Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Bài 93: Mathiơ 26:36-46: THỐNG KHỔ Ở TRONG VƯỜN


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Thống khổ ở trong vườn
Mathiơ 26:36-46
Mathiơ 26 đưa chúng ta đến với những ngày sau cùng chức vụ của Chúa Jêsus ở trên đất, thậm chí những giờ sau cùng  trước khi Ngài chịu chết vì tội lỗi của cả thế gian. Trong mấy bài nghiên cứu mới đây, chúng ta đã học biết về các cấp lãnh đạo tôn giáo của dân Israel thể nào đã "mưu" bắt Chúa Jêsus và giết Ngài (các câu 1-5), thể nào trong một hành động có tính cách tiệm tiến trong sự thờ lạy, Mary đã xức cho Chúa Jêsus bằng loại dầu đắt tiền (các câu 6-13), và thể nào Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, người giữ túi bạc của các môn đồ đã mặc cả để phản Chúa Jêsus để lấy "ba mươi miếng bạc", cái giá của một tên nô lệ tầm thường (các câu 14-16). Kế đó, chúng ta đã xét qua thể nào Chúa Jêsus đã kỷ niệm Lễ Vượt Qua cuối cùng với các môn đồ và trong chính lễ tưởng niệm ấy đã thiết lập Lễ Tiệc Thánh lần đầu tiên (các câu 17-30). Trong phần nghiên cứu vừa qua, chúng ta đã học biết thể nào Chúa Jêsus đã nói trước về sự ruồng bỏ của các môn đồ, đặc biệt là sự chối bỏ của Phierơ.
Chúa Jêsus cùng các môn đồ đã rời phòng cao rồi đi ngang thành phố đông đúc ấy qua khe Kít-rôn đến "Núi Ôlive" (câu 30). Lúc bấy giờ trời đã tối lắm rồi, có lẽ là gần nửa đêm. Thay vì đi ngủ, Chúa Jêsus đã để họ lại, Ngài đi một đỗi nữa đến một nơi kia đặng cầu nguyện. Câu 36 chép Ngài đưa họ đến "tại một nơi gọi là Ghết-sê-ma-nê".
"Ghết-sê-ma-nê" có nghĩa là "ép ôlive". Có lẽ đây là một vườn cây Ôlive trên sườn núi có bức tường đá vây quanh. Có lẽ một trong các môn đồ của Ngài là chủ của ngôi vườn, dường như Chúa Jêsus rất thường đến đây đặng cầu nguyện riêng. Có thể là tại chốn nầy mà Chúa Jêsus đã phát ra Bài Giảng Trên Núi (các chương 24-25). Với bất cứ tình huống nào, đây là một địa điểm rất quen thuộc đối với hết thảy mọi người trong số đó.
Buổi tối hôm ấy, những gì đã xảy ra cung ứng cho chúng ta thấy được sự đan dệt giữa thần tính và nhân tính của Ngài. Phân đoạn Kinh Thánh nầy là một cánh cửa sổ nhìn thẳng vào tấm lòng của Người-Trời. Chúng ta hãy xét qua nỗi buồn sâu sắc của Ngài, lời cầu nguyện bi thương và sự  đầu phục vô điều kiện trước ý chỉ của Đức Chúa Cha.
I. Nỗi buồn sâu sắc của Chúa Jêsus (các câu 36-39).
Sau khi đến tại Vườn "Ghết-sê-ma-nê" Chúa Jêsus đã để 8 môn đồ ở lại tại cổng vườn. Ngài phán trong câu 36: "Hãy ngồi đây đợi ta đi cầu nguyện đằng kia". Có lẽ Ngài đã để họ ở lại đó trước khi bước vào sự cầu nguyện riêng.
Câu 37 chép Ngài: "bèn đem Phi-e-rơ và hai người con của Xê-bê-đê đi với mình", nghĩa là, Giacơ và Giăng. Đây là bộ "ba ở vòng trong" của 12 sứ đồ. Có khi họ cùng đi với Ngài trong một vài cơ hội, lúc các người khác bị bỏ lại ở đàng sau (Mathiơ 17:1; Mác 5:37).
Tôi tin Chúa Jêsus đã dành thời gian đặc biệt với mấy người nầy và cho phép họ nhìn thấy mọi điều mà các người khác không nhìn thấy, vì mỗi người trong số họ sẽ trở thành cấp lãnh đạo đặc biệt trong Hội thánh và sẽ dạy dỗ người khác mọi điều mà họ đã tiếp thu được. Chúa Jêsus muốn họ phải chứng kiến sự buồn rầu cùng sự phấn đấu cực độ của Ngài ở trong vườn đêm hôm ấy.
Khi họ tiến sâu vào chỗ tăm tối của vườn Ôlive: "tức thì Ngài buồn bực và sầu não lắm". Chúa Jêsus vốn biết rõ mọi điều sắp xảy đến. Ngài biết rõ Ngài đã giáng trần vì mục đích nầy. Ngài vốn biết rõ Ngài chính là "chiên con chịu giết từ khi sáng thế" (Khải huyền 13:8). Tuy nhiên, cái chạm tình cảm trọn vẹn về mọi sự sắp xảy ra "đã bắt đầu" từ giây phút đó, nó phủ lút trên chính mình Ngài.
Chúa Jêsus là con người trong mọi phương diện, trừ ra chỗ Ngài không có bản chất sa ngã, tội lỗi hư hoại. Ngài đã kinh nghiệm chính xác từng thứ tình cảm của con người giống như chúng ta kinh nghiệm vậy. Ngài đã khóc. Ngài đã than thở. Ngài đã vui mừng. Mặc dù Kinh Thánh không nhắc tới, chúng ta biết nhiều lúc Ngài đã mĩm cười. Nếu Kinh Thánh nhấn mạnh Ngài buồn nhiều hơn là vui vẻ, sở dĩ như thế là vì mọi điều Ngài đã nhìn thấy trên thế gian đã làm tan vỡ tấm lòng Ngài. Chúng ta càng tới gần Đấng Christ hơn, chúng ta càng mặc lấy "ý của Đấng Christ" (I Côrinhtô 2:16), chúng ta càng ít thấy cười được trong thế gian nầy.
Chúng ta thấy khó mà hiểu được Chúa Jêsus đã cảm nhận như thế nào trong giờ phút đó. John MacArthur mô tả cảm xúc ấy theo cách nầy: "Chưa hề có nhiều đau buồn như thế toát ra từ linh hồn của một con người. Chúng ta không sao hiểu được chiều sâu nỗi khổ của Đấng Christ vì, nói thẳng ra, chúng ta không thể thấy được sự gian ác của tội lỗi như Ngài thấy được đâu. Chúng ta cũng không thể đánh giá đúng mức những điều khủng khiếp của cơn thạnh nộ thiêng liêng theo cách mà Ngài đánh giá. Nỗi buồn Ngài tỏ ra trong sự cầu nguyện ở vườn Ghết-sê-ma-nê vượt quá trí hiểu của chúng ta. Chúng ta không nên kinh ngạc một khi ý nghĩa đầy đủ của sự cầu nguyện dường như vượt quá hiểu biết của chúng ta".
Chúa Jêsus đã "buồn bực" lắm vì  Ngài sắp bị phản và hắn đang sửa soạn dẫn những kẻ muốn giết Ngài đến bắt Ngài. Nỗi buồn phủ lút Ngài khi tư tưởng đến các môn đồ sẽ ruồng bỏ Ngài và chối không nhận Ngài. Còn tệ hại nhiều hơn thế nữa, buồn bực trải qua Ngài khi Ngài bị xem là thích ứng với tội lỗi mà Ngài sẽ mang lấy và “cái chén” thạnh nộ của Đức Chúa Trời mà Ngài buộc phải uống. Hơn cả mọi sự ấy nữa, là đau buồn về phần xác không thể nghĩ được mà chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ đối diện với.
Không những Chúa Jêsus đã "buồn bực" mà Ngài còn "sầu não" nữa. Các môn đồ chưa hề thấy Ngài ở trong tình trạng như thế bao giờ. "Sầu não" có nghĩa là "rất nặng nề". Gánh nặng mọi tội lỗi của thế gian đã chất trên hai vai của Ngài. Quí vị có từng thấy ai đó đương lọt vào nỗi kinh hãi cực độ chưa? Họ khó có thể ăn ở và điều khiển các cơ bắp của họ. Tôi không nghĩ chúng ta đang kéo căng phân đoạn để nói rằng có lẽ Chúa Jêsus đã khóc nức nở và những giọt lệ đang chảy dài trên hai gò má của Ngài. Có lẽ chúng đã trợ giúp Ngài khi Ngài trên đường tiến sâu vào trong vườn.
Trên đường về lại quê hương, mục tiêu nỗi buồn ghê gớm của Ngài có thể nhận thấy được, chúng ta xem Chúa Jêsus phán với họ: "Linh hồn ta buồn bực cho đến chết". "Buồn bực" ra từ chữ perilupos có nghĩa là: "xung quanh đều đáng buồn". Từ chữ nầy chúng ta mới có từ ngữ "periphery" (chu vi). Chúa Jêsus bị sự buồn bực vây chung quanh. Ngài đang ngã lòng trong sự buồn bực đó. Ngài bị phủ lút với mọi điều sắp sửa xảy ra đến nỗi Ngài như sắp "chết" vậy.
Con người ta có thể ngã chết từ những cảm xúc mạnh. Họ có thể bị sợ hãi hay giận dữ thắng hơn đến nỗi thân thể họ phải tiều tụy. Chúa Jêsus biết rõ trong sự buồn bực, Ngài đã đạt tới giới hạn của thân thể và gần "chết". Khi ấy Ngài sẽ ngã chết và nếu Đức Chúa Trời không giữ gìn Ngài, để Ngài chịu lấy cái chết có tính cách hy sinh trên thập tự giá.
Luca 22:44 mô tả bối cảnh ấy như sau: "Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng thiết, mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất". Tình trạng nầy được biết là hermatidrosis, trong đó dưới sức căng nặng nề của cảm xúc, các mao mạch dưới da vỡ tung dưới lực căng và máu sẽ thoát ra qua các tuyến mồ hôi.
Chúng ta không thể hiểu được những chiều sâu vô hạn nỗi buồn của Chúa Jêsus trong đêm hôm ấy. Hêbơrơ 5:7 nói về Ngài: "khi còn trong xác thịt, thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng nhân đức Ngài, nên được nhậm lời".
Tôi thích lời lẽ của bài thánh ca xưa My Saviors Love (Tình yêu Cứu Chúa tôi). Một trong những lời bài hát ấy ghi như sau: "Ngài đã cầu thay cho tôi ở trong vườn, ‘không theo ý tôi, mà theo ý Cha’. Ngài không có một giọt lệ nào cho nỗi buồn riêng của Ngài, mà giọt mồ hôi như giọt huyết đã nhỏ xuống vì tôi. Lạ lùng thay, kỳ diệu thay! Và đấy là bài ca của tôi. Lạ lùng thay, kỳ diệu thay là tình yêu của Cứu Chúa dành cho tôi".
II. Lời cầu thay thống khổ của Chúa Jêsus (các câu 39-44).
Sau khi bảo Phierơ, Giacơ và Giăng: "Hãy ở đây và tỉnh thức với ta", Chúa Jêsus "bước tới một ít" vào nơi vắng vẻ trong vườn và "sấp mặt xuống đất" mà cầu nguyện và cầu thay với Đức Chúa Cha.
Chúa Jêsus cầu nguyện: "Cha ơi! nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi Con!" Trong mọi lời cầu nguyện của Chúa Jêsus trừ ra tiếng kêu của Ngài trên thập tự giá đều ở trong sự ứng nghiệm Thi thiên 22, Chúa Jêsus đã gọi Đức Chúa Trời là “Cha” của Ngài. Ngài không giống như người Do thái trong thời của Ngài. Mác 14:36, nhắc tới chính bối cảnh này, ông ghi lại rằng Ngài phán: "A-ba lạy Cha, mọi việc Cha làm được cả; xin Cha cất chén nầy khỏi con; nhưng không theo điều con muốn…". "A-ba" là chữ Aram tương đương với chữ "Cha" của chúng ta.
Chúa Jêsus cố ý yêu cầu “Cha” của mình nếu “có thể được”xin Ngài "cất chén nầy khỏi con". Muốn có được bất kỳ một sự hiểu biết nào về mọi điều sẽ xảy ra cho Chúa Jêsus trong đêm đó, chúng ta phải nắm bắt cho kỳ được ý nghĩa của chữ "chén" nầy!
"Chén" không những là cách nói bóng gió tới sự chết. Chén ấy không những nói tới nỗi đớn đau, dằn vặt phần xác thể trên thập tự giá. Đây không phải là sự biết trước những mũi đinh đóng xuyên qua thân thể Ngài, cơn khát kinh khủng, sự chộp bắt phần hơi thở mà Ngài e sợ nhất. Chén không phải là trận đòn vọt, các lần xét xử chế giễu, nhạo báng, sự đối đãi phạm thượng mà Ngài sẽ nhận lãnh hoặc toàn bộ mọi sự nầy. Cái "chén" là một thứ còn nhiều tệ hại hơn. Thực vậy, Chúa Jêsus đã nói trong Luca 12:4-5: "…Đừng sợ kẻ giết xác rồi sau không làm gì được nữa. Song ta chỉ cho các ngươi biết phải sợ ai: phải sợ Đấng khi đã giết rồi, có quyền bỏ xuống địa ngục; phải ta nói cùng các ngươi, ấy là Đấng các ngươi phải sợ!"
Cái "chén" mà Chúa Jêsus sợ phải uống là sự đổ ra cơn thạnh nộ thánh của Đức Chúa Trời trên tội lỗi. Trong Cựu Ước, cái "chén" là biểu tượng cho cơn thạnh nộ. Êsai 51:17 chép: "Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy thức dậy, thức dậy, và đứng lên! Ngươi đã uống chén thạnh nộ từ tay Đức Giê-hô-va; đã uống cạn chén xoàng-ba, uống cho tới cặn". Giêrêmi 25:15-16 chép: "Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán cùng tôi như vầy: Hãy lấy chén rượu của sự giận khỏi tay ta, khá cho các dân mà ta sai ngươi đến đều uống lấy. Chúng nó sẽ uống, sẽ đi xiêu tó, và điên cuồng, vì cớ gươm dao mà ta sẽ sai đến giữa chúng nó".
Không, ấy chẳng phải sự hành hình về phần xác trên thập tự giá khiến cho Chúa Jêsus phải có nỗi buồn đau đến chết như thế đâu, mà ý nghĩa cho thấy rằng trong mấy giờ đồng hồ nữa Ngài sẽ "cất tội lỗi của nhiều người" (Hêbơrơ 9:28). Ngài là Đấng "vốn chẳng biết tội lỗi" sẽ "trở nên tội lỗi vì chúng ta" (II Côrinhtô 5:21). Ngài sẽ gánh lấy "tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ" (I Phierơ 2:24). Ngài sẽ trở nên "của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Giăng 2:2).
Chúa Jêsus vốn biết rõ mọi sự bẩn thỉu gian ác của từng con cái thuộc dòng giống hư hoại của Ađam sẽ bị đặt trên chính linh hồn vô tội của Ngài. Tấm lòng không vít của Ngài sẽ bị nạo vét cho hết sự nhớp nhúa của tội lỗi tối tăm, sâu kín nhất trong tấm lòng con người. Êsai 53:6 chép: "Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người".
Không những tình trạng vô tội của Ngài sẽ bị ô nhiễm với tình trạng tội lỗi của chúng ta, không những thần tính của Ngài bị chìm sâu trong sự đồi bại của chúng ta, Ngài sẽ gánh chịu trọn cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vì ích cho chúng ta. Đức Chúa Cha sẽ gán từng tội lỗi một của chúng ta trên chính mình Ngài rồi để cho Ngài phải gánh chịu cơn thạnh nộ đáng lẽ chúng ta phải gánh chịu.
Đây là những gì Êsai 53:10 có ý nói khi câu nầy chép: "Đức Giê-hô-va lấy làm vừa ý mà làm tổn thương người, và khiến gặp sự đau ốm. Sau khi đã dâng mạng sống người làm tế chuộc tội….".
Thập tự giá còn đau khổ nhiều, nhiều hơn nỗi đau thể xác mà mắt thường trông thấy được. Trỗi hơn sự khủng khiếp ấy, Chúa Jêsus đã gánh chịu nỗi xấu hổ vì tội lỗi chúng ta cùng sự kinh khủng không dò được của cơn phán xét mà Đức Chúa Trời giáng trên tội lỗi của chúng ta. Cho nên chẳng có gì phải ngạc nhiên khi Ngài kêu la bằng lời lẽ của Thi thiên 22:1: "Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?" (Mathiơ 27:46).
Sau khi hiểu biết mọi sự nầy, sau khi cảm nhận đủ các tác dụng của cảm xúc và của thể xác, Chúa Jêsus đã cầu nguyện: "Nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi con". Chúa Jêsus vốn biết rõ cái chén ấy chẳng lìa khỏi Ngài theo bất kỳ một phương thức nào hết. Ngài biết rõ Ngài đã giáng trần là để tỏ ra mục đích làm ráo cáu cặn cay đắng của nó. Tuy nhiên, lời cầu nguyện nầy là sự tỏ ra thành thực nhất về nỗi sợ hãi mà Ngài cảm thấy trong giây phút đó. Mặc dù Ngài không hề nhượng bộ mà phạm tội, Ngài cảm thấy mọi tác dụng đầy trọn của sự thử thách của tội lỗi.
Kỳ diệu thay là ân điển của Chúa Jêsus, Ngài thường cầu nguyện trong ân điển ấy: "Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha". Ngài đã đến đặng làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha. Ngài phán trong Giăng 4:34: "Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài".
Khi ấy Chúa Jêsus mới trở lại với ba môn đồ và "thấy họ đang ngủ". Không nghi ngờ chi nữa họ rất mỏi mệt do kế hoạch quá bận rộn của họ. Trời đã tối lắm rồi. Có bao nhiêu người trong chúng ta sẽ ngủ gà ngủ gật trong khi chúng ta ra sức cầu nguyện, nghiên cứu Kinh Thánh hay lắng nghe sự dạy của Kinh Thánh?
Ngài đã hỏi han trong nỗi thất vọng riêng: "Thế thì các ngươi không tỉnh thức với ta trong một giờ được!" Ngài vốn biết họ rất mỏi mệt, song sự biết ấy không cất đi nỗi đau việc nhìn biết họ đang chợp mắt một chút trong khi Ngài chỉ đứng cách đó không bao xa qua sự buồn bực một mình. Luca 22:45 chép: họ "đương ngủ mê vì buồn rầu". Có lẽ đúng như thế, sự ngã lòng đã được thêm vào tình trạng ngủ gà ngủ gật của họ nữa.
Họ đã bắt đầu lìa bỏ Ngài rồi. Trong khi Ngài còn mãi mê cầu nguyện, Ngài dọn mình để chuốc lấy tội lỗi vì ích cho họ, họ đã nằm ngủ cách đó chẳng bao xa. Ngài bảo họ: "Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ". Đúng ra, họ cần phải "tỉnh thức và cứ cầu nguyện" luôn vì giờ thử thách của họ đã gần rồi. Chúa Jêsus vốn hiểu rõ sự họ phấn đấu trong chỗ: "tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối".
Chúa Jêsus quay trở lại "lần thứ hai" để cầu nguyện, Ngài nói: "Cha ơi! nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống thì xin ý Cha được nên". Ngài vốn biết Ngài không thể cho qua cái chén khủng khiếp nầy. Ngài biết rõ cách duy nhứt chúng ta được cứu là nhờ vào sinh tế của Ngài.
Đây là lý do tại sao không một ai được cứu theo bất kỳ một phương thức nào khác hơn sự chết có tính cách hy sinh của Chúa Jêsus. Nếu ai đó có thể, bởi cách tỏ ra sự sáng tạo do làm theo các việc lành, mọi sự nầy sẽ không còn cần thiết nữa.
Câu 43 chép Ngài "thấy môn đồ còn ngủ" và thêm rằng "mắt họ đã đừ quá rồi" cho thấy rằng đây là một giấc ngủ sâu hơn trước nhiều. Vì họ không thể "tỉnh thức và cầu nguyện", tìm kiếm sự cứu giúp của Đức Chúa Cha vì mọi điều còn phía trước, họ sẽ sa vào giấc ngủ sâu.
Khi ấy, Chúa Jêsus "đã bỏ họ" rồi trở lui cầu nguyện "lần thứ ba". Hãy đặc biệt chú ý trong câu 44, ở đây cho rằng Ngài đã: "lặp xin như lời trước". Ngài đã lặp đi lặp lại chính sự việc ấy nhiều lần lắm rồi. Điều nầy dạy cho chúng ta biết rằng mục đích của sự cầu nguyện không phải là làm thay đổi ý chỉ của Đức Chúa Trời, mà là làm thay đổi ý chí của chúng ta. Chúng ta có thể nài xin sự can thiệp của Đức Chúa Trời, nhưng đến cuối cùng sự cầu nguyện giúp chúng ta biết tiếp nhận cách trung tín ý chỉ của Đức Chúa Trời trong đời sống của chúng ta.
III. Sự đầu phục vô điều kiện của Chúa Jêsus (các câu 45-46).
Sau thời gian cầu nguyện lần thứ ba nầy, Chúa Jêsus đã trở lại với các môn đồ. Tôi nghĩ Ngài đã có cái nhìn khác vào thời điểm nầy. Ngài đã nhọc nhằn trong sự cầu nguyện và tự mình đầu phục trọn vẹn đối với Đức Chúa Cha. Mặc dù chương trình của Đức Chúa Trời không thay đổi, sự buồn bực và sầu não gần như muốn giết Ngài đã trôi qua. Giờ đây, sau khi cầu nguyện xong, Ngài đã sửa soạn đủ để uống cái "chén" sẽ được trao cho Ngài. Thái độ đầu phục của Ngài đã đem lại cho Ngài sức lực và lòng tin cậy. Thái độ ấy đã được thể hiện ra.
Ngài đánh thức các môn đồ, quở họ mà rằng: "Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư?" Tiếp đến Ngài công bố: "Nầy, giờ đã gần tới". Thì giờ của Ngài đã đến và Ngài vốn biết rõ sự ấy. Ngài phán: "Con người sẽ bị nộp [thì hiện tại] trong tay kẻ có tội". Câu 47 nói đám đông đã ùa đến để bắt Ngài: "khi Ngài còn đương phán".
Có lẽ trong khi Chúa Jêsus còn đương phán ra những lời nói sau cùng nầy, Ngài đã nghe thấy nhiều giọng nói và nhìn thấy các ánh đuốc của Giu-đa, các cấp lãnh đạo tôn giáo và lính canh đền thờ khi họ dến tại nơi cổng vườn. Chúa Jêsus phán: "Hãy chờ dậy, đi hè, kìa kẻ phản ta đến kia".
Trong phần kết luận, hãy xem xét phần ứng dụng nầy. Từ tấm gương của môn đồ, tự tín không dẫn tới sự cầu nguyện và nương cậy, mà chỉ khiến cho người ta phải buồn ngủ mà thôi. Nằm ngủ trong sự đối diện với kẻ thù chỉ đem lại sự cám dỗ, kế đó là tội lỗi và tai vạ một cách hoàn toàn. Tấm gương của Chúa Jêsus, ấy là khi bị cám dỗ, hãy cầu nguyện, cầu nguyện và cầu nguyện. Hãy đem ý chí mình mà đầu phục ý chỉ của Đức Chúa Cha. Sau khi đầu phục rồi, sức lực thuộc linh sẽ đến, nó giúp cho chúng ta đủ sức để thắng hơn sự cám dỗ.

***



Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

Bài 92: Mathiơ 26:31-35: "HẾT THẢY SẼ VẤP PHẠM"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Hết thảy sẽ vấp phạm
Mathiơ 26:31-35
Tôi sẽ không bao giờ quên được buổi nhóm của một vị Mục sư ở Colorado Springs cách đây vài năm. Tôi nhóm vào buổi sáng rồi trở về lại khách sạn để nghỉ khoẻ. Tôi mở TV lên để nghe tin tức buổi trưa và trên màn hình là thảm kịch hành vi bạo lực giết người của hai học sinh ở trường Trung học Columbine chỉ cách Littleton có mấy dặm đường thôi. Tôi đã say mê xem khi một học sinh người đầy máu rơi xuống từ cửa sổ tầng thứ hai đúng ngay tầm tay của các thành viên đội đặc nhiệm đứng ở bên dưới. Bối cảnh của cả cuộc hộp thảo đã bị thay đổi vì cớ tấn thảm kịch đang diễn ra cách mấy dặm về phía Bắc.
Nhiều ngày trôi qua trước khi cả nước hay được câu chuyện của Cassie Bernall và Rachel Scott. Hai học sinh thuộc dạng khủng bố đã kề súng vào dầu của các học sinh khác rồi hỏi: "Tụi bây có tin Đức Chúa Trời không?" Mỗi đứa học sinh khi ấy đều đáp “có”. Ngay sau khi chúng trả lời, thì hung thủ đã bóp cò súng. Chúng sẽ sống luôn trong ký ức của chúng ta như những nhà tuận đạo Cơ đốc, chúng đã chịu chết vì cớ đức tin của mình.
Đây không phải là một sự cố biệt lập đâu! Không lâu trước khi cuộc tàn sát ở trường Columbine, một sinh viên đã tấn công một nhóm sinh viên khác ở một buổi nhóm cầu nguyện tại Paducah, bang Kentucky. Ai trong chúng ta không cảm thấy rùng mình khi chúng ta từ nhà thờ trở về nhà vào một tối thứ Tư rồi nghe thấy các tin tức kinh khủng nói về một tay súng chống Cơ đốc nhân đã bước vào buổi nhóm của thanh niên tại Hội thánh Báptít Ft. Worth’s Wedgewood. Kẻ gây rối loạn đã khai hoả ngay giữa buổi thờ phượng, giết chết 8 người và gây bị thương nhiều người khác trước khi kết liễu mạng sống mình.
Còn quí vị thì sao? Còn tôi thì sao? Chúng ta sẽ làm gì khi có ai đó chĩa súng vào đầu chúng ta rồi hỏi: “Mày có tin Đức Chúa Trời không?" Chúng ta sẽ trả lời sao nếu được chọn lựa rút lại, từ bỏ đức tin hay bị thiêu sống hoặc bị sư tử ăn thịt hay bị hành hình cho tới chết? Chúng ta nguyện rằng chúng ta sẽ dạn dĩ khẳng định đức tin của mình và cậy ơn mà chịu chết cho Đấng Christ.
Tuy nhiên, thắc mắc làm cho chúng ta phải lo lắng, vì chúng ta cũng nhìn biết rằng ít nhiều gì chúng ta thường chối Chúa trong các hoàn cảnh bị hăm dọa. Thay vì làm chứng cho Chúa Jêsus, chúng ta cứ giữ im lặng. Chúng ta đã sa vào tội lỗi khi chúng ta đã ăn ở trong sự công bình. Những thất bại nầy làm cho chúng ta phải lấy làm lạ về sự đầu phục trọn vẹn của chúng ta.
Khi chúng ta tiếp tục bài nghiên cứu về những giờ sau cùng trước khi Chúa Jêsus bước lên thập tự giá, chúng ta thấy một tấm gương đáng sợ về những gì đang xảy ra khi Cơ đốc nhân tin vào khả năng của bản thân mình thay vì tin vào khả năng của Đấng Christ.
Nếu quí vị đã học hỏi với chúng tôi hai tuần lễ qua, quí vị biết rằng Mathiơ 26 đề ra bối cảnh cho sự đóng đinh trên thập tự giá ở chương 27. Chúa Jêsus nói với các môn đồ ở câu 2 rằng đây sẽ là sự tưởng niệm "Lễ Vượt Qua" sau cùng, rồi Ngài sẽ bị "nộp để bị đóng đinh trên thập tự giá". Các cấp lãnh đạo tôn giáo của dân Israel đã “bàn bạc” quanh co làm thế nào để “mưu” bắt Ngài, nhưng họ lại sợ "lộn xộn" hay rối loạn giữa đoàn dân đông trong các ngày lễ. Họ rất đỗi vui thích khi Giu-đa Ích-ca-ri-ốt hiến kế "nộp" Ngài để lấy "ba mươi miếng bạc", cái giá của một tên nô lệ. Mary đã xức dầu Chúa Jêsus cho sự “chôn cất” Ngài bằng dầu đắt tiền và Giu-đa "đã tìm cách để phản Ngài".
Khi Lễ Vượt Qua đến, Chúa Jêsus đã ăn bữa ăn truyền thống cùng với các môn đồ của Ngài trên một căn phòng mà người ta cho mượn. Ở đây, Ngài đã tuyên bố lần đầu tiên rằng một người trong số họ sẽ phản Ngài. Không một môn đồ nào khác hiểu được chuyện gì đã diễn ra, Giu-đa đã băng mình vào bóng đêm hầu thực thi hành động phản bội của hắn. Khi ấy Chúa Jêsus mới cầm cái chén của Lễ Vượt Qua và thiết lập một lễ mới, là Lễ Tiệc Thánh. Chúa Jêsus công bố một sự kết thúc Giáo Ước Cũ và đánh dấu sự khởi đầu của Giao Ước Mới.
Câu 30 kết luận bằng cách nói: "Khi đã hát thơ thánh rồi, Đức Chúa Jêsus và môn đồ đi ra mà lên núi, Ô-li-ve". Không nghi ngờ chi hết, họ phải băng ngang qua mấy con đường phố đông đúc với khách hành hương khi họ hướng về phía đông. Họ băng ngang qua khe Kít-rôn trải dài với màu đỏ huyết của hàng ngàn chiên con bị giết trước đó trên núi đền thờ.
Họ đang trên đường đến "một chỗ kêu là Ghết-sê-ma-nê" có nghĩa là "ép dầu ôlive" (câu 36). Khi tôi còn ở nước Nga, tôi đã học biết về dauchas, các nông trại nhỏ nằm ven các thành phố. Tương tự, có ít chỗ trống bên trong thành Jerusalem cho một lùm cây ôlive. Có thể đây là chỗ mà một trong các môn đồ của Ngài làm chủ.
Trong khi họ phải đi khoảng 3/4 dặm đường, chuyến đi khoảng nửa giờ, Chúa Jêsus tỏ ra một lời tiên tri khác đáng giật mình, một lời tiên tri đâm thẳng vào tấm lòng kiêu ngạo và tự tín của các môn đồ… hết thảy họ sẽ vấp phạm.
I. Lời tiên tri thiêng liêng của Chúa Jêsus (các câu 31-32).
A. Chúa Jêsus nói trước về sự họ bỏ rơi Ngài (câu 31a).
Có lẽ khi họ trèo từ từ lên sườn "Núi Ôlive", một nơi mà Chúa Jêsus mới vừa thốt ra lời tiên tri dứt khoát nhất của Ngài, Ngài phán: "Đêm nay các ngươi sẽ đều vấp phạm vì cớ ta".
"Vấp phạm" ra từ chữ skandalizo, từ chữ nầy chúng ta có chữ "scandal" (nói xấu, thoá mạ, tai tiếng). Chữ nầy mang ý tưởng "khúc gỗ làm cho vấp té, một cái bẫy lưới".
Chúa Jêsus đã nói trước rằng "hết thảy" các môn đồ sắp sửa đối diện với một trở ngại, qua đó "hết thảy" họ sẽ vấp rồi té ngã. Mặc dù chỉ có một người phản Ngài, hết thảy họ sẽ bỏ Ngài trong đêm đó.
Đúng là một sự trái ngược! Trong khi Chúa Jêsus đường hoàng gánh chịu sự bắt bớ và nhiều thử thách, trong khi Ngài với lòng can đảm bất khuất chuẩn bị gánh chịu thập tự giá, họ lại bỏ chạy trong sự hèn nhát rồi lẫn trốn trong bóng đêm. Quả là một bức tranh nói tới sự đồi bại của con người! Trong khi Chúa Jêsus gánh lấy tội lỗi của họ trên chính mình Ngài và chịu chết trong chỗ của họ, họ đã không nhận rằng họ quen biết Ngài!
Hãy chú ý một lần nữa quyền quản trị tối cao của Ngài trên từng chi tiết. Ngài biết chính xác điều gì sẽ xảy ra. Ngài biết rõ họ sẽ nói gì và họ sẽ làm gì nữa. Ngay cả các cấp lãnh đạo tôn giáo của người Do thái, những nhà chính trị La mã, mấy tên lính và đoàn dân đông đang hành động theo ý riêng của họ, Đức Chúa Cha đang bố trí các biến cố hầu cho chương trình tội lỗi của họ bị mất đi vẽ hào nhoáng bởi chương trình đời đời của Ngài. Mấy câu nầy nhấn mạnh rằng chẳng có một điều chi xảy ra do tình cờ cả. Quả thực Chúa Jêsus là "Chiên Con đã bị giết từ khi sáng thế" (Khải huyền 13:8).
B. Cựu Ước nói trước về sự bỏ trốn của họ (câu 31b).
Mathiơ, một chứng nhân ghi lại rằng Chúa Jêsus đã trưng dẫn trực tiếp từ Cựu Ước như một sự ứng nghiệm lời tiên tri. Chúa Jêsus đã kể ra Xachari 13:7. Giống như nhiều chi tiết khác trong tuần lễ Thương Khó, "những lời các đấng tiên tri đã chép được ứng nghiệm".
Hãy suy nghĩ trong một phút, Chúa Jêsus đã cung ứng cho họ vài mẫu tin tức đáng giật mình. Thứ nhứt, Ngài sẽ bị nộp vào trong tay của kẻ thù rồi bị đóng đinh trên thập tự giá. Thứ hai, kẻ phản bội lại là một trong 12 sứ đồ. Giờ đây, tình hình lại càng nguy kịch hơn, Ngài phán hết thảy họ sẽ "vấp phạm" rồi trốn đi. Để nhấn mạnh thực tại của lẽ thật nầy Chúa Jêsus chỉ cho họ thấy sự chối bỏ của họ đến thẳng từ trong Cựu Ước.
Xachari đã nói tiên tri về các tiên tri thờ lạy hình tượng, họ sẽ bị cất ra khỏi Israel. Một số người trong họ sẽ đoạn tuyệt với sự dối gạt của mình. Tuy nhiên trong câu 7, Đức Giêhôva phán: "Hỡi gươm, hãy thức dậy nghịch cùng kẻ chăn của ta, và nghịch cùng người làm bạn hữu ta; hãy đánh kẻ chăn, cho những chiên tản lạc". Hãy chú ý Đức Giêhôva phán về "kẻ chăn của ta" "người làm bạn hữu ta" (ý nói tới sự đồng đẳng). Chính Đấng Chăn/Bạn Hữu thiêng liêng mà Đức Giêhôva kêu gọi "gươm" đến "đánh". Rõ ràng, điều nầy chỉ có thể nhắm vào Đấng Mêsi mà thôi. Êsai 53 chép: "Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ".
"Bầy chiên" theo một ý nghĩa chung chung đề cập tới nước Israel, từ thời điểm nầy trở đi sẽ bị "tản lạc" và bị tan rải khắp thế gian. Cho tới ngày nay, căn cứ vào một thiểu số nhỏ người Do thái trên thế giới, còn sống trong nước Israel.
Theo một ý nghĩa đặc biệt, "bầy chiên" bị tản lạc rõ ràng đề cập tới các môn đồ của Chúa Jêsus và đặc biệt là 11 môn đồ. Khi Chúa Jêsus bị đánh bị đập, từng người trong số họ sẽ "vấp phạm" và hết thảy họ "sẽ bị tản lạc".
C. Sự toàn tri của Chúa Jêsus bảo đảm sự phục hưng của họ (câu 31).
Sau các tin tức đau thương nầy, Chúa Jêsus cung ứng cho họ một lý do để vui mừng, hy vọng vào ngày mai và buổi bình minh hầu đến so với bóng đêm tăm tối của đời sống họ. Ngài phán: "Song sau khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi".
Chúa Jêsus sẽ đối mặt với sự hy sinh vì cớ tội lỗi và sự chết của Ngài trên thập tự giá, vì Ngài biết rõ sự chết không thể giữ được Ngài. Ngài biết Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết bởi quyền phép của Cha Ngài. Ngài đã phán điều nầy rồi trong một vài cơ hội (16:21; 17:9, 23; 20:18-19).
Các môn đồ vốn biết rõ Chúa Jêsus có quyền phép thắng hơn sự chết. Họ đã nhìn thấy Ngài kêu gọi mấy người từ kẻ chết sống lại. Có lẽ sự sống lại cảm động nhất do chính tay Ngài thực hiện, ấy là sự sống lại của Laxarơ. Khi ấy, Chúa Jêsus đã phán: "Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi" (Giăng 11:25).
Họ cần phải nhớ rõ khi bóng tối tăm nầy đã qua đi, khi họ biết Ngài đã "sống lại" rồi mới đi qua xứ "Galilê" vì Ngài sẽ lên đó trước họ.
Khi mấy người đờn bà gặp thiên sứ nơi ngôi mộ trống, Ngài đã phán cùng họ rằng: "Ngài không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán. … hãy đi mau nói cho môn đồ Ngài hay rằng … Ngài đi trước các ngươi qua xứ Ga-li-lê; ở đó, các ngươi sẽ thấy Ngài" (28:6-7). Mấy phút sau đó, hai người có tên Mary đã nhìn thấy chính mình Chúa Jêsus. Ngài phán cùng họ: "hãy đi bảo cho anh em ta đi qua xứ Ga-li-lê, ở đó sẽ thấy ta" (câu 10). Ở phần cuối chương, chúng ta thấy quả thực "Mười một môn đồ, đi qua xứ Ga-li-lê, lên hòn núi mà Đức Chúa Jêsus đã chỉ cho".
Bài học ở đây, ấy là dù các môn đồ có yếu đuối, dù họ vấp phạm, họ đã không làm ngăn trở chương trình tối thượng của Đức Chúa Trời được. Thực vậy, Đức Chúa Trời đã sử dụng tình trạng yếu đuối của họ để hoàn tất chương trình của Ngài. Ngài cũng sẽ làm như thế với chúng ta. Chúng ta không nên lo lắng mà chi. Chúng ta tin cậy vào quyền tể trị của Ngài.
II. Sự kiêu ngạo của các môn dồ (các câu 33-35).
A. Phierơ khhoe khoang trong sự kiêu căng (câu 33).
Không cứ cách nào đó, Phierơ, một là không nghe thấy hoặc bất chấp lời nói của Chúa Jêsus. Tôi không nghĩ là ông có nghe Chúa Jêsus phán điều chi sau khi Ngài phán: "hết thảy các ngươi sẽ vấp phạm vì cớ ta". Phierơ đã nghĩ: "Có thể hết thảy bọn họ sẽ vấp phạm, còn mình thì không đâu!" Chính trong lối suy nghĩ ấy, ông đã thốt ra: "Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy".
Hãy hình dung nỗi buồn đau đớn lắm mà Cứu Chúa đã phải chịu. Kẻ phản Ngài đang ngồi gần đây! Ngài sắp sửa phải gánh chịu sự hành hình và sự chết về phần xác. Còn tệ hơn nữa, Ngài sắp sửa gánh lấy từng tội lỗi của từng người thuộc dòng dõi Ađam trên chính linh hồn vô tội của Ngài. Thực vậy, trong câu 38, Ngài phán: "Linh hồn ta buồn bực cho đến chết". Trên hết mọi điều nầy, Phierơ lại lòi ra thái độ mâu thuẫn có tính cách tự phụ đối với lời lẽ của Chúa Jêsus!
Phierơ nhắc cho tôi nhớ tới mấy đứa con của tôi. Chúng hay nghe theo kiểu chọn lọc lắm. Chúng chỉ nghe những gì chúng muốn nghe và chúng luôn luôn muốn tranh luận. Mặc dù Phierơ nói: "Lạy Chúa, tôi ở với Ngài. Đối với tôi, không có gì ngạc nhiên khi từng người trong số người nầy sẽ xây lưng bỏ chạy. Họ chưa từng biết tận tụy đâu. Nhưng Ngài không thể nói tôi quên Ngài được. Tôi không quên đâu! Chúng ta đã ở với nhau quá lâu rồi! Ngài biết tôi mà! Ngài biết tôi rất vững vàng mà. Tôi sẽ đứng và chiến đấu cho Ngài, lạy Chúa. Chúng nó phải bước qua xác tôi thì mới bắt được Ngài!"
Những gì Mathiơ không thuật lại cho chúng ta biết, các trước giả sách tin lành khác lại chỉ ra. Giăng 14-17 cho thấy rằng sau Tiệc Thánh, Chúa Jêsus đã trao đổi với họ nhiều vấn đề ở trên phòng cao đó. Ngài nói cho họ biết về thiên đàng, sự giáng lâm của Đức Thánh Linh, sự chống đối mà họ sẽ gặp phải, quyền phép của Ngài thể nào ở cùng họ và Ngài sẽ tái lâm như thế nào. Họ đã nghe Ngài cầu nguyện một bài cầu nguyện thật linh động và rất quan trọng, trong đó Ngài đã cầu thay vì ích cho họ. Luca 22:31-32 ghi lại mọi điều Chúa Jêsus đã phán trong khi vẫn còn ở trên phòng cao: "Hỡi Si-môn, Si-môn, nầy quỉ Sa-tan đã đòi sàng sảy ngươi (“hết thảy các ngươi” – số nhiều) như lúa mì. Song ta đã cầu nguyện cho ngươi (số ít), hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn. Vậy, đến khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình". Thay vì sấp mặt xuống đất trong sự hạ mình, Phierơ đã kháng cự lại lời tiên tri nầy, ông nói: "Thưa Chúa, tôi sẵn lòng đi theo Chúa, đồng tù đồng chết". Khi ấy Chúa phán: "Hỡi Phi-e-rơ, ta nói cùng ngươi, hôm nay khi gà chưa gáy, ngươi sẽ ba lần chối không biết ta" (câu 34).
B. Lời tiên đoán chắc chắn của Chúa Jêsus (câu 34).
Bây giờ, ở đây, trên đường đi đến vườn, sau khi Phierơ tự phụ một lần nữa về tính trung thực của mình, Chúa Jêsus lặp lại những gì Ngài đã phán trước đó: "Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần".
Lúc bấy giờ trời tối lắm, có lẽ gần tới nửa đêm rồi. Nếu quí vị từng để thì giờ ở quanh bầy gà, quí vị biết ngay con gà trống không chờ cho tới khi mặt trời mọc nó mới bắt đầu gáy lên đâu. Chúa Jêsus đang phán rằng trong vòng mấy giờ đồng hồ nữa, có lẽ ba hoặc bốn giờ đồng hồ thôi, Phierơ sẽ chối Ngài "ba lần". Thực vậy, không lâu sau đó Phierơ đã đưa ra lời chối thứ ba của mình "tức thì gà gáy. Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán….Đoạn, người đi ra và khóc lóc cách đắng cay" (các câu 74-75).
C. Quyết định tự tin của Phierơ (câu 35).
Đến bây giờ, Phierơ chưa tin Chúa Jêsus. Ở một số trường hợp khác, Phierơ đã quở trách hay mâu thuẫn với Chúa (16:22). Ông tưởng mình vững vàng hơn, mạnh mẽ hơn, cứng rắn hơn và trung tín hơn các môn đồ khác. Giờ đây chúng ta thấy ông chỉ tin cậy tuyệt đối vào sức riêng của mình, vì vậy ông nói: "Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu". Lời nói nầy thật là dứt khoát, dường như ông đã hô lớn lên vậy. Không có ai giỏi hơn ông nữa, "hết thảy môn đồ đều nói y như vậy". Sự ngạo mạn ấy rất hay lây.
Nhiều ngày sau, sau ba lần chối, sau sự chết, sự chôn và sự sống lại của Chúa, Phierơ đã ngồi với Chúa dùng điểm tâm bên bờ biển Galilê. Giăng 21:15 ghi lại thể nào Chúa Jêsus đã hỏi: "Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta hơn những kẻ nầy chăng?" Lời đáp của Phierơ giờ đây rất rụt rè và không dám chắc. Ông đáp: "Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa". Ông không nói ông yêu Ngài nhiều nhất, mà nói rằng Chúa biết ông yêu Ngài. Không còn có tự hào, không còn có những lời lẽ xẳng xớm nữa. Tình yêu của Phierơ đã không thu nhỏ lại, nhưng sự kiêu ngạo cực kỳ của ông đã không còn có nữa. Tôi nghĩ sở dĩ như thế là vì Phierơ đã chối Chúa ba lần, còn Chúa Jêsus đã cung ứng cho Phierơ ba cơ hội để thể hiện ra tình yêu của ông.
Phierơ, cũng như số môn đồ còn lại, họ đã học một bài học mà chúng ta là các môn đồ thời hiện đại đây phải tiếp thu. Khi chúng ta tin cậy vào khả năng riêng của mình, chúng ta sẽ luôn thất bại. Khi chúng ta tin cậy vào khả năng của Đấng Christ, chúng ta luôn luôn đắc thắng.
Một vài ngày sau, vào kỳ lễ Ngũ Tuần, một Phierơ đã được biến đổi đứng trước đoàn dân đông và dạn dĩ rao giảng Đấng Christ. Còn các môn đồ khác, họ dạn dĩ nói với thầy tế lễ cả: "Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta" (Công Vụ các Sứ Đồ 5:29). Đức Chúa Trời đang hành động, Ngài tể trị thậm chí trên mọi thất bại của chúng ta. Thế rồi Ngài phục hưng chúng ta và mặc lấy cho chúng ta quyền phép để lo làm công việc của Ngài.

***