Thứ Ba, 12 tháng 6, 2012

Bài 28: Mathiơ 7:13-23: "Những Lời Cảnh Báo Có Tính Cách Đời Đời"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Những lời cảnh báo có tính cách  đời đời
Mathiơ 7.13-23
1. Trong tờ tạp chí Texas Monthly mới đây, tôi có đọc thấy những cơn bão lốc giết người từng xoáy qua vùng nông thôn cướp đi nhiều sinh mạng mỗi năm. Vào ngày 18 tháng 5 năm 1902, một cơn bão lốc xoáy qua vùng Goliad lấy đi 114 sinh mạng, có 40 người đang dự một buổi thờ phượng tại nhà thờ. Nhiều cơn bão khác nối theo sau trong nửa thế kỷ đầu tiên. Các thị trấn nhỏ như Sherman, Bellevue, Cedar Hill, Slidell, Zephyr, và Mobeetie tất cả đều đã ngó thấy sự hủy diệt khủng khiếp. Cơn bão lớn vào năm 1947 hủy diệt ba tiểu bang trừ ra thị trấn Glacier và để lại dấu tích thiệt hại khoảng 200 dặm. Vào ngày 11 tháng 5 năm 1953, 114 sinh mạng khác bị mất tích khi một trận bão khủng khiếp đỗ vào thành phố Waco. Một số trẻ em bị chôn vùi dưới một rạp hát khi cả toà nhà bị sụp xuống.
Trong thập niên 1950, các nhà khí tượng học của ngành hàng không bắt đầu hiểu rõ cách các trận bão lốc xoáy hình thành. Trong vòng mấy năm trời, nhiều hệ thống cảnh báo mọc lên và thiệt hại về nhân mạng được thu nhỏ lại. Ngày nay có ít người chết so với loại bão tố khủng khiếp nầy. Lý do chính cho tình trạng ít thiệt hại nầy là các hệ thống cảnh báo sớm sủa đó. Các thứ máy báo động bão, rađa Doppler, truyền hình và đài phát thanh đang cảnh báo cho chúng ta biết mối nguy hiểm đang tới gần. Các loại còi báo động hú lên. Dân chúng có thì giờ để lo liệu. (Theo quyển “Lốc Xoáy” do William Hauptman viết, tháng 7 1996, trang 67).
2. Những lời cảnh báo thật rất kỳ diệu. Chúng cung ứng cho chúng ta thời gian để tránh thoát sự hủy diệt sắp xảy tới. Trong mấy ngày vừa qua, những lời cảnh báo sớm về trận bão cấp 8 Bertha không nghi ngờ chi nữa đã ngăn ngừa được thiệt hại lớn về nhân mạng. Cũng một thể ấy, vì Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta, Ngài đã để Ngôi Lời lại cho chúng ta, là Kinh Thánh, giống như một “hệ thống cảnh báo sớm” cho cõi đời đời. Hết thảy chúng ta đều sẽ chết một ngày kia. Hết thảy chúng ta đều sẽ ở trong cõi đời đời, trong thiên đàng hay trong địa ngục. Hêbơrơ 9.27 chép: "Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét”.
3. Trong phân đoạn nầy, Chúa Giêxu đang đi tới phần kết luận của Bài Giảng Trên Núi. Bắt đầu ở chương 5, Chúa Giêxu đưa ra một bài giảng thật là tuyệt vời nói về sự sống trong Vương quốc của Ngài. Trong những câu kết nầy, Ngài ban ra cho chúng ta những lời cảnh báo sớm bằng cách mô tả Hai Cánh Cửa, Hai Thứ Cây và Hai Loại Thầy.
I. HAI CÁNH CỬA (các câu 13-14).
A. Một lời cảnh báo: "Hãy vào cửa hẹp" (câu 13a).
1. Chúa Giêxu đang giới thiệu hai cánh cửa, hai con đường mà chúng ta phải chọn lấy. Có một cánh cửa dẫn tới "sự hủy diệt" và một cánh cửa dẫn tới "sự sống". Trước khi mô tả hai cánh cửa theo từng chi tiết, Ngài cảnh báo chúng ta phải đưa ra một sự lựa chọn đúng đắn.
2. “Cửa Hẹp” là cửa gì? Cửa ở đây không phải là đồ vật mà là ai đó.
a. Ngài đã phán trong Giăng 10.9: "Ta là cái cửa: nếu ai bởi ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi”.
b. Ngài đã phán trong Giăng 14.6: "Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha”.
3. Khi chúng ta tuyên bố Chúa Jêsus là con đường duy nhất dẫn tới thiên đàng, có nhiều người nghĩ sở dĩ như vậy là vì chúng ta được đưa vào theo lối nầy, vì con đường nầy phù hợp với tính khí của chúng ta, hoặc vì chúng ta tin mù quáng hay tin bất kể. Ngược lại, chúng ta tuyên bố Chúa Jêsus là con đường duy nhất dẫn tới thiên đàng vì đây là sự mặc khải lẽ thật của Đức Chúa Trời.
a. Chúa Jêsus không nói Ngài là một trong những con đường để cho người ta được cứu rỗi hay Ngài là một trong những cánh cửa dẫn tới thiên đàng. Ngài phán: Ngài là đường đi và là con đường duy nhất!
b. Phierơ đã tuyên bố trong Công vụ Các sứ đồ 4.12: "Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu”.
c. Phaolô đã nói trong I Timôthê 2.5: "Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người".
4. Chúa Jêsus cảnh báo chúng ta nên "vào cửa hẹp" vì đấy là cánh cửa duy nhất dẫn tới thiên đàng.
5. Lời cảnh báo nầy rất riêng tư. Lời ấy dành cho mọi người. Lời ấy dành cho bạn đấy. Hãy tự hỏi mình câu nầy: "Có phải tôi đang thực sự nhìn biết Chúa Jêsus trong lòng mình không".
B. Phần mô tả cánh cửa “hủy diệt” (câu 13b).
1. Cánh cửa nầy thì “rộng” và con đường cũng “rộng”.
a. Đường lối của thế gian thì dễ dàng, hấp dẫn, rộng rãi, và buông thả. Có ít luật lệ, ngăn cấm, hay đòi hỏi. Con đường “rộng” thì rất dễ chịu, đáng ưa, và thậm chí hợp lý nữa, nhưng đó là con đường sai lạc!
b. Người ta đi trên con đường “rộng”“bao quát” đều nghĩ vì họ là “người lành” họ sẽ vào thiên đàng. Họ nghĩ rằng vì họ biết tuân giữ đúng các thứ luật và lệ (người dòng Pharisi) hoặc đi nhà thờ, hay đã chịu phép báptêm, hoặc dâng hiến tiền bạc, họ đang sống hiệp nghi với Đức Chúa Trời.
2. Nó dẫn tới "sự hủy diệt".
a. Con đường nầy luôn luôn dẫn tới chỗ "hủy diệt". Chữ nầy có nghĩa là "tàn phá". Thi thiên 1.6 chép: "Song đường kẻ ác rồi bị diệt vong". Châm ngôn 14.12 chép: "Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết”.
b. Cánh cửa nầy không có một biển báo nào gắn trên đó ghi: "Con Đường Nầy Dẫn Tới Địa Ngục". Nó không báo: "Con đường nầy dẫn tới chỗ hủy diệt". Nếu nó báo như thế, thì chẳng một ai chịu bước vào đó. Thực ra, đối với nhiều người, con đường đó được đánh dấu là “Thiên Đàng”.
c. Ngoại trừ Cơ đốc giáo chân thật, từng tôn giáo trên thế gian đều bước theo cùng một  đường lối. Phải trở thành một người lành. Hãy hành xử theo giáo nghi. Hãy thực thi bổn phận của mình thì bạn sẽ lên thiên đàng khi bạn qua đời. Không một ai trong số đó được siêu thoát. Người nào bước theo con đường của họ đều kết thúc trong chỗ “hủy diệt”.
            Cách nay mấy tuần, tôi lái xe cùng với gia đình đến dự một buổi nhóm ở Phoenix, Arizona. Chúng tôi đặt chỗ trước tại một nhà nghỉ dưới phố và một tấm bản đồ nhỏ cho chúng tôi biết cách để tìm ra nhà nghỉ đó. Tôi lái xe đi vòng quanh mãi để cố gắng tìm cho ra nhà nghỉ ấy. Sau khoảng hai giờ đồng hồ, tôi dừng lại rồi hỏi thăm người ta! Một viên cảnh sát nghĩ không hay về tôi rồi theo dõi tôi. Sau cùng, chúng tôi đã nhìn thấy nhà nghỉ đó. Vấn đề là ở chỗ nầy: tấm bản đồ của tôi không ký hiệu đúng mức. Chúng tôi được cung ứng cho hướng không đúng. Cũng một thể ấy với những ai đang đi trên con đường rộng.
3. Có “nhiều người” sẽ đi vào con đường ấy. Sự thật đó thật đáng buồn dường bao! Hầu hết người ta trên hành tinh nầy đều đã chạy theo những hướng sai lầm. Họ lao vào con đường rộng chớ không hướng vào con đường hẹp, con đường rộng nầy dẫn tới sự “hủy diệt” đời đời của họ. 
C. Phần mô tả cánh cửa “sự sống” (câu14).
1. Cánh cửa thì “hẹp”.
a. Một số trước giả phác hoạ cánh cửa nầy giống như loại cửa quay (như các sân vận động sử dụng để cho vận động viên vào sân). Chúng tôi có lần đã đi ngang qua cánh cửa ấy. Chúng tôi không thể đem theo một thứ gì hay một ai cùng với mình.
b. Không một người nào bước vào cánh cửa nầy do tình cờ hết. Chúa Jêsus đã phán trong Luca 13.24 như sau: "Ngài đáp rằng: Hãy gắng sức vào cửa hẹp, vì, ta nói cùng các ngươi, nhiều người sẽ tìm cách vào mà không vào được”.
2. Con đường rất “khó” vào. Người nào thực sự đi theo Đấng Christ sẽ tìm thấy sự sống của mình là rất “khó”. Chúng ta không nộp trả gì để được cứu nhưng sự cứu rỗi đó rất là đắt giá. Khi một người thực sự được cứu, người đồng hoá hoàn toàn với Chúa Jêsus và tuyên bố chiến tranh với Satan và Satan tuyên bố chiến tranh với người.
3. Con đường đó dẫn tới "sự sống". Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 11.25: "Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi”.
4. Những ai tìm được sự sống, họ rất là “ít”. Những người tin Chúa không phải “ít” vì cánh cửa “hẹp” hay nhỏ đâu! Chẳng có một giới hạn nào cho số người có thể đi qua cánh cửa. Chẳng có một giới hạn nào về việc cất dựng trên thiên đàng. Đức Chúa Trời "lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn” (II Phierơ 3.9). Chúng ta “ít” là vì “ít người” bằng lòng chịu bước theo Chúa Jêsus.
D. Bạn Đã Bước Vào Cánh Cửa Nào?
II. Hai Thứ Cây (các câu 15-20).
A. Một Lời Cảnh Báo Về Các Tiên Tri Giả (câu 15a).
1. Chúa Jêsus phán chúng ta phải "coi chừng tiên tri giả”. Bạn biết “coi chừng” có nghĩa là phải thận trọng, phải dè dặt, phải cảnh giác. Khi bạn đi mua một chiếc xe từ con buôn, bạn nên dè dặt với người bán xe nầy. Khi bạn làm việc tiếp xúc với dòng điện, bạn phải cẩn thận coi chừng bị điện giật. Khi bạn lái xe ra xa lộ, bạn cần phải cảnh giác vì những tên tài xế lái ẩu.
2. Còn “các tiên tri” thì sao? Chúng ta thường nghĩ tới các nhân vật trong Cựu ước như Êli, Giêrêmi hay Amốt. Nói chung, tiên tri là một vị phát ngôn thay cho Đức Chúa Trời. Nếu bạn tự xưng mình là một Cơ đốc nhân, theo ý nghĩa đó bạn chính là một vị tiên tri.
3. Một "tiên tri giả" là người trông giống như, nói năng như, và hành động như Cơ đốc nhân, nhưng thực sự không phải thế.
B. Hai Phần Mô Tả Về Tiên Tri Giả (các câu 15b-16).
1.  Họ là những kẻ mang lốt chiên (câu 15b). Nói như thế là đề cập tới vẻ BÊN NGOÀI của họ.
            Chúng ta đang sống trong một thời đại kỹ thuật cao cho nên nhận ra cái gì đó giả hiệu thì thật là khó lắm. Mới đây Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ đã thay đổi mặt ngoài của các tờ giấy bạc 100$US. Tờ 20$US không bao lâu nữa sẽ thay đổi. Tại sao vậy? Vì màu sắc hiện đại và các loại máy in có khả năng làm giả những tờ giấy bạc kiểu cũ. Cũng một thể ấy, có nhiều người trông giống như những Cơ đốc nhân chân chính, song không phải như vậy.
a. Tôi giả sử trong từng Hội Thánh đều có các “tiên tri giả”. Họ trông giống như Cơ đốc nhân vậy. Họ hành động giống y Cơ đốc nhân. Họ nói năng giống như Cơ đốc nhân. Trong thực tế, họ là "muông sói hay cắn xé", họ đến "với các ngươi trong lốt chiên".
b. Đây là hạng người chuyên sử dụng Đấng Christ và nhà thờ vì lợi riêng của họ. Người ta thường  thấy họ đứng trên toà giảng, là những người sử dụng chức vụ để nuôi dưỡng lòng tham dục của họ về quyền lực, danh tiếng, ảnh hưởng cùng lòng tham. Tuy nhiên, họ cũng được thấy ngồi trên hàng ghế. Họ sử dụng các mối quan hệ Cơ đốc của mình để làm ăn, để làm chính trị, thậm chí mưu cầu về tình ái nữa. Có những con người lợi dụng đang ngồi trong các hàng ghế.
2. Ai cũng nhìn biết họ bởi trái của họ (câu 16). Điều nầy có ý nói tới MỌI HÀNH ĐỘNG của họ.
a. Chúa Jêsus phán: "Các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được”. Một cây ăn trái rất xinh đẹp với tàng lá của nó, nhưng nó sẽ không có giá trị gì hết nếu không có trái tốt.
b. Bạn có thể hái “trái nho” nơi "bụi gai". Bạn có thể hái “trái vả” nơi cây “tật lê”. Thế nhưng “bụi gai” không mọc ra “trái nho” và cây "tật lê" sẽ không mọc ra “trái vả”. Tôi đã nhìn thấy gạc nai gắn trên đầu loại thỏ rừng lớn con, nhưng thấy như thế không có nghĩa là chúng mọc lên ở đó!
c. Mục đích là, sự khác biệt giữa thật và giả rất tinh vi. Bạn phải nhìn cho thật kỹ rồi hãy nói.
d. Cách tốt nhất để nhận ra các giáo sư giả là thấu đáo quyển Kinh Thánh của bạn. Hãy để ý những gì đã được nói ra và những gì còn lại chưa nói ra. Hãy thử trái đi! Phải cảnh giác. Phải giống như người thành Bêrê trong Công vụ Các sứ đồ 17.11, họ "đều sẵn lòng chịu lấy đạo, ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh, để xét lời giảng có thật chăng”.
C. Cây Sinh Ra Trái Tùy Theo Giống Của Nó (các câu 17-18).
1. Chúa Jêsus đang vẽ ra một bức tranh nói về một vườn cây ăn quả, có lẽ một khóm cây ôlive. Trong khóm cây nầy có những cây tốt cùng những cây xấu.
2. Ngài phán: "Vậy, hễ cây nào tốt thì sanh trái tốt”“cây nào xấu thì sanh trái xấu”. Đây là chỗ nói tới Cơ đốc nhân thật. Có đôi lúc người mang trái xấu, người được đánh dấu bằng trái tốt.
3. Mặt khác, Chúa Jêsus nói rằng “cây nào xấu thì sanh trái xấu”“cây xấu cũng chẳng sanh được trái tốt".
4. Tôi biết có người hy vọng mình là một cây tốt, họ hành động giống như một cây tốt và thậm chí họ nghĩ họ là một cây tốt, song trái của họ thì ngược lại.
5. Sự Hủy Diệt Của Cây Xấu (các câu 18-19).
a. Một cây ăn trái "không sanh trái tốt" là cây vô dụng. Vì lẽ đó, nó bị "đốn mà chụm đi”.
b. Đây là chỗ nói tới hình phạt đời đời. Câu 13 cho đây là cách "hủy diệt". Ở chỗ khác trong Kinh Thánh gọi đấy là địa ngục.
c. Nhiều trường hợp nói về hạng người tôn giáo “giả” hiện có trong Kinh Thánh.
d. Tôi tin chắc rằng có người trong phòng nhóm nầy đang tìm cách tự tin rằng họ là Cơ đốc nhân. Họ đến với nhà thờ, dâng hiến tiền bạc, góp phần trong nhiều cách thế, nhưng thực ra, họ là muông sói đội lốt chiên. Họ là loại cây xấu mang trái xấu. Họ đang bước đi trên con đường rộng "dẫn tới sự hủy diệt". Một ngày kia họ sẽ bị "quăng vào lửa" trừ phi họ để ý tới những lời cảnh báo.
D. Bạn Là Loại Cây Nào?
III. HAI LOẠI THẦY (các câu 21-23).
A. Một Lời Cảnh Báo Cho Thấy Không Phải Ai Xưng Nhận Đấng Christ Đều Là Tín Đồ Chân Chính Cả Đâu (câu 21).
1. Chúa Jêsus phán: “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thi đều được vào nước thiên đàng đâu”. Hãy nhìn nhận điều đó. Những lời nầy khiến cho chúng ta phải bực dọc. Chúa Jêsus chẳng có lợi lộc gì trong lời nói. Sự khẳng định mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời không phải là những gì chúng ta nói hoặc diện mạo chúng ta thể nào.
2. Mà đúng hơn, Chúa Jêsus phán Ngài người nào "được vào nước thiên đàng" là kẻ “làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời”.  Phải chăng Ngài có ý nói chúng ta phải làm việc mới kiếm được chỗ của mình ở trên trời? Không! Ngài có ý nói tới đức tin chân chính, sự cứu rỗi đích thực luôn luôn được tỏ ra trong việc làm theo "ý muốn của Đức Chúa Cha".
3. Mỗi Chúa nhật trên khắp thế giới, người ta lằm bằm những lời nói hư không. Họ ca hát và nói "lạy Chúa, lạy Chúa", nhưng họ chẳng biết gì về Ngài cả. Có thể họ biết về Ngài, nhưng họ không biết Ngài theo cách cá nhân, thân thuộc. Họ thực sự chưa bao giờ được cứu.
B. Có Nhiều Người Sẽ Lấy Làm Lạ Vì Họ Không Có Mặt Trong Thiên Đàng (các câu 22-23).
1. Giống như Người Giàu Trong Địa Ngục từ Luca 16, họ sẽ thưa với Chúa. Chúa Jêsus phán: "Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta..."
2. Họ sẽ đưa ra bằng chứng cho việc được ở trong thiên đàng. Họ sẽ trình cho Ngài xem uỷ nhiệm thư, giấy phép của họ. Họ sẽ nói...
a. “Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao?" Có nhiều người đã giảng đạo mà chưa hề nhận biết Cứu Chúa. Có nhiều người lôi cuốn nhiều đoàn dân đông, xây dựng nhiều toà nhà to lớn, xuất hiện trên vô truyền truyền hình, có nhiều người ũng hộ trên toàn cầu, song lại là "tiên tri giả". Họ không biết Đức Chúa Trời là Đấng mà họ nói, họ rao giảng về Ngài.
b. Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao?” Phải cẩn thận về những người đang nhảy múa với ma quỉ! Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?” chúng ta có thể lập một danh sách “những tay làm phép lạ” hiện đại.
3. Chúa Jêsus sẽ nói với họ: “ta chẳng biết các ngươi bao giờ”.
            G. Campbell Morgan đã viết: [“ta chẳng biết các ngươi bao giờ”]... không có nghĩa là, Ta không biết các ngươi, Ta không biết tên tuổi các ngươi, Ta không để ý tới lối sống của các ngươi; nhưng là "Ta chẳng biết các ngươi bao giờ;" không có một sự thân thuộc nào, không có một tình bạn nào, không có một mối giao thông nào giữa chúng ta. Các ngươi lấy danh Ta làm thành danh các ngươi; các ngươi lấy danh Ta để làm ra các phép lạ của các ngươi; các ngươi lấy danh Ta vì các mục đích lấy cái tôi làm trung tâm; nhưng các ngươi không biết Ta, và Ta không biết các ngươi " (trang 79).
4. Chúa Jêsus sẽ nói với hạng người ấy trong ngày đó: "Hãy lui ra khỏi Ta". Câu nầy đồng nghĩa với con đường rộng dẫn tới "sự hủy diệt". Nó cũng đồng nghĩa với cây xấu bị "quăng vào lửa". Nếu bạn không BIẾT Chúa Jêsus trong đời nầy, bạn sẽ ở  đời đời trong địa ngục.
C. Hãy Nghe Theo Những Lời Cảnh Báo Nầy!
1. Bạn đã chọn đúng cánh cửa chưa? Có phải bạn đang bước đi trên con đường rộng? Có phải bạn đang mang đúng trái? Phải chăng bạn thực sự NHÌN BIẾT Chúa Jêsus?
2. Bạn đi nhà thờ, không có nghĩa là bạn sẽ được vào trong thiên đàng đâu! Bạn hành động rất tôn giáo, không có nghĩa là bạn là người ngay thẳng đâu! Bạn biết Đấng Christ, không có nghĩa là bạn  nhìn biết Đấng Christ đâu! Bạn gọi Ngài là “Chúa”, không có nghĩa Ngài là “Chúa” của bạn đâu!
3. Đây không phải là lời cảnh báo của tôi, đây là lời cảnh báo của Ngài. Hãy nghe theo chúng.
            Điều rắc rối với những lời cảnh báo, ấy là người ta bất chấp chúng vì họ tưởng họ đang sống an ninh. Trường hợp như thế đã xảy ra vào ngày 10 thàng 4 năm 1979. Tôi nhớ những lời cảnh báo có bão lốc trên Texas và Oklahoma. Trên bầu trời Wichita Falls đỗ ra "một trận bão dữ với nhiều cơn lốc xoáy, mỗi cơn lốc to như một cơn bão bình thường và đường kính của nó lên tới cả dặm xa". Trong một bức ảnh lịch sử: "những cơn lốc xoáy quyện vào nhau và trông nó như một quả cầu nước".
            William Hauptman viết: "Anh tôi sống ở Wichita Falls, khi anh ấy nhìn thấy cơn bão ụp đến, anh đưa cả gia đình vào xe rồi chạy đi. Đây không phải là một ý kiến hay, nhưng anh tôi từng là tay săn bão, và đây là suy tưởng đầu tiên hiện đến trong lý trí của anh ấy. Cơn bão đuổi theo anh ấy suốt con đường băng ngang qua thị trấn. Điều anh ấy nhớ rõ ràng nhất là những kẻ không tìm được chỗ trú thân. Khi anh ấy đi ngang qua một siêu thị nhỏ, anh ấy nhìn thấy một số người đang đứng ở chỗ đậu xe, họ nhìn xem cơn bão đang tới gần. Anh ấy gặp mấy chiếc xe khác và đã nhá đèn vào họ – họ cứ lái xe thẳng vào cái phễu của cơn giông. Anh ấy thấy một số người băng ngang qua bãi cỏ, anh thấy cái chết đang treo trên đầu họ”.
            Cơn giông tố đó đã gây ra thiệt hại về tài sản lên tới 400 triệu USD (tệ hại nhất trong lịch sử bang Texas), hơn 3000 ngôi nhà bị hủy diệt kể cả toàn bộ hai toà nhà cao tầng và 20.000 người phải sống vô gia cư. Trong ngày đó, tệ hại nhất là đã có 42 người chết trong ngày đó.
            Hauptman kết luận: "94 năm sau trận bão Goliad, chúng tôi có thể xác định chính xác nơi mà chúng sẽ đỗ ụp vào. Nhưng dường như sự xác định đó đã tạo ra một ít khác biệt".
            Cũng một thể ấy, có nhiều người người đang đi trên con đường “rộng”. Họ lo toan công việc làm ăn của họ trong con đường “hủy diệt” đời đời. Họ lắng nghe những lời cảnh báo rồi nghĩ: "Chuyện đó sẽ chẳng xảy ra cho tôi đâu", ...nhưng chuyện ấy sẽ xảy tới! Tại sao không tìm nơi ẩn trú trong Chúa Jêsus ngay hôm nay!

Bài 27: Mathiơ 7:6-12: "Học Biết Cách Yêu Thương"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Học biết cách yêu thương
Mathiơ 7.6-12
1. Randy Spencer kể lại tình cảm của con gái mình với mấy con búp bê. Bản thân tôi là cha của hai đứa con gái nhỏ, tôi có thể sẵn lòng đồng hoá với cảm tính của ông. Giữa hai cô con gái, chúng tôi có khoảng ba tá búp bê đủ cở, hình dáng và năng khiếu khác nhau. Spencer nói: "Ngày nay, qua kỹ thuật hiện đại, một bé gái không nhất thiết phải hài lòng với mấy con búp bê câm, không có sự sống, mà có thể kinh nghiệm được cảm giác việc sở hữu một mô hình có sự sống hay một em bé có thể đi, đứng, uống nước, nháy mắt, nhai nuốt, ợ, kêu khóc,  thở dài và bật tiếng lên cười – gần như bất cứ điều chi một em bé thực sự làm được, kể cả tự nó tè dầm và quấn tả lót”. Ông tiếp tục nói rằng sau 10 năm trời mua sắm loại búp bê chất lượng cao như thế, ông muốn  biết con búp bê nào là búp bê mà con gái ông ưa thích nhất. Ông tìm ra đó là một con búp bê nhỏ rách mướp mà nó có được trong ngày sinh nhật thứ ba của nó. Ông viết: "Hết thảy mấy con búp bê khác đều bị bỏ qua một bên, còn con búp bê xơ xác nầy đã khiến nó đem lòng yêu mến. Mấy con búp bê khác đã bắt lấy ánh mắt của nó, còn con búp bê rách mướp kia thì bắt lấy tấm lòng của nó". Ông ta tiếp tục nói: "Chúng ta cũng thường giống như loại búp bê chất lượng cao kia của con gái tôi. Chúng ta tìm cách gây ấn tượng nơi người khác với tài khéo, học vấn, cách ăn nói, hay kiểu cách, đủ thứ hết.... Còn tình cảm thì không có – đây là phần thưởng cho sự trình diễn hay thành tựu. Bạn không phải ca hát, dạy dỗ, rao giảng hay cầu nguyện đủ để được yêu thương. Người ta sẽ không yêu thương chúng ta vì những gì chúng ta làm, mà đúng hơn vì chúng ta là ai".
2. Một Hội Thánh hiệp một trong trong sự kính sợ Chúa là một niềm vui rất lớn cho vị Mục sư Chủ tọa. Tôi là một thuộc viên trong vài Hội Thánh nhưng không một nhà thờ nào tỏ ra tinh thần yêu thương mà Hội Thánh nầy đang tỏ ra. Những tân tín hữu thường nhận xét với tôi về tinh thần yêu thương, sự tiếp đón chân thành và lòng mến khách mà họ cảm thấy khi họ đến viếng giữa vòng chúng tôi.
3. Bạn có biết rằng tình yêu không phải là một thái độ cũng như nó là một hành động không? Yêu là một động từ! I Côrinhtô 13 được gọi là Chương yêu thương quan trọng nhất trong cả Kinh Thánh. Mỗi câu nói trong toàn bộ 16 câu nói về tình yêu đều là động từ  trong bản Tân ước tiếng Hy lạp. Vì chúng ta yêu tha nhân, chúng ta sẽ hành động theo tình yêu đó. Mathiơ 7.12 cung ứng cho chúng ta một nguyên tắc quan trọng phải noi theo: "Ấy vậy, hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ".
4. Trước khi nhắm vào phân đoạn Kinh Thánh ngày hôm nay, chúng ta hãy ôn lại nội dung một chút.
A. Tiểu đoạn nầy đang nhắm tới phần cuối của phân đoạn mà chúng ta đã biết là Bài Giảng Trên Núi. Bắt đầu ở chương 5, chúng ta đang nhìn thấy thể nào Chúa Jêsus đã ngồi với đám dân đông trong vùng đồi núi quanh xứ Galilê. Các chương nầy cung ứng Bản Tuyên Ngôn của Ngài, các nguyên tắc sống của Vương quốc. Ngài thường chế nhạo thứ tôn giáo giả tạo, thái độ mộ đạo giả dối của thầy thông giáo và người dòng Pharisi.
B. Có lẽ sự khó nhăn nhiều nhất khi áp dụng mọi sự dạy của Chúa Jêsus là 5 câu đầu tiên của chương 7. Chúa Jêsus phán: "Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét". Loại xét đoán mà Chúa Jêsus đã có trong trí ở đây ấy là đưa ra sự kết án, gắn nhãn hiệu hay phân loại ai đó không đúng đắn. Chúng ta có khuynh hướng xét đoán người ta dựa theo...CÁCH ĂN MẶC, TÓC TAI, MÀU DA, XE CỘ, NHÀ CỬA...
C. Để mô tả toàn bộ sự bất công của việc đưa ra sự xét đoán lẫn nhau, Chúa Jêsus đưa ra phép ẩn dụ nói tới ai đó với một "cây đà" lòi ra ngoài con mắt của người đó, trong khi người đó đang xét đoán con mắt của người khác đang có một “cái rác” nhỏ.
D. Chìa khoá cho việc hiểu biết lý do tại sao chúng ta thường tỏ ra loại thái độ xét đoán là hiểu biết những gì “cái rác” tiêu biểu cho. Đó là tình trạng thiếu yêu thương dành cho người khác. Nhu cần lớn lao nhất giữa vòng dân sự Đức Chúa Trời hôm nay là phải học biết yêu thương nhau.
3. Trong phân đoạn Kinh Thánh hôm nay, Chúa Jêsus chia sẻ ba hình ảnh dạy chúng ta về sự yêu thương lẫn nhau.
I. LOÀI CHÓ, NGỌC TRAI & BẦY HEO: Yêu thương đòi hỏi SỰ PHÂN BIỆT (câu 6).
A. Dân sự của Đức Chúa Trời cần phải trở thành một dân biết phân biệt.
1. Khi Chúa Jêsus dạy chúng ta "đừng xét đoán" Ngài có ý nói rằng chúng ta đừng trở thànnh hạng người hay chỉ trích, phê phán ngồi trong chỗ xét đoán lẫn nhau. Ngài không có ý nói chúng ta đang trở thành loại thảm chùi chân, đừng chống lại lẽ đạo xấu xa, giả dối hay hạng người luôn phạm sai lầm. Lời lẽ của Ngài không loại trừ từng loại xét đoán.
2. Nếu quí vị là một chuyên gia và bạn bè thân nhất của quí vị sắp mua sắm một “cây chanh”, há quí vị chẳng có ý kiến gì sao? Nếu quí vị là một y tá hay một bác sĩ và một người bạn đang bốc thuốc có thể gây hại, há quí vị chẳng có ý kiến gì sao? Nếu ngôi nhà người lân cận của quí vị sắp bốc cháy, quí vị há chẳng lấy làm lo không biết cú điện thoại quí vị gọi có đánh thức họ dậy hay không chăng? Nếu có người đến với nhà thờ của chúng ta dạy dỗ một lẽ đạo giả dối gây trụy lạc, chúng ta há chẳng ngần ngại gạt họ qua một bên hoặc làm cho họ câm miệng lại sao?
3. 1 Giăng 4.1 chép: "Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ”.
B. Sự phân biệt không có nghĩa là cung ứng thịt “thánh” cho “loài chó”.
1. Minh họa của Chúa Jêsus có ý gây sốc cho khán thính giả của Ngài. "Loài chó" không có cùng một địa vị trong xã hội thời ấy như chúng đang có trong xã hội của chúng ta. Ngày nay phần nhiều người trong quí vị xem loài chó là thành viên trong gia đình của quí vị. Trong Palestine vào thế kỷ đầu tiên, với ngoại lệ sử dụng chó chăn bầy chiên, gần như chẳng có ai nuôi chó cả.
2. Loài chó đi lang thang trên đường phố là loài chó lai có phân nửa hoang dã đã sống giống như những kẻ chuyên đào bới đống rác để kiếm ăn. Chúng rất bẩn thỉu, dữ dằn và thường hay bịnh tật. Người ta đã xem chúng rất nguy hiểm.
3. Chúa Jêsus cho thịt là “vật thánh”, là thịt được hiến dâng trên bàn thờ con sinh rồi đem thịt đó cho “loài chó” hoang sống trên đường phố. Khi một con thú được dâng làm của lễ, một số thịt của thú ấy được thầy tế lễ dùng để ăn, một số thịt được người đem dâng ăn và một số thịt được coi là thánh và phải để lại trên bàn thờ. Ngài bảo đừng đem thịt dâng trên bàn thờ mà cho chó ăn. Làm thế là phạm thượng
C. Sự phân biệt không có ý nói ném "hột trai" trước mặt loài heo”.
1. "Lợn" hay heo bị người Do thái coi là loài ô uế nhất trong tất cả các loài thú. Luật lệ Cựu ước nghiêm cấm việc ăn thịt heo. Là một hành động tối phạm thượng, Antiochus Epiphanes đã dâng một con heo lên trên bàn thờ của người Do thái và buộc các thầy tế lễ phải ăn thịt heo đó vào năm 168TC.
2. Vì hầu hết người Do thái không bao giờ xét tới việc thuần hoá loài heo, heo sống trong xứ Palestine đều giống như loài chó, loài thú hoang dã, chúng hay bươi móc các đống rác trong thành phố. Tôi tin chúng khá giống với loài Javelinas ở bang Texas với răng nanh và móng vuốt sắc bén hơn loài heo được người ta nuôi trong nhà.
3. Chúa Jêsus hình dung việc cầm lấy món nữ trang có giá trị nhất trong thời buổi đó, "hột trai", rồi ném chúng cho đàn lợn dã man. Rõ ràng loài heo hoang dã không thể ăn nuốt được loại "hột trai" nầy, vì vậy chúng sẽ "đạp dưới chơn" rồi "quay lại cắn xé các ngươi". Không những loài heo chẳng thích ứng với "hột trai", chúng sẽ tấn công quí vị vì đem đồ ăn đến cho chúng.
D. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời buộc chúng ta phải học biết xét đoán hay phân biệt sao cho thích ứng.
1. Hãy đối diện với tình yêu ấy, có một số người sẽ bị ví sánh với "chó""heo" trong minh hoạ của Chúa Jêsus. Họ chẳng biết thưởng thức cái gì là thánh, tốt đẹp, và có giá trị hết. Mặc dù chúng ta cần phải yêu thương tất cả mọi người, chúng ta cần phải phân biệt có nhiều người sẽ chẳng chịu nghe theo đâu!?!
2. Trước khi Chúa Jêsus sai phái 12 môn đồ của Ngài ra đi giảng Tin Lành, Ngài nhắc cho họ nhớ chính nguyên tắc nầy (đối chiếu 10.11-15).
3. Trong Công vụ Các sứ đồ 13.46, Phaolô đã nói với người Do thái nào đã chối bỏ Đấng Christ: "Phaolô mà Banaba bèn nói cùng họ cách dạn dĩ rằng: Ấy cần phải truyền đạo Đức Chúa Trời trước nhứt cho các ngươi; nhưng vì các ngươi đã từ chối, và tự xét mình không xứng đáng nhận sự sống đời đời, nên đây nầy, chúng ta mới xây qua người ngoại”.
4. Công vụ Các sứ đồ 18 cho chúng ta biết rằng khi Phaolô và Sila giảng đạo cho người Do thái ở xứ Maxêđoan, những người nầy "đã khinh dễ" "chống cự" họ. Phaolô đã nói: "Nhưng, vì chúng chống cự và khinh dể người, nên người giũ áo mình mà nói rằng: Ước gì máu các ngươi đổ lại trên đầu các ngươi! Còn ta thì tinh sạch; từ đây, ta sẽ đi đến cùng người ngoại” (câu 6).
5. Phaolô đã dạy Hội Thánh Côrinhtô phải "phó" một người vô đạo đức "cho Satan để hủy hoại phần xác thịt" (I Côrinhtô 5.5).
6. Sự thể ấy thật đáng buồn, song đấy lại là sự thật, chia sẻ Tin Lành với một số người dường như là hư không. Tôi đã thấy một số cửa đóng lại trước mặt tôi. Tôi đã thấy một số người rủa sã tôi. Tôi nói với những người muốn tranh luận từng quan điểm của Tin lành nhưng không hề chịu xem xét đức tin. Có người, giống như Pharaôn thời Môise rõ ràng đã tự làm cứng lòng mình. Có người giống như lớp đất cằn cỗi trong Thí dụ nói về người gieo giống.
7. Phierơ đã trưng dẫn lời lẽ của Chúa ở đây khi ông viết về các giáo sư giả trong II Phierơ 2.22, ở đây chép: "Chó liếm lại đồ nó đã mửa” “heo đã rửa sách rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn”. Chúng ta đã nhìn thấy người ta bước vào nhà thờ rồi trở ra vì họ chưa thực sự hướng về Đấng Christ. 1 Giăng 2.19 chép: "Chúng nó đã từ giữa chúng ta mà ra, nhưng vốn chẳng phải thuộc về chúng ta; vì nếu chúng nó thuộc về chúng ta, thì đã ở cùng chúng ta; song điều đó đã xảy đến, hầu cho tỏ ra rằng mọi kẻ ấy chẳng thuộc về chúng ta vậy”.
8. Có thể chính vợ hay chồng của quí vị đang từ chối không chịu tin, có thể là cha, mẹ, anh em, con trai, con gái, bạn bè thân cận nhất...Phải chăng quí vị chỉ đến lấy "hột trai" của mình rồi đi luôn?
9. Có khi, đấy là việc đáng ưa nhất mà chúng ta có thể làm. Tuy nhiên, như câu kế tiếp cho chúng ta thấy, chúng ta có thể tiếp tục cầu nguyện.
II. XIN, TÌM & GÕ: Yêu thương đòi hỏi phải BỀN ĐỖ (các câu 7-8).
A. Chúa Jêsus dạy chúng ta phải bền đỗ trong ba lãnh vực. Đây là những mạng lịnh cơ bản dạy chúng ta đừng thối lui trong nghi ngờ và ngã lòng. Ba lãnh vực nầy là "ba nhu cần trong hiện tại". Chúa Jêsus đã nói với họ như thế nầy: "Cứ luôn cầu xin! Cứ luôn tìm kiếm! Cứ luôn gõ cửa!"
1. Chúng ta cần phải "xin".
a. Điều nầy có nghĩa là chúng ta cần phải đến trước mặt Chúa với tình trạng vô dụng hoàn toàn. Chúng ta cần phải đến trước mặt Ngài với hai bàn tay trống không. Chúng ta cần phải bày tỏ với Ngài như Đấng duy nhất có thể làm thoả mãn mọi nhu cần của chúng ta.
b. Đôi khi chúng ta không có những gì chúng ta đang cần vì chúng ta không cầu xin. Chúng ta tìm cách làm thoả mãn mọi nhu cần của chúng ta. Chúng ta từ chối không chịu hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời. Giacơ 4.2 chép: "anh em chẳng được chi, vì không cầu xin".
c. Hãy nhớ, chúng ta cần phải luôn “cầu xin”. Phaolô đã viết: "cầu nguyện không thôi". Đây không phải là một giọng đơn điệu vô ý tứ lâm râm tụng niệm đôi ba câu thần chú đâu. Nó có nghĩa là bền đỗ trong sự cầu nguyện.
d. Chúa Jêsus đã cung ứng Thí dụ nói về đờn bà goá bền đỗ trong Luca 18.1-5.
e. Đứa con gái lớn nhất của tôi luôn luôn bền đỗ khi nó muốn xin xỏ hay nói ra một việc gì đó đối với tôi. Nó nói: "Bố ơi, Bố ơi, Bố ơi, Bố ơi, Bố ơi..."
2. Chúng ta cần phải "tìm".
a. Chữ "tìm" có nghĩa là "tìm kiếm, tìm cho ra". Chúng ta cần phải tìm kiếm Đức Chúa Trời và ý chỉ của Ngài cho chúng ta.
b. Chúng ta cần phải giữ lấy việc "tìm". Đứa con gái út của tôi mới có 3 tuổi. Nó hay đeo bám lấy mẹ nó. Nếu nó không tìm gặp mẹ nó trong nhà, nó sẽ tìm và kiếm cho tới chừng nào nó gặp được mới thôi.
3. Chúng ta cần phải "gõ cửa".
Một vị Mục sư kể lại câu chuyện về mẹ ông, bà luôn ở nhà với hai đứa nhỏ chưa đến tuổi đến trường. Ngày kia, bà muốn ở riêng ra vài phút, vì vậy bà bước vào phòng ngủ rồi nhẹ nhàng khoá cửa lại. Chưa đầy một phút trôi qua, thì hai đứa nhỏ kia bắt đầu chạy tới chạy lui rồi cất giọng la lên: "Mẹ ơi, Mẹ ơi!... Mẹ có ở trong đó không?" Khi bà không đáp lại, chúng cứ khăng khăng – gõ cửa... gõ cửa... gõ cửa... GÕ CỬA. Bà giận dữ mở cửa ra rồi nói: "Hai đứa muốn gì đây?" Hai gương mặt nhỏ bé kia bèn tươi cười rạng rỡ nhìn thẳng vào bà rồi nói: "Chúng con chỉ muốn biết mẹ đang ở đâu thôi!"
B. Chúa Jêsus hứa rằng sự bền đỗ của chúng ta sẽ được ban thưởng trong ba cách:
1. Khi quí vị "xin", Chúa Jêsus hứa "sẽ được". Ngài phán "hễ ai xin thì được".
2. Khi quí vị "tìm", Chúa Jêsus hứa "sẽ gặp". Ngài phán đặc biệt: "ai tìm thì gặp".
3. Khi quí vị "gõ", Chúa Jêsus hứa rằng "sẽ mở cho". Ngài phán sâu xa hơn: "ai gõ cửa thì được mở".
C. Yêu thương có nghĩa là phải bền đỗ trong sự cầu nguyện của chúng ta.
1. Chúng ta cần phải hiểu rằng 2 câu nầy không phải là “tờ chi phiếu trắng” đâu. Đức Chúa Trời không phải là một cái máy bán buôn tự động trong vũ trụ, để quí vị có thể đặt hai đồng xu trong đó rồi đưa ra một sự lựa chọn đâu! Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của chúng ta dựa theo 2 điều kiện:
a. THỨ NHỨT, CHÚNG TA PHẢI THUỘC VỀ NGÀI. Hãy chú ý từ ngữ "ai" trong câu 8. Chữ nầy có nghĩa là "bất cứ ai" thuộc về Đức Chúa Cha. “Ai” là người đã được cứu. Hạng người hư mất không thể trông mong lời cầu nguyện của họ được nhậm giống như những người đã được cứu được.
b. THỨ HAI, CHÚNG TA PHẢI VÂNG THEO NGÀI. 1 Giăng 3.22 chép: "và chúng ta xin điều gì mặc dầu, thì nhận được đều ấy, bởi chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp ý Ngài". Đức Chúa Trời không buộc chính mình Ngài phải chu tất hết mọi ham muốn ích kỷ của chúng ta. Giacơ 4.3 chép: "Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình".
c. THỨ BA, CHÚNG TA PHẢI ĐẦU PHỤC NGÀI. 1 Giăng 5.14 chép: "Nầy là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta". Đức Chúa Trời muốn ban cho chúng ta ý chỉ của Ngài. Chúng ta cần phải học cầu nguyện trong ý muốn của Ngài.
2. Tình yêu thương không chịu thua. Nếu người yêu của quí vị chưa được cứu, đừng thối lui! Cứ khăng khăng cầu xin nơi hai cánh cửa của thiên đàng vì người ấy. Nếu bạn bè của quí vị đang sống ngoài ý muốn của Đức Chúa Trời, đừng thối lui, cứ giữ việc cầu nguyện và gặp gỡ luôn. Nếu quí vị bị xúc phạm, đừng thối lui, cứ giữ lấy sự hầu việc và tỏ bày ra ân điển. Đừng xét đoán tín hữu khác, phải bền đỗ trong tình yêu thương vì người ấy.
III. BÁNH, ĐÁ & CÁ: TÌNH YÊU THƯƠNG bao hàm TRƯỚC SAU NHƯ MỘT (các câu 9-12).
A. Hai minh họa về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho con cái Ngài (các câu 9-11).
1. Chúa Jêsus hỏi người kia hay người cha là loại người gì khi cho con mình “đá” khi con mình xin “bánh”? Chúng ta đang nói con cái của quí vị đang xin bịch bánh kia kìa? Phải chăng quí vị cất đi cái đĩa đầy hoa kia rồi đưa trở lại cái đĩa toàn là đá không sao? "Nè con, nhiều lắm nè!" KHÔNG! Dĩ nhiên là không rồi!
2. Chúa Jêsus hỏi về một người cha, con của ông nầy xin “cá” , nhưng lại đem cho nó một con “rắn”. Hãy tưởng tượng xem, nếu con của quí vị thực sự thích ăn cá!?! Lẽ nào quí vị đưa chúng đến một khu vực lầy lồi đầy rắn rồi bỏ chúng ở đó? Không!
3. Chúa Jêsus tóm tắt rằng dù chúng ta vốn là “xấu” (nghĩa là được đánh dấu bằng tội lỗi, tự nhiên là tội nhân) sẽ cho con cái mình "vật tốt thay”, "huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban các vật tốt cho những người xin Ngài sao?" Nói cách khác, không có một giới hạn nào về sự tốt lành mà Ngài sẽ ban cho chúng ta, là con cái của Ngài.
B. Một nguyên tắc trong tình yêu thương của Đức Chúa Trời mà chúng ta sẽ tỏ ra cho mọi người (câu 12).
1. Đây là một trong những câu trọng lượng nhất trong cả Kinh Thánh. Câu nầy có thể được gọi là "đỉnh Everest của đạo đức" và là "Điều Luật Vàng".
2. Chúa Jêsus đã ban cho chúng ta một danh sách những chữ “đừng” khi đạt tới chỗ yêu thương. Nếu quí vị muốn được yêu thương, đừng để bị xét đoán. Nếu quí vị muốn được yêu thương, đừng tìm kiếm tội lỗi nơi đời sống của anh em mình. Nếu quí vị muốn được yêu thương, đừng ném hột trai của mình cho bầy heo,...Giờ đây Ngài ban cho chúng ta "thực thi" sự yêu thương đó.
3. "Ấy vậy, hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ". Nói như thế có nghĩa gì? Nói như thế có nghĩa là mọi hành động của chúng ta phải phù hợp với lời nói của chúng ta. Cung cách sống của chúng ta phải phù hợp với sứ điệp của chúng ta. Chúng ta cần phải bước đi song hành theo lời nói.
4. Cách thức chúng ta đối xử với người khác không được quyết đoán ở chỗ chúng ta trông mong họ đối xử với chúng ta hay chúng ta sẽ suy nghĩ họ sẽ đối xử với chúng ta như thế nào, mà bởi cách chúng ta “muốn” họ “đối xử” với chúng ta .
5. Chúng ta duy trì việc đó rất đơn giản. Nếu quí vị muốn được tha thứ, thì quí vị phải biết tha thứ. Nếu quí vị muốn rời rộng, thì phải rộng lượng. Nếu quí vị muốn được khích lệ, hãy làm sự khích lệ đi. Nếu quí vị muốn sự tử tế, thì phải sống tử tế đi.
6. Câu nầy rất dễ áp dụng. Hãy tự đặt mình vào chiếc giày của người khác rồi nói: "Tôi sẽ cần gì nếu tôi là người đó". Rồi hãy làm theo điều ấy.
7. Chúa Jêsus phán, sống theo cung cách sống đó tương đương với việc tuân giữ "luật pháp của các đấng tiên tri". Đấy là phần tóm tắt ngăn gọn của cả Cựu ước.
            HÃY NHỚ, YÊU THƯƠNG LÀ MỘT ĐỘNG TỪ. Một cô gái người Mỹ đã đính hôn khi cuộc Nội Chiến nổ ra. Bạn tình của cô bị gọi nhập ngủ, vì vậy đám cưới phải hoãn lại. Giữa các trận đánh, anh rất chung tình viết thư cho nàng rất thường xuyên. Nàng đọc đi đọc lại từng lá thư cho tới chừng cô thuộc lòng hết các bức thư ấy. Thế rồi việc thư từ cũng đến lúc phải chấm dứt. Nàng hay tin chàng đã bị thương ở chiến trường trong đồng vắng. Nàng rất lo âu. Sau cùng, một bức thư đã đến, nhưng đấy là một là thứ viết tay của ai đó. Thư viết: "Có một trận đánh khủng khiếp khác. Thật là khó cho anh khi phải nói với em về chuyện nầy, nhưng anh đã bị thương. Anh đã bị liệt rồi. Cả hai cánh tay và bàn tay đều vô dụng hết. Một người bạn đã viết dùm cho anh lá thư nầy. Trong khi anh yêu em rất là nhiều, anh miễn cho em sự đính ước trước đây, mong em sẽ tìm được một người chồng lành lặn".
            Ngay lập tức, nàng rời khỏi quê nhà và dự một chuyến hành trình nguy hiểm xuyên ngang qua trận địa. Rồi khi đến tại bịnh viện mà từ đó nàng đã nhận được lá thư sau cùng, nàng đã hỏi hướng đi rồi lên đường đến bên cạnh người yêu của mình. Nàng cúi xuống hôn anh rồi nói: "Em yêu anh và không thể rời bỏ anh. Em không muốn lìa bỏ anh. Đôi cánh tay của em sẽ là hai cánh tay của anh. Hai bàn tay của em sẽ là hai bàn tay của anh”.
YÊU THƯƠNG LÀ MỘT ĐỘNG TỪ. Động từ ấy phải được đặt vào hành động. Quí vị có bằng lòng để cho đời sống của mình, hai bàn tay của mình trở thành hai bàn tay của Đấng Christ khi đến với tha nhân không? (Galati 2.20).

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012

Bài 26: Mathiơ 7:1-5: "Công Bình Trong Xét Đoán"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Công bình trong xét đoán
Mathiơ 7.1-5
1. Trong tờ báo “Leadership Journal” có đăng câu chuyện nầy: “Một du khách, khi chờ đợi chuyến bay tại phi trường, đến tại quầy mua một gói bánh bao nhỏ. Kế đó bà ta ngồi xuống, rồi bắt đầu đọc báo. Sau một lúc, bà ta nhận ra tiếng giấy kêu sột soạt. Từ đàng sau tờ báo, bà ta thất kinh khi nhìn thấy một người ăn mặc chải chuốt đang cầm lấy mấy cái bánh bao của mình. Không bằng lòng như thế, bà ta bước tới và giật lại túi bánh bao ấy.
Một hai phút trôi qua, rồi tiếng sột soạt lại đến nữa. Ông ta đang cố lấy cho mình cái bánh khác. Đến lúc nầy, cái túi bánh gần cạn hết, nhưng bà ta rất tức giận đến nỗi không nói được lời nào. Khi đó, giống như thêm sĩ nhục vào sự tổn thương, người kia bẻ chiếc bánh còn lại làm hai, đưa phân nửa sang cho bà nầy rồi ăn nửa phần còn lại kia.
Vẫn còn hơi giận một lúc sau, khi chuyến bay của bà ta được công bố, bà nầy đã mở cái túi xách tay của mình ra để lấy chiếc vé. Giật mình và lúng túng, bà ta tìm gặp ở đó túi bánh bao của mình chưa mở ra! Tính ngạo mạn của chúng ta quả là sai trật dường bao!”
2. Trong phân đoạn Kinh thánh ngày hôm nay, Chúa Jêsus đánh trúng ngay tâm của một tội lỗi rất thông dụng giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời... ấy là xét đoán. 
A. Quí vị có để ý thấy tập quảng cáo du lịch in rất mỏng luôn luôn trưng bày hình ảnh đẹp của các thành phố không? Có cảnh bầu trời thành phố, các công viên xinh đẹp, những cấu trúc hiện đại cùng những kỳ quan lịch sử. Luôn luôn có những hình ảnh về gia đình, sinh viên cùng những người làm ăn trong một môi trường an toàn, phong phú, đáng ưa. Từ hình ảnh của tập sách mỏng ấy, thành phố trông như một địa đàng vậy. Tuy nhiên, khi quí vị đến đấy, quí vị nhìn thấy mặt trái tồi tệ của thành phố chưa thể hiện ra trong quảng cáo du lịch. Quí vị nhìn thấy những đứa trẻ bụi đời, những khu nhà ổ chuột, giao thông tắc nghẽn, tình trạng ô nhiễm, và hạng người trông rất nguy hiểm trên các đường phố. 
B. Cũng một thể ấy, có mặt trái trong nhiều nhà thờ ngày nay. Ở mặt ngoài, họ tỏ ra rất dễ thương, tiếp đón và hiếu khách lắm. Dù vậy, nếu quí vị chịu khó đủ, quí vị thấy ngay trò chơi rất đáng ưa có mặt ngay trên các hàng ghế là xét đoán. Người mới đến kia chưa ăn mặc đẹp đủ, chưa dâng hiến đủ, chưa trung tín đủ, chưa nhận biết đủ, chưa... tôi có ý nói... "trắng" đủ.
C. Qua chức vụ của tôi, tôi có thể thành thật mà nói rằng hầu hết các nan đề, những sự chia rẻ, và cơn giận chưa giải quyết xong giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời đã đến từ những người xét đoán bất công lẫn nhau. 
D. Đây là một phân đoạn Kinh thánh khó giảng dạy vì chính tôi thường phạm phải vấn đề đó.
3. Xét đoán không phải là một trò chơi mới. Nó đã diễn ra ngay từ buổi bình minh của lịch sử. Trong thời của Chúa Jêsus, người Pharisi, họ đã nghe thấy luôn khi Ngài rao giảng Bài Giảng Trên Núi nầy, họ đã hoàn chỉnh sự xét đoán thành một hình thái nghệ thuật. Chúng ta hãy hỏi và đáp ba thắc mắc sau: Xét đoán là gì? Xét đoán sai thế nào? Và tôi phải thắng hơn tật xét đoán như thế nào?
I. XÉT ĐOÁN LÀ GÌ? (Câu 1a).
A. Chúng ta hãy bắt đầu với phần định nghĩa chính xác từ  ngữ “xét đoán”
1. "Xét đoán" đến từ chữ Hy lạp krino có nghĩa là "phân biệt, lựa chọn hay quyết định". Từ nầy có nhiều ý nghĩa bóng bẩy trong Tân ước. Vì lẽ đó, phần văn mạch sẽ giúp chúng ta nắm bắt được ý nghĩa đặc biệt của từ đó.
2. Chúng ta biết Chúa Giêxu không có ý nói rằng chúng ta không phải là hạng người chuyên phân biệt đâu. Ngài không có ý nói rằng chúng ta mâu thuẫn trong tư tưởng và cố quyết đâu. Ngài không có ý nói chúng ta bắt cá hai tay đâu. 
a. Hãy chú ý câu 15: "Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé".
b. 1 Giăng 4.1 chép: "Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ".
c. I Côrinhtô 5.11 chép chúng ta đừng: "làm bạn với kẻ nào tự xưng là anh em, mà là gian dâm, hoặc tham lam, hoặc thờ hình tượng, hoặc chưởi rủa, hoặc say sưa, hoặc chắt bóp…".
d. Dân sự của Đức Chúa Trời cần phải có hai con mắt mở rộng ra. Chúng ta cần phải phân biệt đâu là đúng đâu là sai bởi Lời của Đức Chúa Trời. 
e. Ngày nay, người ta coi thường những điều tuyệt đối. Họ nghĩ tới chỗ đứng chắc chắn của Cơ đốc nhân nào quá giản dị và không có tri thức. Lẽ đạo bị hất ra. Thoả hiệp thì bước vào. Các tiêu chuẩn công bình bị hất ra. Niềm tin vào sự thống nhất Cơ đốc giáo trên toàn cầu thì bước vào. Trong thời buổi lộn xộn nầy, dân sự của Đức Chúa Trời phải biết xét đoán đâu là đúng đâu là sai!
3. Chúa Jêsus có ý nói rằng chúng ta đừng nên phê phán, chỉ trích. Chúng ta không nên xét đoán, kiểm duyệt hay gắn nhãn cho người ta bởi những gì chúng ta nhìn thấy ở bề ngoài. Chúng ta đừng thải ra một câu về người khác vì những điều chúng ta nghe họ nói hoặc nhìn thấy họ làm hoặc đọc thấy về họ. 
B. Sách Giacơ cung ứng cho chúng ta một hình ảnh trong như pha lê về nguyên tắc nầy (Giacơ 2.1-9).
1. Câu 1 cho chúng ta biết đừng “tây vị người nào”. Nói cách khác, chúng ta đừng phân loại người khác, tính tình hay giá trị của họ bởi những gì chúng ta trông thấy.
2. Trong câu 2, Giacơ mô tả hai người bước vào “hội chúng” hay nhà thờ. Một người thì "đeo nhẫn vàng" "mặc áo đẹp". Còn người kia thì “nghèo”"quần áo rách rưới”.
3. Giacơ cho rằng đấy là những gì đa số trong chúng ta sẽ làm. Ông nói: "nếu anh em ngó kẻ mặc áo đẹp". Anh em tìm một chỗ tốt cho người đó ngồi và đối xử với người như một khách danh dự vậy. Tuy nhiên, đối với người nghèo, anh em ít ngó tới hơn và chắc chắn sẽ bảo người đừng vào.
4. Trong câu 4, Giacơ hỏi: "thế có phải anh em tự mình phân biệt?” Rồi sử dụng lời lẽ của Chúa Jêsus: “Anh em lấy ý xấu mà xét đoán, có phải không?" 
5. Hãy lưu ý câu 9. Giacơ chép: "Nhưng nếu anh em tây vị người ta”, hoặc nếu anh em đưa ra sự xét đoán, “thì phạm tội, luật pháp bèn định tội anh em như kẻ phạm phép”
C. Vì lẽ ấy, một định nghĩa thực tế đúng đắn cho sự xét đoán là “gắn nhãn, phân loại hay đưa ra một quyết định về ai đó với một tư thế thật bất công”
II. TẠI SAO XÉT ĐOÁN LÀ SAI? (các câu 1b-4).
A. Chúng ta không có tư cách để xét đoán vì chúng ta chỉ nhìn thấy bề ngoài mà thôi (I Samuên 16.7).
1. Đức Chúa Trời đã sai tiên tri Samuên đến nhà của Giesê xức dầu cho nhà Vua thứ hai của Israel. Khi ông nhìn người con cả, Êliáp, Đức Giêhôva phán với ông: "Chớ xem bộ dạng và hình-vóc cao lớn của nó, vì ta đã bỏ nó. Đức Giêhôva chẳng xem đều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giêhôva nhìn-thấy trong lòng".
2. Aminađáp (con thứ hai), Samma (con thứ ba) rồi ba người con khác nữa đã bước qua trước mặt Samuên, nhưng Đức Chúa Trời không chọn người nào trong số họ. Chỉ tới khi họ đưa David vào, Đức Chúa Trời mới cảm động Samuên. 
3. David lớn lên để trở thành một Vì Vua tốt. Vấn đề là, ông cũng là một kẻ phạm tội tà dâm và giết người. Chắc chắn chúng ta sẽ nói là ông bất xứng ngay. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã gọi ông là "một người vừa lòng Ngài" (13.14; đối chiếu Công vụ các Sứ đồ 13.22).
4. Chúng ta có khuynh hướng nhận định trong trí chúng ta về con người dựa theo cách họ ăn mặc, kiểu tóc tai hoặc màu da của họ. Nếu chúng ta muốn giống như Chúa Jêsus, chúng ta cần phải nhìn xem bề trong, chớ không chú trọng vào bề ngoài.
B. Chúng ta không có tư cách để xét đoán vì chúng ta không phải là chủ của ai hết (Rôma 14.4).
1. Nếu có một câu trong Kinh thánh mà dân cự của Đức Chúa Trời có cần, thì phải là câu nầy. Khi tôi dạy dỗ về chương nầy cách đây mấy tuần lễ, Đức Thánh Linh đã đưa câu nầy ra!
2. Phaolô nói: "Ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác?" Người mà chúng ta xét đoán không thuộc về chúng ta, họ thuộc về Đức Chúa Trời. Quí vị có sai phái tôi tớ của ai đó chưa? Quí vị có kỹ luật con cái của người khác không? 
3. Một tôi tớ "đứng hay ngã" là do "chủ của hắn". Quí vị không nên xét đoán tôi vì tôi không trả lời cho quí vị; tôi trả lời cho “chủ” của tôi, là Chúa. 
4. Chúng ta cần phải nhớ khi chúng ta bất đồng với ai đó, thì "Nó đứng hay ngã, ấy là việc chủ nó; song nó sẽ đứng”
5. Chúng ta không cần phải chỉ trích hay "loại bỏ" tín hữu khác vì đấy là việc của Đức Chúa Trời. Ngài đang  nắm lấy công việc làm cho người ta "đứng". Chỉ có Ngài mới có đủ tư cách “loại bỏ” người ta. 
C. Chúng ta không có tư cách để xét đoán vì hết thảy chúng ta sẽ bị Đức Chúa Trời xét đoán (Rôma 14.10-14).
1. Phaolô hỏi chúng ta tại sao chúng ta “xét đoán” lẫn nhau!?! Chúng ta quên rằng "Chúng ta hết thảy sẽ ứng hầu trước tòa án Đức Chúa Trời". Chỉ một mình Chúa Jêsus sẽ xét đoán mọi hành động, thái độ, và động lực của chúng ta. Trong ngày đó, "mỗi người trong chúng ta sẽ khai trình việc mình với Đức Chúa Trời”.
2. Vì cớ đó, “Chúng ta chớ xét đoán nhau”
D. Chúng ta không có tư cách để xét đoán vì chúng ta bị người khác xét đoán (các câu 1b-2).
1. Trở lại phân đoạn Kinh thánh của chúng ta, chúng ta được nhắc nhớ rằng chúng ta không nên "xét đoán...để mình khỏi bị đoán xét". Chúa tiếp tục phán: "Vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy"
2. Đây là một trong các phân đoạn, rất khó biết chính xác phân đoạn đó nói cái gì. Có người cho rằng phân đoạn nầy đề cập tới sự phán xét của Đức Chúa Trời, nhưng tôi tin phân đoạn nầy nói tới sự phán xét mà người ta đã có đối với nhau. 
3. Nếu quí vị mau mắn chỉ trích, phê phán và đưa ra sự phê phán đối với người khác, quí vị có thể cuộc rằng đổi lại sẽ có những người đứng ra chỉ trích và xét đoán quí vị. Mặt khác, nếu quí vị giàu ơn, tha thứ, và nhẫn nhục, quí vị có thể sẽ được lại y như thế.
4. Chúa Jêsus đã phán trong Luca 6.36-38: "Hãy thương xót như Cha các ngươi hay thương xót. Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét; đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án; hãy tha thứ, người sẽ tha thứ mình. Hãy cho, người sẽ cho mình; họ sẽ lấy đấu lớn, nhận, lắc cho đầy tràn, mà nộp trong lòng các ngươi; vì các ngươi lường mực nào, thì họ cũng lường lại cho các ngươi mực ấy”.
E. Chúng ta không có tư cách để xét đoán vì chúng ta không thể trông thấy rõ ràng đủ để xét đoán (các câu 3-4).
1. Tôi chẳng có gì phải hồ nghi khi Chúa Giêxu đã sử dụng phép ẩn dụ nầy theo một phương thức hóm hỉnh. Tôi sẽ cuộc rằng đã có nhiều người bật cười trong đám đông khi Chúa Jêsus chia sẻ vấn đề nầy.
2. Quí vị có thể hình dung ra một người với cái “rác” trong mắt mình khi chịu người khác xét đoán  với “cây đà” hay một tấm ván lớn lòi ra từ chính con mắt của người ấy! Mẹ tôi nói: "Người phê bình lại cũng là người đáng bị phê bình” (lươn ngắn lại chê chạch dài)
3. Chúa Jêsus đang nói rằng người nào xưng nhận quyền chỉ trích và xét đoán anh em mình có một tội lỗi  trong đời sống còn lớn lao hơn bất kỳ thứ gì người tìm thấy trong đời sống của người khác, nhưng người không biết sự ấy. Trong khi người đi vòng quanh để xem xét con mắt của người khác để tìm cái “rác”, người không để ý thấy “cây đà” trong mắt mình. 
4. Hết thảy chúng ta đều biết rõ phần mô tả nầy phù hợp với ai rồi. Họ luôn luôn có điều chi đó khá tiêu cực và hay có tính phê phán người khác. Họ không nhìn biết điều đó, còn người khác thì lẫn tránh họ vì tật xấu nầy. Tôi hình dung khi họ nói về ai đó, họ sẽ chừa tôi ra!
5. “Cây đà” là gì trong con mắt của người có tánh xét đoán? Tội trọng nầy là tội gì mà họ hay quên thế? Ấy là thiếu tình yêu thương đối với người khác.
6. Một người có thái độ hay phê phán, sự họ thiếu tình yêu thương dành cho người khác không thể thấy rõ ràng được. 
Tuần nầy tôi có đọc một câu chuyện nói về một phụ nữ, bà nầy bước vào khu chung cư ở một thành phố lớn. Ở phía ngoài cửa sổ là một toà nhà khác và một khu chung cư khác. Hết ngày nầy qua ngày khác bà ta nhìn thấy người đờn bà sinh sống trong toà nhà đó. Bà nhìn thấy người kia đọc sách, xem TV, và ăn uống trong bếp. Rồi thời gian qua đi, bà ta để ý khó mà nhìn thấy người đờn bà kia nữa. Bà nghĩ: "Người đờn bà nầy làm biếng đến độ không chùi sạch chiếc cửa sổ". Điều nầy nhắc cho bà ta nhớ rằng chính bà ta cũng chưa lau sạch mấy cái cửa sổ của mình. Khi bà ta lau sạch mấy khung cửa sổ của mình rồi, bà ta lấy làm lạ khi nhìn thấy thật rõ người đờn bà kia. 
7. Khi tầm nhìn của chúng ta bị giới hạn, chúng ta không thể nhìn thấy rõ đủ để xét đoán ai đó.
Tuần lễ nầy tôi đến xem một trận bóng chày ở Amarillo Dillas. Tôi thích các trận đấu bóng lắm. Tôi thích reo hò khi các trọng tài phân xử lỗi của cầu thủ khi có chơi xấu. Ở cuối hiệp thứ chín, tôi nhìn thấy cầu thủ bị trọng tài xử phạt không đúng. Thực ra, mọi người quan sát đều nhất trí với tôi, họ reo hò inh ỏi! Tuy nhiên, tôi phải nhìn nhận rằng, có một tấm lưới và khoảng 130 feet của chỗ đứng giữa sân bóng và tôi. Viên trọng tài đang đứng ngay vị trí đó. Tôi ghét lắm không muốn nhìn nhận sự việc đó, không một ai ở chỗ đứng có đủ tư cách để phán xét vì từ chỗ đứng quí vị không thể nhìn thấy rõ ràng.
III. TÔI CÓ THỂ THẮNG HƠN SỰ XÉT ĐOÁN BẰNG CÁCH NÀO? (Câu 5).
A. Học xử lý với chính tội lỗi của mình.
1. Chúa Jêsus gọi người có tính hay xét đoán là “giả hình”. Quí vị nhớ rằng cách định nghĩa từ nầy nguyên thủy có ý nói tới một nghệ sĩ, là người đóng một vai diễn. Từ nầy nói tới người nào không đáng tin cậy. Khi quí vị xét đoán người khác, quí vị là một kẻ giả hình vì quí vị đang có một tội lỗi trong chính đời sống của quí vị. Giacơ 1.23-24 chép: "Vì, nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo thì khác nào người kia soi mặt mình trong gương, thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào".
2. Giờ đây hãy chú ý từ ngữ nầy trong câu 5, "trước hết". Bước “trước hết” để thắng hơn sự xét đoán là phải công nhận tình trạng giả hình của chính chúng ta. Hãy nhìn vào tính kiêu ngạo, không dung thứ, dửng dưng, vô ơn, tư dục bên trong, tham ăn của chính chúng ta...trước khi tìm kiếm lỗi lầm của người khác.
3. Chúa Jêsus nói rằng việc đầu tiên chúng ta phải làm trước khi tìm kiếm tội lỗi nơi người khác là phải "dời đi cây đà khỏi mắt ngươi". Hãy nhớ, cây đà ấy chính là tinh thần hay chỉ trích, đạo đức giả. 
4. Chẳng có một điều chi bất kỉnh hơn tinh thần hay phê phán đó. Trước khi quí vị có thể thắng hơn nan đề hay xét đoán, quí vị phải nhìn biết rằng quí vị đang có tinh thần đó. Quí vị phải nhìn vào tấm gương của Lời Đức Chúa Trời và nhìn thấy "cây đà" ấy, chính là tội lỗi.
Nhà giải kinh nổi tiếng, G. Campbell Morgan đã viết: "Ngài không phán: 'Ngươi phải nhìn thấy rõ ràng hạt bụi', mà Ngài phán: 'Ngươi phải nhìn thấy rõ ràng để lấy nó ra'. Người có cây đà là người đang tìm kiếm hạt bụi, và đã trông thấy nó. Hãy chú ý câu hỏi: 'Tại sao ngươi trông thấy hạt bụi?' Ngươi chỉ trích, công kích nó, nhưng ngươi không lấy nó ra. Hãy lấy cây đà ra khỏi mắt của ngươi đi, hãy cất bỏ tánh hay phê phán, hãy cất bỏ nổ lực bất kỉnh và không giống như Đấng Christ kia đi, để thấy hạt bụi bị hủy diệt và rồi ngươi sẽ nhìn thấy rõ ràng, không phải là hạt bụi, mà là cách để cất bỏ nó"
5. Nếu việc tìm ra tội lỗi nơi  đời sống của ai đó làm cho quí vị cảm thấy tốt lành hay siêu việt về chính đời sống của mình, quí vị vẫn đang có “cây đà” trong mắt mình.
6. Nếu tội lỗi nơi đời sống của ai đó là điều quí vị thích bàn bạc thì thầm với người khác, quí vị vẫn có một “cây đà” trong mắt mình.
7. Nếu tội lỗi nơi đời sống của ai đó khiến cho quí vị hoàn toàn tránh né họ, quí vị vẫn có “cây đà” trong mắt mình. 
8. Nếu mọi sự quí vị nhìn xem họ là tội lỗi của họ, quí vị vẫn có một “cây đà” trong mắt mình.
9. HÃY XƯNG RA tinh thần hay phê phán của quí vị. Hãy để cho Đức Chúa Trời phá vỡ tấm lòng của quí vị. Quí vị sẽ không bao giờ giúp chi được với “cái rác” cho tới chừng nào quí vị gỡ “cây đà” của mình ra.
B. Học biết dịu dàng và mềm mại hơn trong khi đối xử với người khác. 
1. Chúa Giêxu phán rằng một khi “cây đà” được dời đi khỏi mắt quí vị, quí vị có thể nhìn thấy "rõ ràng để dời cái rác ra khỏi mắt anh em các ngươi"
2. Chúng ta đang xử lý với các vấn đề nhạy cảm ở đây. Chúng ta đang nói về “cái rác” trong mắt của ai đó, chớ không phải một nốt ruồi ở trên lưng của họ!
3. Phaolô đã nói ở Galati 6.1-2: “Hỡi anh em, vì bằng có người nào tình cờ phạm lỗi gì, anh em là kẻ có Đức Chúa Trời, hãy lấy lòng mềm mại mà sửa họ lại; chính mình anh em lại phải giữ, e cũng bị dỗ dành chẳng. Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ".
4. Châm ngôn 27.6 chép: "Bạn hữu làm cho thương tích, ấy bởi lòng thành tín". Khi nhà giải phẫu cắt bỏ để chữa lành chớ không phải để làm cho bị thương. Hãy biết rằng khi quí vị trao đổi với người bạn về tội lỗi của người, quí vị sẽ làm tổn thương người. Hãy biết chắc rằng quí vị đang cầm một con dao mổ lời nói của quí vị chỉ với dự định chữa lành mà thôi. 
5. Êphêsô 4.15 chép chúng ta cần phải "lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật". Nói ra “lẽ chơn thật” là một việc. Còn “lấy lòng yêu thương” khi nói ra lẽ chơn thật hoàn toàn là một việc khác. 
C. Học biết xử lý với các tín hữu khác như gia đình.
1. Hết thảy chúng ta đều gọi theo danh của Đấng Christ, chúng ta có một chỗ trong gia đình của Đức Chúa Trời, là thân thể của Đấng Christ. Hết thảy chúng ta đều có một chỗ nơi bàn tiệc của Chúa. Vì chúng ta sẽ sống trong cõi đời đời với nhau, chúng ta càng phải động viên nhau càng hơn nữa ở đây. “Sống cao đẹp với các thánh đồ mà chúng ta ưa thích, đấy sẽ là ân điển và vinh hiển. Còn sống thấp kém hơn các thánh đồ mà chúng ta nhìn biết, đấy sẽ là một câu chuyện khác”.
2. Anh chị em chúng ta trong Chúa đều bị người thế gian phê phán, xét đoán, gắn nhãn cho họ. Họ chẳng cần bất cứ điều chi nữa từ bên trong Hội thánh!
3. Hết thảy chúng ta đều đang vật vã với những thử thách khác nhau. Hết thảy chúng ta đều có những tính khí khác nhau. Hết thảy chúng ta đều có những vị giác và phong cách khác nhau. Hết thảy chúng ta đều có lai lịch khác nhau. Căn bịnh: NHỮNG DỊ BIỆT CỦA CHÚNG TA KHIẾN CHO CHÚNG TA XUNG ĐỘT. Đơn thuốc: HÃY UỐNG NHIỀU ÂN ĐIỂN VÀ TÌNH YÊU THƯƠNG MỖI NGÀY.
4. Lần tới, một trong các anh chị em của quí vị ghi dấu để kiểm điểm quí vị hay làm một việc gì khiến cho quí vị bị sốc, hãy suy nghĩ trước khi quí vị nói. Hãy cầu nguyện cho họ. Hãy chỉ cho họ thấy chính ân điển và tình yêu mà Đức Chúa Trời tỏ ra cho quí vị khi quí vị phạm tội.
D. Học biết chìa khóa là sự phục hồi, chớ không phải là xét đoán.
1. Có bao nhiêu lần gặp gỡ, ngồi lê đôi mách, than phiền, những nét cau mày nhìn xuống giúp cho ai đó thắng hơn nan đề của họ? Không bao giờ có đâu! Chúng ta chỉ gia thêm gánh nặng cho họ mà thôi.
2. Trong Giăng 8, chúng ta thấy câu chuyện nói về người đờn bà bị bắt quả tang phạm tội tà dâm. Sau khi xử lý với những người muốn xét đoán người đờn bà nầy, Chúa Jêsus đã phục hồi cho bà ta.
3. Đức Chúa Trời vui thích trong việc phục hồi những chiếc bình bị vỡ. Thực ra, hết thảy chúng ta đều là những chiếc bình bị vỡ. Đừng phạm tội ném ra những hòn đá vào nơi mà Đức Chúa Trời đang phục hồi.
(ĐƯA RA MỘT HÒN ĐÁ NHỎ ĐỂ NHẮC CHO CHÚNG TA NHỚ ĐỪNG NÉM CHÚNG RA).