bình. Chúng ta đã nhìn thấy tình trạng giải trừ quân bị về nguyên tử và nhiều thoả hiệp hoà bình. Tuy nhiên, Kinh Thánh hứa rằng một nhận định giả hiệu về hoà bình sẽ đi trước tai vạ đang treo lơ lửng ở trên đầu (I Têsalônica 5:1-3). Người cỡi ngựa đầu tiên trong bốn người cỡi ngựa trong Khải huyền 6, người cỡi con ngựa trắng đi ra để chinh phạt và dường như đem lại sự hoà bình. Thế nhưng, một người cỡi ngựa sắc hồng đã mau chóng nối theo sau, người nầy sẽ: "…được quyền cất lấy cuộc hòa bình khỏi thế gian, hầu cho người ta giết lẫn nhau; và có kẻ ban cho người một thanh gươm lớn" (Khải huyền 6:4).
III. Sự huỷ diệt của thảm hoạ thiên nhiên (câu 7b-8).
A. Kế đó Chúa Jêsus phán rằng nhiều chỗ sẽ có: "đói kém và động đất". Nói cách khác, thêm vào với tình trạng bạo lực khủng khiếp của con người sẽ là nhiều kiểu cách của thảm họa thiên nhiên. Cấp độ chết chóc sẽ gia tăng rất mau trên khắp thế giới và sự trông mong được sống còn sẽ như một giọt nước nhỏ nhất vậy.
B. Người nào sống trong thời kỳ khủng khiếp nầy sẽ nhìn thấy thế giới bị phân hủy ở trước mắt họ. Trải qua nhiều thế kỷ con người đã gánh chịu nhiều "đói kém, dịch lệ và động đất" nhưng không biết thứ nào sẽ gia tăng khốc liệt trong những ngày sau rốt.
C. Sự dạy nầy từ Chúa Jêsus tương ứng với mọi điều Giăng tác giả sách Khải huyền đã nhìn thấy trong Khải huyền 6 với con ngựa đen và con ngựa xám. Chúng ta hãy đọc Khải huyền 6:5-7, 12-17; 9:2-6. Trong khi cái bát thạnh nộ thứ bảy đổ ra, 16:18 chép: "…Liền có chớp nhoáng, tiếng rầm, sấm vang và động đất dữ dội, động đất lớn lắm đến nỗi từ khi có loài người trên đất chưa hề có như vậy".
D. Một lần nữa chúng ta lưu ý câu 8: "Song mọi điều đó chỉ là đầu sự tai hại" hay đau đẻ. Nhiều việc sẽ ngày càng tệ hại thêm.
IV. Sự giải cứu của các tín đồ chân chính (câu 9).
A. Cơn đau đẻ kế tiếp là sự bắt bớ những ai đã tin theo Đấng Christ. Sau khi Hội thánh được cất lên, có nhiều người vẫn sẽ được cứu. Sự làm chứng của hai chứng nhân tại thành Jerusalem cùng sự làm chứng của 144.000 người sẽ đưa nhiều người đến với Đấng Christ.
B. Chúa Jêsus phán về số người nầy: "Người ta sẽ nộp các ngươi trong sự hoạn nạn và giết đi". Họ sẽ bị bắt bớ, bị hành hình và bị giết vì cớ đức tin của họ. Họ sẽ bị "mọi dân ghen ghét vì danh [Jêsus] ta".
C. Dân sự của Đức Chúa Trời luôn luôn chịu khổ vì thập tự giá. Nhiều tín đồ trong các quốc gia khác đã bị bắt bớ và đã tuận đạo hôm nay.
D. Một lần nữa, trong thời kỳ nầy sẽ có một sự gia tăng rất ghê gớm về sự bắt bớ. Khi Đức Thánh Linh rút lại sự ngăn trở của Ngài thì Satan có quyền lực rất lớn các thánh đồ sẽ chịu khổ như họ chưa bao giờ chịu khổ trước đó. Chúng ta hãy đọc Khải huyền 6:9-11; 7:9-17.
V. Sự bội đạo của những tín đồ giả mạo (các câu 10-13).
A. Chúa Jêsus phán kế đó rằng "Khi ấy cũng có nhiều kẻ sẽ sa vào chước cám dỗ, phản nghịch nhau, và ghen ghét nhau". "Khi ấy" tôi tin từ nầy đang đề cập tới sự bắt bớ đã được nhắc đến trong câu 9. Vì vớ sự bắt bớ khắc nghiệt, các Cơ đốc nhân giả hiệu sẽ bội đạo. Họ sẽ "sa vào chước cám dỗ" [vấp ngã, té dài].
B. Đây không phải là những tín đồ chân thật, mà là những người ra từ Cơ đốc giáo nhưng chưa hề được cứu. Họ sẽ lìa bỏ đức tin vì họ chưa bao giờ thực sự có đức tin. I Giăng 2:19 chép: "Chúng nó đã từ giữa chúng ta mà ra, nhưng vốn chẳng phải thuộc về chúng ta; vì nếu chúng nó thuộc về chúng ta, thì đã ở cùng chúng ta; song điều đó đã xảy đến, hầu cho tỏ ra rằng mọi kẻ ấy chẳng thuộc về chúng ta vậy".
C. Họ sẽ "phản nghịch" "ghen ghét" những kẻ mà họ từng có mối giao thông với nhau khi cái giá của sự tin tưởng lên quá cao. Nói về sự nầy, Chúa Jêsus đã phán ở Mác 13:12: "Bấy giờ, anh sẽ nộp em cho phải chết, cha sẽ nộp con; con cái sẽ dấy lên nghịch cùng cha mẹ mình mà làm cho phải chết".
D. Chúa Jêsus phán ở trong câu 11: "Nhiều tiên tri giả nổi lên sẽ dỗ dành lắm kẻ". Có người sẽ lìa bỏ đức tin vì cái giá của sự bắt bớ và nhiều người khác sẽ lìa bỏ vì "nhiều tiên tri giả" sẽ dỗ dành họ.
E. Trong những ngày đau đẻ sau rốt nầy, quyền lực đầy đủ của Satan không những sẽ được mở ra với tình trạng bạo lực và hiện tượng thiên nhiên ghê khiếp, mà còn được mở ra trong sự dỗ dành về mặt thuộc linh nữa. Tôn giáo giả đang chối bỏ lẽ thật Kinh Thánh sẽ đắc thắng mà trước đây chưa hề có được như vậy. Người ta sẽ tìm kiếm sự trông cậy và rất dễ bị dỗ dành.
F. Thú vị thay, Khải huyền 9:21 nói tới "tà thuật" từ chữ pharmakia từ đó chúng ta có chữ "pharmacy" (thuốc) ý nói tới ma túy. Loại ma túy làm thay đổi ý chí có thể được sử dụng để quyến rũ người ta vào sự dỗ dành.
G. Kế đó Chúa Jêsus phán "tội ác sẽ thêm nhiều". Tội ác sẽ thêm nhiều. Chúng ta nghĩ tình trạng đồi trụy và tội lỗi trong mọi thời đại đang ở một cấp độ cao, nhưng trong ngày đó nó sẽ "thêm nhiều" hơn nữa. Khắp nơi nơi sẽ không còn có ý thức về sự xấu hổ. Người ta sẽ làm bất cứ điều chi họ muốn mà chẳng màng gì đến đạo đức hay luật pháp nữa.
H. Nhiều người đã bị cuốn đến với tin lành song lại xây khỏi nó vì cớ sự quyến rũ của tội lỗi. Sự lôi cuốn của tội lỗi không giới hạn sẽ lôi họ ra xa khỏi Tin lành.
I. Trong thời kỳ nầy, dường như một số tín đồ chân chính sẽ bị tác động vì Chúa Jêsus phán: "lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội lần". Đây quả là một thời kỳ rất khó khăn khi trở thành một Cơ đốc nhân.
J. Sau cùng, Chúa Jêsus phán về sự bội đạo rộng khắp nầy: "Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu". Câu nầy không có ý nói tới khả năng chịu đựng sẽ đem lại sự cứu rỗi. Mà đúng hơn, câu nầy có ý nói rằng chỉ có tín đồ chân chính mới có sự chịu đựng mà Đức Thánh Linh sẽ mặc lấy quyền phép cho, đây là bằng chứng cho sự cứu của người tín đồ ấy.
K. Các tín đồ chân chính sẽ từ bỏ bất cứ thứ gì vì lý tưởng của Đấng Christ. Họ sẽ bất chấp sự lôi cuốn của tội lỗi và nỗi sợ hãi vì sự bắt bớ. Họ sẽ phó mạng sống của họ giống như Đấng Christ đã phó, sự nhận biết Ngài là phần thưởng xứng đáng cho sự chịu khổ. II Timôthê 2:11-13 chép: "Lời nầy chắc chắn lắm: Ví bằng chúng ta chết với Ngài, thì cũng sẽ sống với Ngài; lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta;  nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được".
L. Mặc dù sẽ có sự bất trung nhất thời nơi một số tín đồ, họ sẽ chịu đựng và chứng minh đức tin của họ vì Đức Chúa Trời sẽ đồng công hành động ở trong họ. Phaolô nói trong Philíp 1:6 rằng: "tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ".
VI. Tuyên ngôn của Tin lành (câu 14).
A. Sau cùng, Chúa Jêsus phán: "Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến".
B. Cho dù có sự gia tăng nhanh chóng về điều ác và sai phạm, sự bắt bớ và tai vạ, sứ điệp thập tự giá vẫn sẽ có quyền cứu. Sứ điệp ấy sẽ được "giảng ra khắp đất" tới một cấp độ không giống như một cấp độ nào khác trước đây. Tin lành sẽ đi ra nhiều hơn hết thảy mọi nổ lực truyền giáo của chúng ta kết hợp lạ.
C. Khải huyền 14:6-7 chép: "Điều ấy đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ khác bay giữa trời, có Tin Lành đời đời, đặng rao truyền cho dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc. Người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước".
D. Đây là hết thảy các dấu lạ chỉ về thời thế, về thời kỳ tận thế. Chúng là "đầu sự tai hại", những cơn đau đẻ sẽ leo thang cho tới chừng Kỷ Nguyên Vương Quốc đầy trọn của Đấng Christ thoát thai và sanh ra trong sự vinh hiển đời đời của Đức Chúa Cha.
E. Ồ chúng ta cần phải biết chắc về ơn cứu rỗi của mình là dường nào. Chúng ta dễ dàng nhìn thấy các dấu lạ nầy thể nào sẽ hiện đến trong thế giới của chúng ta!

***



Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Bài 81 Mathiơ 23:34-39: "TIẾNG KÊU TẬN ĐÁY LÒNG CỦA CỨU CHÚA"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Tiếng kêu tận đáy lòng
của Cứu Chúa
Mathiơ 23:34-39
1. Trong Cựu Ước, chúng ta thấy sách Ca thương, là sách khác nói về lời tiên tri của Giêrêmi. Thật là thú vị, "Ca thương" có nghĩa là "bài ca tang chế". Vị tiên tri hay than khóc đã viết với hai hàng nước mắt mọi điều sẽ giáng trên dân tộc của ông. Phân đoạn Kinh Thánh hôm nay đáng được gọi là: "Ca thương của Chúa Jêsus". Đây là tiếng kêu tận đáy lòng của Ngài về sự chối bỏ của dân tộc Ngài.
2. Như chúng ta đã lưu ý, chương 23 là sứ điệp sau cùng của Chúa Jêsus cho dân tộc Israel. Khi nói với "đoàn dân đông cùng các môn đồ Ngài", Ngài bắt đầu bằng một lời cảnh cáo về muông sói, các cấp lãnh đạo tôn giáo giả hình: "các thầy thông giáo và người dòng Pharisi". Họ sử dụng tôn giáo vì lợi ích riêng tư và tánh ích kỷ của họ, rồi lôi kéo dân sự xa cách Đức Chúa Trời (các câu 1-12). Bài giảng lên tới cao điểm khi Chúa Jêsus nói thẳng thừng vào các cấp lãnh đạo tôn giáo giả hình. Trong các câu 13-33, Ngài tuyên bố một loạt tám điều "khốn cho" hay những lời đoán phạt sẽ giáng xuống trên họ. Lời tuyên bố nầy lên tới cao điểm ở các câu 32-33, ở đây Ngài bảo họ "hãy làm cho đầy dẫy cái lường của tổ phụ các ngươi" rồi hỏi: "Làm thế nào các ngươi tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được?"
3. Bây giờ ở tiểu đoạn cuối nầy trong sứ điệp của Chúa Jêsus, chúng ta nghe thấy tiếng kêu tận đáy lòng rất đau khổ của Cứu Chúa, một cánh cửa sổ để nhìn vào tấm lòng đầy sự thương xót của Đức Chúa Trời. Nếu tám điều “khốn cho” kia là sấm sét của một cơn bão đầy quyền lực sự đoán phạt của Đức Chúa Trời, những câu sau cùng nầy là thanh âm của những giọt nước mắt của Cứu Chúa rơi xuống giống như những hạt mưa vậy.
4. Trong tiểu đoạn nầy, chúng ta thấy cả sự đoán phạt sau cùng dành cho kẻ vô tín cùng bài kinh tạ ơn buồn rầu dành cho Israel.
I. Sự đoán phạt sau cùng dành cho các cấp lãnh đạo giả hình (các câu 34-36).
A. Đức Chúa Trời sẽ sai nhiều sứ giả đến nữa (câu 34).
1. Chúa Jêsus phán: "vậy nên" hay căn cứ vào sự thực quí vị sẽ "làm đầy… cái lường của tổ phụ các ngươi" và không "tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được", Ngài sẽ sai "những Đấng tiên tri, kẻ khôn ngoan và thầy thông giáo" đến với họ, đến nỗi sẽ bị họ "giết", "đóng đinh trên cây thập tự""đánh đập" hầu cho họ sẽ sa vào tội lỗi khiến cho "hết thảy máu vô tội bị tràn ra trên mặt đất".
2. Chúa Jêsus đã sử dụng từ ngữ Do thái để khán thính giả của Ngài sẽ hiểu được hầu mô tả công việc của Hội thánh đầu tiên. Ngài phán Ngài sẽ sai phái nhiều "Đấng tiên tri" hay các sứ đồ, về mặt siêu nhiên họ nói ra Lời Đức Chúa Trời giống như các Đấng tiên tri thời Cựu Ước. "Kẻ khôn ngoan" là hạng người trung tín của Đức Chúa Trời trỗi cao hơn các sứ đồ giống như Êtiên, Abôlô và Philíp. Kế đó có những "thầy thông giáo" họ viết ra và ghi chép lại Ngôi Lời, những người giống như Mác và Luca.
3. Sự thương xót của Đức Chúa Trời rất là lớn. Qua những người Do thái đã được lập làm chứng nhân của Ngài trong hàng ngàn năm, mặc dù Emmanuên đã đến và đã bước đi giữa vòng họ, Đức Chúa Trời vẫn và sẽ tiếp tục làm chứng cho họ về ân điển của Ngài.
4. Ngài tiếp tục bằng chiều sâu lớn lao hơn với hạng bất kỉnh nhất trong loài người. Ngài lặp lại những lời cảnh cáo của Ngài. Ngài gửi hết sứ điệp nầy đến sứ điệp khác, hết sứ giả nầy đến sứ giả khác đến với họ. Ngài quở trách họ và kêu gọi họ hãy ăn năn. Ngài "lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn" (II Phierơ 3:9).
5. Đức Chúa Trời kêu gọi loài người phải ăn năn. Ngài đang gõ vào cánh cửa lòng của họ với sự đau ốm và bịnh tật. Ngài kêu gọi lương tâm họ bằng sự làm chứng của những tín đồ trung tín. Ngài đặt họ trước mồ mả của gia đình và bạn bè đang mở ra. Ngài khiến họ phải suy nghĩ tới sự sống sau khi chết. Hầu hết đều không nhìn thấy chương trình hay ân sũng của Ngài. Dù vậy, họ không thể chữa mình được.
6. Chúa Jêsus sẽ phái các đại biểu sau cùng nầy đến để cho kẻ phạm tội đời đời không chữa mình được khi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời giáng xuống.
7. Chúa Jêsus bảo người Do thái rằng các tôi tớ trung thành của Ngài "một số người trong họ, các ngươi sẽ giết và đóng đinh trên cây thập tự". Có lẽ điều nầy có ý nói tới cả phương tiện hành hình của người Do thái và người La mã. Chúa Jêsus đã bị đóng đinh trên cây thập tự. Truyền thuyết cho biết rằng Phierơ đã bị đóng đinh ngược trên cây thập tự. Êtiên đã bị ném đá chết. Giacơ bị gươm giết chết.
8. Ngài phán: "trong những người ấy, kẻ thì các ngươi sẽ giết và đóng đinh trên cây thập tự, kẻ thì các ngươi sẽ đánh đập trong nhà hội mình, và các ngươi sẽ đuổi bắt họ từ thành nầy qua thành kia". Phaolô nói trong II Côrinhtô 11:24-25: "năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá…". Ông đã từng bắt bớ nhiều Cơ đốc nhân "từ thành nầy qua thành kia" cũng như chính mình ông đã bị bắt bớ cùng một kiểu cách ấy. Sách Công Vụ các Sứ Đồ cho thấy rằng ông đã bị người ta xua đuổi ra khỏi khỏi nhiều thành phố.
B. Sứ giả của Đức Chúa Trời sẽ nhất quyết về tội lỗi của họ (các cấp 34-35).
1. Chúa Jêsus sẽ phái người của Ngài "đến cùng các ngươi, hầu cho hết thảy máu vô tội bị tràn ra trên mặt đất".
2. Trong khi nhiều người sẽ được cứu; các cấp lãnh Do thái nầy sẽ tiếp tục chối bỏ Đấng Mêsi của họ. Dân sự của Đức Chúa Trời sẽ trở thành những vị Mục sư của ơn chửng cứu cho nhiều người, nhưng cũng là Mục sư của sự đoán phạt cho những kẻ nào chối bỏ Đấng Christ.
3. Người ta càng nghe Lẽ thật của Đức Chúa Trời tội lỗi của họ càng lớn lao hơn và sự đoán phạt càng lớn hơn nữa khi họ chối bỏ Lẽ thật đó.
4. Chúa Jêsus nhắc tới "máu Abên là người công bình" đã kêu la với Đức Giêhôva từ dưới đất, ngay tại nơi Abên bị Cain anh mình giết chết (Sáng thế ký 4.10). Cain không chịu đựng nổi sự công bình của em mình, vì vậy Cain đã giết Abên.
5. Có một sự khác biệt giữa vòng các giáo sư Kinh Thánh như về lai lịch của "Xachari là con của Balachi" là người đã bị "giết ở giữa khoảng đền thờ và bàn thờ". II Sử ký 24 mô tả thể nào Xachari con của Giêhôgiađa đã bị ném đá theo lịnh của Vua Giôách vì dám đứng nghịch lại sự thờ lạy hình tượng của ông. Có hơn 20 người mang tên "Xachari" trong Kinh Thánh Cựu Ước. Tiên tri Xachari là "con trai của Balachi" (Xachari 1:1). Ông là một trong những tiên tri cuối cùng của thời kỳ Cựu Ước. Có lẽ Chúa Jêsus đã chọn hai cái tên nầy, một, vào lúc bắt đầu và một vào lúc cuối của thời Cựu Ước để tượng trưng cho hết thảy những ai đã xuất hiện ở giữa hai người.
6. Hãy chú ý Chúa Jêsus phán: "mà CÁC NGƯƠI đã giết". Mặc dù các sự cố nầy đã diễn ra hàng trăm năm trước khi các khán thính giả của Ngài chào đời, họ đã cưu mang tội lỗi vì họ đã chối bỏ Đấng Mêsi của họ.
7. Đức Chúa Trời không hề quên tội lỗi chưa được tha thứ. Những tội lỗi chưa ăn năn cách đây một ngàn năm vẫn còn mới mẻ trong lý trí của Ngài cũng y như tội lỗi chưa ăn năn của ngày hôm nay vậy.
8. Huyết của những nhà tuận đạo vẫn còn kêu la cùng Đức Chúa Trời. Các tín đồ có lòng trung tín, họ đã chết trong những kỹ nguyên tăm tối, họ đã bị thiêu sống trong suốt thời kỳ Cải Chánh và bị Toà Án Pháp Đình kết án tử hình, hết thảy vẫn còn được kể tới. Thi thiên 58:11 chép: "Người ta sẽ nói rằng: Quả hẳn có phần thưởng cho kẻ công bình, quả hẳn có Đức Chúa Trời xét đoán trên đất".
9. Một thành ngữ xưa nói rằng: "Cái cối công bình của Đức Chúa Trời xay tuy chậm, nhưng  rất nhuyễn".
10. Tội lỗi của tình trạng nô lệ tại nước Mỹ vào thế kỷ thứ 18 đã phải trả giá bằng một cuộc nội chiến đổ máu vào thế kỷ thứ 19. Một sử gia nói: "Tình trạng nô lệ là con rắn độc thu mình nằm dưới cái bàn hội nghị của quốc hội".
11. Người nào cứ lo bắt bớ dân sự của Đức Chúa Trời sẽ đối diện với cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Ngài nhìn biết khi nào con cái Ngài bị tổn thương, bị chế nhạo hay bị vu khống vì cớ đức tin của họ. Ngài không hề quên tấn công con cái của Ngài chính là tội lỗi của họ, y như họ đã tấn công Ngài vậy. Xachari 2:8 chép: "…vì ai đụng đến các ngươi tức là đụng đến con ngươi mắt Ngài".
C. Sự đoán phạt đó sẽ giáng trên dòng dõi nầy (câu 36).
1. Chúa Jêsus phán: "Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mọi điều đó sẽ xảy đến cho dòng dõi nầy".
2. "Dòng dõi" nầy sẽ chẳng qua cho tới chừng sự ứng nghiệm đầy đủ và sự huỷ diệt hoàn toàn thành Jerusalem đã diễn ra. Nguyện mắt của quí vị sẽ nhìn vào trang Kinh Thánh ở 24:2. Sau khi thấy "các nhà thuộc về đền thờ", Chúa Jêsus phán cùng các môn đồ Ngài: "Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống".
3. Chúa Jêsus đã loan báo trước điều sẽ xảy ra 40 năm sau vào năm 70 SC. Ngài gọi điều nầy là "ngày báo thù" trong Luca 21:22.
4. Vào năm 66 SC, một cuộc cách mạng của người Do thái đã nổ ra chống lại Rôma. Sử gia Josephus ghi lại thể nào Rôma đã sai quân viễn chinh của họ dưới quyền chỉ huy của Tướng Titus để đánh hạ phe nổi loạn. Hàng ngàn người đã bị giết trong xứ Galilê. Titus tiến vào thành Jerusalem với 80.000 binh lính rồi vây chặt thành phố. Khi người Do thái không chịu đầu hàng, ông ta đã đánh cả thành phố bằng gươm.
5. Từ khi ấy trở đi, thậm chí cho tới những năm gần đây, người Do thái đã bị bắt bớ và bị giết. Ngày nay xứ sở Israel thường xuyên chịu nhiều cuộc tấn công. Tại sao phải chịu vậy chớ?
6. Chúa Jêsus đã hứa rằng khi quốc gia Israel chối bỏ các Đấng tiên tri và Đấng Mêsi của nó, nó sẽ chối bỏ sự làm chứng giàu ơn của Tin lành bởi các sứ đồ. Họ sẽ nhìn thấy công việc lạ lùng của Chúa trong những ngày đầu sớm sủa của Hội thánh mà cứ cố tình xây lưng đi.
7. Trong nhiều thế kỷ, Đức Chúa Trời đã để cho sự đoán phạt thiêng liêng giáng trên xứ sở, nhưng cũng bảo tồn theo cách thiêng liêng xứ sở ấy cho tới ngày đó, là ngày mà nó sẽ công nhận Đấng Mêsi của mình. Hãy chú ý câu 39: "Vì, ta bảo, các ngươi sẽ không thấy ta nữa, cho đến lúc các ngươi sẽ nói rằng: Phước cho Đấng nhơn danh Chúa mà đến!"
II. Lời tạm biệt sau cùng dành cho người Do thái (các câu 37-39).
A. Lòng thương xót bao la của Chúa Jêsus (các câu 37-38).
1. Buổi sáng hôm trước, khi Chúa Jêsus cỡi lừa vào thành phố, Ngài đã phán: "Ước gì, ít nữa ngày nay, mầy đã hiểu biết sự làm cho mầy được bình an! Song hiện nay những sự ấy kín giấu nơi mắt mầy" (Luca 19:42).
2. Chúa Jêsus đã bật khóc, không nghi ngờ chi nữa với hai hàng nước mắt trên gò má Ngài: "Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem". Cũng một cung cách ấy Ngài đã phán: "Hỡi Mathê, Mathê" hay "Hỡi Simôn, Simôn" Ngài đã phán cùng dân Israel.
3. Ngài đã phán: "ngươi [cứ] giết các đấng tiên tri và [cứ] ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi".
4. Sâu xa hơn, Ngài buồn rầu mà nói: "bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấy trong cánh". Tiếp đến Ngài phán: "Nhưng các ngươi chẳng khứng!" Giăng 1:11 chép: "Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy".
Có bao giờ quí vị ở trong một sân nuôi gà chưa? Bà nội tôi có một sân nuôi gà ở phía sau nhà của bà. Một con gà mẹ sẽ nhóm mấy con gà con của mình lại. Nó xoè rộng đôi cánh bên trên chúng và kéo chúng vào gần thân mình nó. Bên dưới đôi cánh của nó chúng sẽ tìm được hơi ấm, an toàn và yên ninh. Cảm nhận được nhịp đập của quả tim của nó làm cho chúng được an lòng. Dại dột làm sao khi chú gà con nào "chẳng khứng" rồi chạy ra khỏi lòng mẹ nó. Nó sẽ trở thành con mồi dễ dàng cho bất kỳ một con dã thú nào khác.
5. Thi thiên 36:7 chép: "Hỡi Đức Chúa Trời, sự nhơn từ Chúa quí biết bao! Con cái loài người nương náu mình dưới bóng cánh của Chúa".
G. Campbell Morgan đã viết: "Mục đích của Ngài không phải là đưa ra một lời rủa sả mà là đưa tới một phước hạnh; không phải rên rỉ khốn khổ do thất bại, mà là ca ngợi con người. Chúng ta nhớ hình ảnh người mẹ của Sôphôni: ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ở giữa ngươi; Ngài là Đấng quyền năng sẽ giải cứu ngươi: Ngài sẽ vui mừng cả thể vì cớ ngươi; vì lòng yêu thương mình, Ngài sẽ nín lặng; và vì cớ ngươi Ngài sẽ ca hát mừng rỡ’" (Sôphôni 3:17).
6. Trọng tâm của tội lỗi là do "chẳng khứng" khi Đức Chúa Trời kêu gọi!
7. Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời là tối cao trên muôn vật, tuy nhiên Kinh Thánh chưa hề dạy “thuyết quyết định” (determinism), rằng mọi hành động của ý chí con người hoàn toàn đã được tiền định. Đức Chúa Trời đã "khứng" cho Israel được cứu, thế nhưng Israel đã "chẳng khứng".
J.C. Ryle từng viết: "Bổn tánh của con người vốn bất lực, không thể nghĩ  điều chi tốt đẹp về cái tôi của mình, không có quyền hướng bản thân mình vào đức tin và kêu cầu Đức Chúa Trời, con ngươi có một khả năng mạnh mẽ chuyên hủy phá chính linh hồn mình. Thật lấy làm tốt khi con người ở trong tình trạng vô quyền, con người luôn có khả năng hướng về điều ác. Nói thẳng ra, chúng ta thấy một người chẳng làm chi được cho chính bản thân mình, nhưng chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng chính ý chí của người là ngôi của tình trạng bất lực đó. Một ý chí muốn ăn năn và tin theo chẳng có người nào tạo ra được cho mình, nhưng một ý chí muốn chối bỏ Đấng Christ và đi đường riêng mình, tự trong bản chất mỗi con người đều có, và nếu sau cùng chẳng được cứu, ý chí ấy sẽ đem lại sự hủy diệt cho người đó".
8. Khi có ai đó chối bỏ Đấng Christ, đây không phải là hành động của may rủi, mà là một sự luyện tập của ý chí trong tội lỗi.
9. Ở đây chúng ta thấy sự cân đối rất tinh tế nơi quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người. Tấm lòng chai cứng nhất của con người có thể trở nên sẵn lòng do quyền phép của Đức Chúa Trời tạo ra. Ân điển của Đức Chúa Trời là một sức mạnh vô đối. Còn con người là một hữu thể có trách nhiệm. Êtiên đã buộc tội người Do thái khi ông nói trong Công Vụ các Sứ Đồ 7:51: "Hỡi những người cứng cổ, lòng và tai chẳng cắt bì kia! Các ngươi cứ nghịch với Đức Thánh Linh hoài; tổ-phụ các ngươi thế nào, thì các ngươi cũng thế ấy!" Khi con người không chịu đến với Đấng Christ, không phải vì Ngài không khứng cứu lấy họ, nhưng vì họ không khứng chạy đến với Ngài.
10. Chúa Jêsus sẽ cứu hết thảy mọi người nhưng hết thảy mọi người sẽ không được cứu. Sự cứu rỗi hoàn toàn là công việc của Đức Chúa Trời nhưng sự hư mất của con người hoàn toàn là do chính con người. Trong cõi đời đời, người được cứu sẽ dâng lên mọi sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời, còn kẻ bị hư mất sẽ chẳng có ai để đổ thừa cho trừ ra chính mình họ.
11. Chúa đã phán "các ngươi chẳng khứng" cũng nói về nhiều người trong chính thế hệ của chúng ta nữa. Có lẽ họ đã có một bằng chứng lớn lao về ân điển của Đức Chúa Trời hơn bất kỳ một thế hệ nào khác trước họ. Nói chung, như một tổng thể, họ đã "chẳng khứng", rồi vì thế tội lỗi họ sẽ xét đoán họ.
12. Trong câu 38, Chúa Jêsus phán: "Nầy! Nhà các ngươi sẽ bỏ hoang". Khi đứng trên nền của đền thờ ở đó, tôi tin Chúa Jêsus đã đề cập tới điều mà Ngài đã nói trước đó "Nhà của Cha ta" (Giăng 2:16)"Nhà ta" (Mathiơ 21”13). Giờ đây Ngài gọi nhà nầy là "Nhà các ngươi", một tham khảo tới cả nước. Ngài đã gọi họ là Ycabốt vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đã lìa khỏi họ. Sự hoang vu trong nhà đã được tạo ra bởi sự vắng mặt của Chủ Nhà.
B. Sự trở lại đạo không lấy gì làm chắc chắn của dân Israel (câu 39).
1. Chúa Jêsus nói thêm một câu cuối có cả sự phán xét và hy vọng. Sự phán xét là: "Các ngươi sẽ không thấy ta nữa". Sau sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài, Chúa Jêsus đã hiện ra nhiều lần cho các môn đồ Ngài xem thấy, nhưng không bao giờ cho những người Do thái vô tín xem thấy.
2. Sự hy vọng là: "cho đến lúc". Ngài không phán "trừ phi" đưa ra điều kiện có lời hứa mà "cho đến lúc" có nghĩa là có một thời điểm trong tương lai khi hết thảy người Israel sẽ nói: "Phước cho Đấng nhơn danh Chúa mà đến!"
3. Nhiều ngày trước đó họ đã hô to lời ngợi khen dành cho Đấng Mêsi từ Thi thiên 118:26 khi Ngài cỡi lừa vào thành. Chúa Jêsus đã nhìn thấy thời điểm dân sót Israel chân thật sẽ tôn vinh Ngài là Vua.
4. Hướng sang Xachari (là người "bị giết giữa khoảng đền thờ và bàn thờ") 12:8-10; 13:1-2; 14:1-9.
5. Lòng thương xót của Chúa Jêsus dành cho người công bình không hề làm mất đi lòng thương xót của Ngài dành cho người tệ hại nhất. Lòng thương xót của Ngài dành cho người tệ hại nhất không hề làm mất đi lòng thương xót của Ngài dành cho người công bình.

***