Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

Bài 37: Mathiơ 10:16-23: "Đời Sống Của Một Môn Đồ"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Đời sống của một môn đồ
Mathiơ 10:16-23
1. Đâu là khác biệt giữa tín đồ và môn đồ?
A. Tín đồ là người đã được cứu hay đã được sanh lại. Người nầy có thể đến nhóm hay không nhóm đều đặn với Hội thánh. Có thể người nghiên cứu hay không nghiên cứu Kinh thánh, cầu nguyện, dâng phần mười và các thứ của dâng... Chúa Jêsus là một phần trong đời sống của người nầy. Hầu hết trong quí vị đều là tín đồ rồi.
B. Môn đồ là người đầu phục trọn vẹn vâng theo Chúa Jêsus trong từng chi tiết của đời sống mình. Chúa Jêsus không phải là một phần trong đời sống của người, Chúa Jêsus là sự sống của người. "Môn đồ" có nghĩa là "người học việc". Theo Tân ước, môn đồ từ bỏ mọi sự để bước theo thầy của mình. Một số trong quí vị là môn đồ.
C. Tôi muốn quí vị nên dừng lại một phút rồi hãy hỏi Đức Chúa Trời câu nầy: "Con là tín đồ hay con là môn đồ?" Tôi tin Đức Thánh Linh sẽ tỏ ra câu trả lời cho quí vị ngay.
2. Mathiơ 10 đang nói về Chúa Jêsus đang ủy thác cho các môn đồ đầu tiên của Ngài ra đi và phục vụ cho Ngài. Ngài đã ban cho họ nhiều nguyên tắc vẫn còn áp dụng cho chúng ta  ngày nay.
3. Mathiơ 10 là một lời tiên tri thu gọn. Ở đó có cả sự ứng nghiệm ngay tức thì và trong tương lai. Nói cách khác, phân đoạn nầy không những phác hoạ ra công cuộc truyền giáo ngắn hạn của các môn đồ trong xứ Galilê, mà còn phác hoạ ra chức vụ trọn vẹn của họ nữa, kể cả những người sẽ trở thành môn đồ của Ngài ao ước sau khi chết thậm chí trong biến cố Cơn Đại Nạn trong tương lai. Phân đoạn Kinh thánh nầy không miễn trừ nhận định nầy.
4. Từ những câu nầy, chúng ta hãy xét qua phần ví sánh về các môn đồ, thái độ của các môn đồ, sự bắt bớ, sự tiếp trợ, sự thù ghét và phản ứng của các môn đồ.
I. MỘT VÍ SÁNH VỀ CÁC MÔN ĐỒ (câu 16a).
A. Chúa Jêsus so sánh tín đồ với "Chiên".
1. Hãy lưu ý rằng Chúa Jêsus bắt đầu phần sứ điệp nầy của Ngài với từ ngữ: "Kìa". Thực ra, Ngài đang phán: "Hãy tỉnh thức! Hãy nghe đây! Hãy chú ý tới những điều ta sắp phán ra đây".
2. Chúa Jêsus phán: "Ta sai các ngươi đi khác nào như chiên vào giữa bầy muông sói". Từ những gì chúng ta đọc thấy trong 9.36, chúng ta nên nghĩ Ngài đang phán: "Ta sai các ngươi đi ra giống như những người chăn giữa bầy chiên vậy".
3. Về thuộc thể, tôi không thể hiểu nổi Chúa Jêsus đang nói tới chúng ta như "chiên" được.  Chiên là loài vật ngu dốt. Chiên ăn bất cứ loại rau cỏ nào, thậm chí loài thực vật độc nữa, vì thế chúng cần phải được chăn giữ. Chúng có thể bị hại đến chỗ cùng cực trong thời tiết, dễ bị nhiểm trùng và tật bịnh. Bầy muỗi bay vo ve quanh đầu của chúng, chích đau chúng và đôi khi chúng cụng đầu vào cây cối hay vầng đá cho tới khi chúng chết đi nữa. Chúng sẽ bỏ chạy tán loạn khi mường tượng ra nguy hiểm rồi đâm đầu xuống dốc núi và cứ bỏ chạy cho tới chừng nào chúng kiệt sức mà chết thì thôi. Mục tiêu là: Chiên cần sự quan phòng thường xuyên.
4. Mặc dù chúng ta không thích lối ví sánh như thế, trong mối quan hệ của chúng ta với Chúa, sự so sánh về "chiên" là cực kỳ chính xác. Trong nhiều phương thức, chúng ta rất dại dột về mặt thuộc linh. Chúng ta trưởng dưỡng lý trí mình với những độc tố. Chúng ta hoang mang, hốt hoảng không cần thiết. Chúng ta tự bỏ chạy cách điên khùng cho tới chừng chúng ta kiệt quệ. Chúng ta ngoan cố hướng đầu mình đối nghịch với những nan đề thay vì trao phó chúng cho Chúa. Chúng ta là bầy chiên với một Đấng Chăn Hiền Lành và chúng ta phải học biết nương cậy vào sự quan phòng thường trực của Ngài.
B. Chúa Jêsus so sánh người chưa tin Chúa với "muông sói".
1. Trong xứ Palestine, cũng như trong nhiều nơi trên thế giới, những chỗ chiên sống thành từng bầy, "muông sói" chủ yếu là những con dã thú. Sống thành bầy đàn, chúng tấn công bầy chiên hãm bắt chúng rồi xé nát ra thành từng mãnh. Có khi chúng tấn công bầy chiên đang khi chúng còn ở trong ràng nữa. Nguồn bảo hộ duy nhất của bầy chiên là người chăn cùng cây trượng của người.
2. Khi muông sói tấn công bầy chiên, giống như những người vô tín thường tấn công nhiều người chúng ta trong bầy của Chúa Jêsus. Vào các thời điểm nầy, Đấng Chăn Hiền Lành của chúng ta là nguồn trông cậy duy nhất của chúng ta mà thôi.
C. Chúa Jêsus truyền cho "Chiên" của Ngài phải đi ra giữa bầy “muông sói”.
1. Hãy lưu ý, Chúa Jêsus phán: "Ta sai các ngươi đi...". Ngài cố ý đặt bầy chiên của mình vào "giữa bầy muông sói". Ngài sai bầy chiên của Ngài vào lãnh thổ của bầy sói dữ.
2. Khi chúng ta đi ra trong vai trò môn đồ của Đấng Christ để phục vụ trong thế giới của bầy sói nầy, chúng ta sẽ bị chúng tấn công.
a. Trong Công vụ các sứ đồ 20.29, Phaolô nói: "Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu".
b. Trong Roma 8.36, Phaolô nói theo quan điểm của thế gian: "Họ coi chúng tôi như chiên định đem đến hàng làm thịt”.
c. Chúa Jêsus đã cảnh cáo trong Mathiơ 7.15: "Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé".
3. Tại sao vậy? Nếu Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta, tại sao Ngài lại sai phái chúng ta vào trong một nơi mà chúng ta có thể tổn hại chứ? Câu trả lời: sở dĩ như vậy là vì đấy là chỗ chúng ta có thể hầu việc Ngài hết mức. Chúa Jêsus muốn chúng ta phải nhìn biết con đường dành cho chức vụ môn đồ là con đường khó nhọc và lắm hiểm nguy. Winston Churchill đã nói với đồng bào của mình rằng: "Mọi sự tôi có thể hiến cho đồng bào là máu, mồ hôi và nước mắt của tôi".
4. Có một chủ nghĩa MÔN ĐỒ DỄ DÀNG trong Cơ đốc giáo ngày nay. Lộ trình đến với tình trạng giống như ảnh tượng của Đấng Christ là lộ trình gian khổ, nhưng phần thưởng thì lại rất lớn.
5. II Timôthê 3.12 chép: "Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ". Tuy nhiên, sự bắt bớ có thể không là tiêu chuẩn trong đời sống chúng ta, nếu chúng ta phục theo chức năng môn đồ, thì sự bắt bớ ấy sẽ đến ngay.
II. THÁI ĐỘ CỦA CÁC MÔN ĐỒ (câu 16b).
A. Chúng ta cần phải sống "khôn khéo như rắn".
1. Theo truyền khẩu Trung Đông, cũng như trong nhiều truyền thuyết xưa, con "rắn" bị coi là giống khôn khéo và xảo quyệt nhất trong mọi loại thọ tạo. Cho nên chẳng có gì phải ngạc nhiên khi Satan nói với Êva qua thân thể của một con rắn.
2. Chúa Jêsus phán rằng chúng ta cần phải "khôn khéo như rắn". "Khôn khéo" ra từ chữ phronimos (fron'-ee-mos) có nghĩa là "suy xét cẩn thận, quyết định khôn ngoan, hay kín đáo, nghĩa là thực khôn khéo". Chữ nầy có nghĩa là rất xảo quyệt, láu cá, và linh lợi.
3. Nguyên tắc ở đây: ấy là chúng ta cần phải có thái độ của sự khôn ngoan. Chúng ta cần phải biết nói ra đúng sự việc đúng thời điểm và đúng cách. Chúng ta cần phải tế nhị, biết xử thế, và suy xét đúng đắn. Chúng ta đừng bao giờ tỏ ra khắc nghiệt, hung hăng, hay khinh suất một cách không cần thiết.
4. Côlôse 4.5 chép: "Hãy lấy sự khôn ngoan ăn ở với những người ngoại, và lợi dụng thì giờ".
5. Khi Chúa Jêsus bị cấp lãnh đạo tôn giáo trong thời ấy công kích, Ngài đã ăn nói trong sự khôn ngoan và dè dặt, đừng bao giờ rơi vào cảnh giận dữ mất kềm chế.
6. Cho phép tôi cung ứng cho quí vị một số hình ảnh về các Cơ đốc nhân bảo thủ theo quan điểm của thế gian, không đi nhà thờ và chưa được cứu:
a. Những người đang gào thét ở bên ngoài các bịnh viện chuyên về nạo thai.
b. Những kẻ giả mạo và hạng lang băm với lớp mỹ phẩm xảo quyệt tô điểm gương mặt của họ.
c. Những vị Mục sư và giáo sĩ chuyên thăm viếng gái mãi dâm và bay  trên loại phản lực gợi dục chứ không chìa những tấm ngân phiếu an sinh xã hội giúp đỡ cho những bà lão già yếu.
7. Nếu chúng ta có thể tiếp cận với người chưa được cứu và người không đi nhà thờ, chúng ta phải khôn khéo đủ để trình bày cho họ thấy một hình ảnh khác biệt. Chúng ta phải biết cách yêu thương họ để đưa họ đến với Nước Trời.
B. Chúng ta phải "đơn sơ như chim bồ câu".
1. "Bồ câu" luôn luôn là biểu tượng cho sự thanh sạch. "Đơn sơ" có nghĩa là "vô tội".
2. Thậm chí dù chúng ta hành động trong phương thức xảo quyệt tinh vi lúc chìa tay ra, chúng ta cũng phải giữ lòng thanh sạch. Chúng ta đừng thêm hay bớt gì nơi sứ điệp tin lành. Có nhiều nhà thờ đã làm như thế.
3. Chúng ta không cần phải khắc nghiệt quá khi đưa người ta đến với Đấng Christ, nhưng chúng ta cần phải thanh sạch (I Côrinhtô 9.19-22).
4. Chúng ta cần sự thanh sạch nơi cách xử sự của chúng ta ở trước mặt thế gian. Hêbơrơ 7.26 truyền cho chúng ta phải sống giống như Chúa Jêsus "Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm”, Ngài kà:...thánh, vô hại, không ô uế, phân rẽ với hạng tội nhân...". Quí vị không thể làm chứng cho Nước Trời trừ phi quí vị chịu sống theo một cung cách sống chân thực.
C. Chúng ta đang nhìn thấy tấm gương về thái độ trong đời sống của Phaolô (Công vụ các sứ đồ 23.1-5).
III. SỰ BẮT BỚ CỦA CÁC MÔN ĐỒ (các câu 17-18).
A. Một lời cảnh báo về sự bắt bớ (câu 17a).
1. Chúa Jêsus cảnh cáo chúng ta phải "coi chừng người ta". "Coi chừng" có nghĩa là phải cẩn thận, phải dè chừng, sẵn sàng, quan sát, không cả tin.
2. Mặc dù Kinh thánh dạy chúng ta phải "coi chừng người ta", kẻ thù thực sự của chúng ta là Satan cùng các thế lực tối tăm của hắn. Êphêsô 6.12 chép: "Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy".
3. Hạng người mà chúng ta phải “coi chừng” là hạng người biết hay không biết mình chỉ là  quân “chốt thí” của Satan mà thôi.
B. Sự bắt bớ sẽ đến từ phía Tôn giáo (câu 17b).
1. Chúa Jêsus bảo các môn đồ Ngài rằng họ sẽ bị nộp trước "toà án" và sẽ bị "đánh đòn” trong “nhà hội".
2. Trong từng ngôi làng Do thái đã có một ngôi nhà dành cho sự thờ phượng, một nhà hội. Những toà nhà nầy được dùng làm nơi nhóm lại của toà án. Người ta đem đặt bị cáo trước toà của cấp lãnh đạo tôn giáo, họ đưa ra bản nghị án, giảm án, và phán quyết về hình phạt.
3. Thường thì hình phạt là "đánh đòn", 39 roi cộng với một roi như đã được mô tả ở Phục truyền luật lệ ký 25.3. Thay vì dâng hiến 40, họ đã dâng 39 để tỏ ra sự tử tế. Một vị quan án sẽ quất roi đang khi người khác sẽ đếm.
4. Saulơ người Tạtsơ, đã trở thành sứ đồ Phaolô, ông đã được mời tới dự trong những lần ra đòn và đánh đập như thế. Ông đã nói trong Công vụ các sứ đồ 22.19, "Tôi thưa rằng: Lạy Chúa, chính họ biết tôi từng bỏ tù những người tin Chúa và đánh đòn trong các nhà hội nữa". Về sau chính mình ông lại bị đánh đòn. Ông đã nói trong II Côrinhtô 11.24: "năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục".
5. Kinh thánh và lịch sử dạy cho chúng ta biết rằng hầu hết các môn đồ đầu tiên đều đã đối diện với những lần đánh đòn như vậy và đã tuận đạo trong khi rao giảng Tin lành.
6. Kể từ thời của Đấng Christ, tôn giáo là kẻ bắt bớ thường xuyên của những tín đồ thật.
a. Chính mình Chúa Jêsus đã bị hạng người tôn giáo đánh đòn và đem đóng đinh trên thập tự giá.
b. Hội thánh đầu tiên đã đối diện với sự bắt bớ lớn lao nhất từ các cấp lãnh đạo tôn giáo người Do thái.
c. Trong những kỷ nguyên tăm tối, các môn đồ thực đã bị Hội thánh Rôma trục xuất và bắt bớ.
d. Những vị anh hùng đức tin đã phó mạng sống của họ trong kỳ Cải Chánh Tin Lành để đưa Kinh thánh và Cơ đốc giáo đến với nhiều đoàn dân đông.
e. Lịch sử Hội thánh chứa nhiều thi thể của những người tuận đạo, họ đã chết trong tay của hạng người tôn giáo.
C. Sự bắt bớ sẽ đến từ phía nhà cầm quyền (câu 18).
1. Chúa Jêsus đã phán họ sẽ bị "giải đến trước mặt các quan tổng đốc và các vua". Họ đã đối mặt với những người như Philát, Phêlít, và Phêtu, “các quan tổng đốc" người La mã. Họ đã đứng trước mặt "các vua" như At-ríp-ba, Hêrốt Antipa và nhiều người khác nữa.
2. Hãy chú ý cách cẩn thận là Chúa Jêsus đã phán họ sẽ bị giải đi "vì cớ Ta". Người thế gian thù ghét Đấng Christ rồi ví cớ đó, họ thù ghét mỗi một tín đồ thực của Đấng Christ.
3. Chúng ta càng trở nên giống với Chúa Jêsus, chúng ta sẽ càng bị người thế gian miệt khinh. Cơ đốc nhân xác thịt, theo đời nầy chẳng có chút gì sợ hãi đối với người thế gian. Tuy nhiên, khi chúng ta bước theo Chúa Jêsus và trở thành hạng môn đồ chân chính, chúng ta sẽ đối mặt với sự bắt bớ. Hãy lưu ý lời lẽ của Chúa Jêsus trong Giăng 15.18-21.
4. Tuần lễ nầy tôi có đọc thấy trong nhiều quốc gia như Trung hoa, đã có thêm nhiều sự bắt bớ Cơ đốc nhân trong 30 năm trở lại đây hơn các phần còn lại của lịch sử. Sự bắt bớ ấy có thể xảy đến tại xứ sở nầy. Ngày nay, về mặt chính trị khi bắt bớ bất kỳ nhóm nào ngoại trừ Cơ đốc nhân đều là không đúng. Ngày nay Đấng Christ đã bị dời đi ra khỏi trường học và chỗ công cộng, ngày mai họ tìm cách đời Ngài ra khỏi nhà thờ và gia đình. Đây là những dấu hiệu nói tới thời điểm...
            Thomas J. Watson đã viết: "Nếu quí vị trổi dậy và bị đếm số (như võ sĩ quyền anh), từng hồi từng lúc quí vị sẽ thấy mình bị đánh gục, nhưng hãy nhớ: một người bị những thứ luật lệ định sẵn làm cho bẽ mặt cứ cương quyết vì cớ điều lành".
IV. SỰ TIẾP TRỢ CHO CÁC MÔN ĐỒ (các câu 19-20).
A. Nếu và khi chúng ta bị giải đến trước các bậc cầm quyền, chúng ta không nên "lo" chi hết! Chúng ta không phải lo về "cách nói làm sao". Nói cách khác: "Đừng lo về điều các ngươi sẽ nói". Chúng ta không nên tìm cách thuyết phục người khác về tình trạng vô tội của chính chúng ta.
B. Chúa Jêsus nói cho chúng ta biết rằng "vì những lời đáng nói sẽ chỉ cho các ngươi chính trong giờ đó". Câu 20 tiếp tục nói rằng: "Thánh Linh của Cha các ngươi [của chúng ta]" sẽ từ trong lòng các ngươi nói ra qua chúng ta.
C. Khi Phierơ và Giăng bị những kẻ bắt bớ người Do thái ra lịnh không được nói tới Chúa Jêsus nữa, họ đã nói: "Nhưng Phierơ và Giăng trả lời rằng: Chính các ông hãy suy xét, trước mặt Đức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng? Vì, về phần chúng tôi, không có thể chẳng nói về những điều mình đã thấy và nghe" (Công vụ các sứ đồ 4.19-20).
D. Một số bằng chứng quan trọng nhất ra từ môi miệng của những người tuận đạo trước khi họ chết. (sứ điệp của Êtiên trong Công vụ các sứ đồ 7.51-60).
V. THÁI ĐỘ THÙ GHÉT CÁC MÔN ĐỒ (các câu 20-21).
A. Thù ghét có thể đến từ phía gia đình (câu 21).
1. Chúa Jêsus phác hoạ ra một thời kỳ khi các thành viên trong gia đình, "anh...", "cha" và "con cái..." sẽ "nộp... [các thành viên trong gia đình] cho đến chết".
2. Hãy chú ý lời lẽ của Chúa Jêsus trong các câu 34-36.
3. Trong các sự bắt bớ của người La mã và thế kỷ thứ hai và thứ ba, vô số thuộc viên Cơ đốc nhân đã bị giao cho nhà cầm quyền say máu giết người.
4. Ngày nay ở Trung hoa, ở đó Cơ đốc giáo dưới lòng đất đang được rao giảng rất nhanh chóng, nhiều người bị thành viên trong gia đình họ đem nộp cho nhà cầm quyền.
5. Năm ngoái tôi đến giảng cho hai gia đình  Cơ đốc. Họ đến làm việc tại quốc gia theo Hồi giáo là Saudi Arabia. Họ phải rất cẩn trọng về ai đang hiện diện khi họ nghiên cứu Kinh thánh.
B. Thù ghét đến từ phía xã hội (câu 22).
1. Khi Chúa Jêsus phán chúng ta sẽ bị "thiên hạ ghen ghét". Ngài không có ý nói tới từng người chưa tin Chúa, mà nói tới người chưa tin Chúa, nói chung.
2. Chúa Jêsus phán chúng ta sẽ bị thù ghét "vì cớ danh ta". Thế giới vô tín sẽ không khinh dễ quí vị vì màu da, văn hoá, hay khả năng tài chính của quí vị. Tuy nhiên, họ sẽ nhạo báng quí vị vì cớ đức tin quí vị đặt nơi Chúa Jêsus.
3. Phaolô đã nói trong I Côrinhtô 4.9: "Vì chưng Đức Chúa Trời dường đã phơi chúng tôi là các sứ đồ ra, giống như tù phải tội chết, làm trò cho thế gian, thiên sứ, loài người cùng xem vậy".
4. Chúng ta nhận ra đức tin chân thật nơi Đấng Christ bằng cách nào? Chúa Jêsus phán: "song ai bền lòng cho đến cuối cùng, thì sẽ được rỗi". Chịu đựng sự bắt bớ không kiếm được sự cứu rỗi, sự ấy rất là rõ ràng!
5. Khi sự bắt bớ đến với một quốc gia hay một Hội thánh, ai là Cơ đốc nhân theo mặt văn hoá sẽ lui đi hết. Chỉ có người nào thực sự nhìn biết Đấng Christ sẽ còn ở lại. Hãy lưu ý Rôma 8.35, 37-39.
VI. PHẢN ỨNG CỦA CÁC MÔN ĐỒ (câu 23).
A. Chúa Jêsus phán: "Khi nào người ta bắt bớ các ngươi trong thành nầy, thì hãy trốn qua thành kia".
1. Những người tin Chúa không cố ý tìm kiếm sự bắt bớ đâu. Chúng ta đừng bao giờ thử chịu đựng sự bắt bớ vì cớ có sự bắt bớ.
2. Chúng ta không bị buộc phải ở lại trong chỗ nguy hiểm cho tới chừng chúng ta bị bắt bỏ tù và bị giết.
3. Phaolô và nhiều sứ đồ khác đã noi theo nguyên tắc nầy suốt trong chức vụ của họ. Họ đã chịu đựng sự bắt bớ chỉ để tiếp cận với người khác mà thôi.
B. Tất cả các tín đồ đều noi theo sự dạy nầy "cho tới khi Con Người đến". Đây là phần tham khảo tới 144.000 người Do thái tin theo Đấng Mêsi, họ sẽ rao giảng Tin lành trong kỳ đại nạn. Tuy nhiên, cho tới chừng Chúa Jêsus đến để cứu chúng ta, chúng ta hãy trở thành hạng môn đồ trung tín.
PHẦN KẾT LUẬN:
Có một sự khác biệt giữa việc làm một tín đồ và làm một môn đồ. Quí vị là ai nào? Nếu quí vị được kêu gọi phải trả giá vì cớ đức tin của mình, thì quí vị có chịu trả giá không?

***

Bài 36: Mathiơ 10:1-15: "Hạng Người Trong Công Cuộc Truyền Giáo"



MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Hạng người
trong công cuộc truyền giáo
Mathiơ 10:1-15
1. Ở cuối chương 9, chúng ta đọc thấy những lời lẽ nổi tiếng của Chúa Jêsus về "mùa gặt" trong các câu 37-38. Chúa Jêsus phán với các môn đồ Ngài rằng: "Mùa gặt thì thật trúng, song con gặt thì ít". Nói cách khác, Đức Chúa Trời đã sửa soạn mọi sự quanh chúng ta ở mọi thời đại, để gặt lấy con người, Ngài kéo họ ra để cho họ được cứu. Vấn đề ở đây, ấy là có ít Cơ đốc nhân bằng lòng làm “con gặt”, có ít người bằng lòng làm chứng nhân để thuật lại cho dân “sẵn lòng” nầy biết về Chúa Jêsus. Thực ra, Chúa Jêsus tiếp tục dạy dỗ các môn đồ Ngài nên "cầu xin chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình". Từ những câu đi trước, tôi tiếp thu ý kiến cho rằng họ đang đứng bên sườn núi nhìn xuống thành phố hay nhìn xuống đoàn dân đông kia. Mặc dù điều nầy đặc biệt không được nhắc tới, tôi đoán hết thảy họ đều quì gối xuống và Chúa Jêsus hướng dẫn họ cầu xin cho có những "con gặt" ngay khi đó.
2. Suốt cuộc đời tôi, tôi đã nghe mấy câu nầy được sử dụng trong vô số bài giảng và các bài học Kinh thánh dạy cho nhân sự biết cầu xin Đức Chúa Trời kêu gọi thêm nhiều vị Mục sư, Truyền đạo, các Nhà truyền giáo cùng những vị Giáo sĩ. Vì một lý do nào đó, chúng ta kết từ ngữ “con gặt” với những vị Mục sư chuyên nghiệp. Mặc dù Đức Chúa Trời chắc chắn đang kêu gọi những con người đặc biệt bước vào các công trường truyền giáo đặc biệt, tôi tin mấy câu nầy đã được áp dụng cho con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta cần phải cầu xin Đức Chúa Trời “sai phái” từng con cái của Đức Chúa Trời.
3. Tới điểm nầy, Chúa Jêsus đã một mình phục sự. Mười hai môn đồ đã theo Ngài nhưng chẳng tham dự vào chức vụ của Ngài, họ giống như những sinh viên và quan sát viên mà thôi. Trong khi dạy họ phải cầu xin về "con gặt", Chúa Jêsus đã kêu gọi họ phải trở thành “con gặt”.
4. Tôi chưa nhấn mạnh đủ về tầm quan trọng thiết thực của sự cầu nguyện trong công cuộc truyền giáo. Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ cầu xin Đức Chúa Trời sai phái nhân sự đi ra để thuật cho kẻ bị hư mất biết về Chúa Jêsus, nhưng tự chúng ta chưa sẵn lòng để làm chứng cho Ngài, những lời cầu nguyện của chúng ta là không thành thật và giả hình. Nếu chúng ta có lòng chân thành quan tâm đến kẻ bị hư mất, chúng ta cũng sẽ cầu nguyện bằng những lời cầu nguyện xưa kia do tiên tri Êsai thốt ra: "Có tôi đây! Xin hãy sai tôi” (Êsai 6.8).
5. Từ mấy câu nầy, chúng ta sẽ tiếp nhận sự dạy mà Chúa Jêsus đã ban ra cho các môn đồ Ngài về công cuộc truyền giáo ngắn hạn tại xứ Galilê. Tuy nhiên, các nguyên tắc cơ bản của chức vụ được thấy ở đây là rất phổ thông và áp dụng cho từng chức vụ hôm nay.
I. CHÚA JÊSUS KÊU GỌI CÁC MÔN ĐỒ NGÀI (các câu 1a, 2-4).
A. Chúa Jêsus đã ký thác tin lành cho các môn đồ Ngài (câu 1a).
1. Động từ theo sau chữ "gọi" rút ra từ chữ proskaleo (pros-kal-eh'-o) sát nghĩa là "gọi trước".
2. Về mặt thực tế, chữ nầy có một ý nghĩa sâu sắc hơn. Nó có nghĩa là: "kêu gọi ai đó đến gặp hầu cho giáp tận mặt". Trong quân đội, nó có nghĩa là báo cáo cho cấp trên các thứ lịnh lạc.
3. Khi câu nầy nói rằng Chúa Jêsus: "gọi mười hai môn đồ đến", gọi như thế không phải để nói chuyện tùy tiện đâu. Gọi như thế với mục đích nhận lịnh lạc, để được uỷ nhiệm công vụ. Hãy chú ý trong câu 1, họ được gọi là "mười hai môn đồ" nhưng trong câu 2 họ được gọi là: "mười hai sứ đồ". "Môn đồ" là những người học việc; "sứ đồ" là những người được sai đi. "Môn đồ" là những học viên. "Sứ đồ" là các giáo sĩ. Chúa Jêsus đã ký thác cho họ với một chức vụ riêng biệt.
4. Cũng một thể ấy, Chúa Jêsus ký thác cho từng tín đồ với đặc ân trở thành một con gặt (Mathiơ 28.19-20; Công vụ các sứ đồ 1.8). Hãy đưa ra những câu hỏi quan trọng nầy: “Tôi có minh chứng mình xứng đáng với sự tin cậy của Chúa Jêsus chưa? Tôi có chịu ra đi không?
5. Chúng ta là một Hội thánh ai cũng biết là đang dạy dỗ Kinh thánh. Chúng ta có sự thờ phượng, sự hiệp một, sự dạy dỗ rất trang trọng. Tuy nhiên, trừ phi chúng ta đi ra với tin lành, chúng ta chưa phải là một Hội thánh trưởng thành. Trong đời sống cầu nguyện của tôi cho Hội thánh của chúng ta, tôi dám chắc về sự thiếu lòng quan tâm đối với kẻ bị hư mất trong cộng đồng của chúng ta. Chúng ta cần phải tan vỡ với “lòng thương xót” của Chúa Jêsus dành cho kẻ bị hư mất.
B. Chúa Jêsus gọi đích danh các môn đồ (các câu 2-4).
1. Trong các câu 2-4, chúng ta thấy danh sách đầu tiên đích danh các môn đồ trong các sách Tin lành. Từng sách Tin lành cũng như sách Công vụ các sứ đồ đều có danh sách đó. Chúng ta có thể dành một số thời gian để học biết về từng nhân vật nầy, rồi chúng ta sẽ học tiếp.
2. Bảng danh sách tên tuổi của những người nầy cho tôi thấy rằng sứ mệnh nầy rất cá nhân đối với Chúa Jêsus, Ngài khiến cho số người nầy trở thành hạt nhân của Hội thánh Ngài.
3. Giống như Chúa Jêsus đang gọi đích danh các tín hữu nầy, để đi ra bước vào mùa gặt. Ngài cũng đang gọi đến tên của quí vị đấy. Nếu quí vị đã được cứu, quí vị đang có một trách nhiệm cá nhân, một lịnh lạc trực tiếp của Chúa Jêsus là phải chia sẽ sứ điệp Tin lành.
C. Chúa Jêsus gọi các môn đồ không phải vì họ ra gì đâu, mà là họ sẽ ra thể nào đấy thôi.
1. Quí vị có thể nói: "Thưa Mục sư, tôi không biết sẽ ra sao. Tôi chưa chuẩn bị. Tôi sợ cách những người nầy đáp ứng lại với tôi lắm!” Chúa Jêsus không gọi quí vị vì quí vị là ai, mà vì điều mà Ngài sẽ biến quí vị phải trở thành!
2. Mấy gã du đảng nầy thực chất chẳng có giá trị chi hết. Bản thân họ chẳng có một thứ chi để mang tới dâng cho Chúa Jêsus. Giống như người thợ gốm nơi cái bánh xe, Chúa Jêsus bắt lấy mấy người nầy rồi từ từ nắn đúc họ thành những chiếc bình đáng dụng cho Ngài!
3. Chúa Jêsus không yêu cầu chúng ta phải sống xứng đáng, có khả năng, hay có năng khiếu. Ngài chỉ yêu cầu chúng ta phải bằng lòng để được sử dụng. Còn chúng ta thì sao?
II. CHÚA JÊSUS MẶC LẤY QUYỀN PHÉP CHO CÁC MÔN ĐỒ NGÀI (Câu 1b).
A. Từ ngữ "quyền phép" trong câu 1 rút ra từ chữ exousia. Đây là một từ có nghĩa là: "quyền  theo luật pháp, pháp quyền, quyền lực". Khi một sĩ quan cảnh sát chận quí vị lại vì chạy quá tốc độ, anh ta đang sử dụng “quyền lực” hay thẩm quyền. Tôi không có thứ “quyền lực” đó.
B. Chúa Jêsus đã ban cho các môn đồ "quyền lực” mà họ không có trước đó. Họ có thẩm quyền trên "tà linh ô uế, đuổi chúng đi”. Ma quỉ giờ đây trốn tránh họ y như chúng đã trốn tránh Chúa Jêsus vậy. Họ có "quyền phép ... chữa các thứ tật bịnh". Giống như Chúa Jêsus, giờ đây họ có quyền chạm đến thân thể kẻ bịnh, và khiến thân thể ấy được lành mạnh.
C. Tại sao Chúa Jêsus lại ban cho họ các khả năng nầy? Xuyên suốt kỷ nguyên các sứ đồ, sức sống của các sứ đồ tiên khởi, Đức Chúa Trời đã ban cho con người quyền phép kỳ diệu nầy giống như "các ân tứ bằng dấu hiệu". Không một phần tham khảo nào trong Tân ước mà các dấu nầy không xác định uy quyền cho sứ điệp mà họ đang rao giảng. Đây là giấy uỷ nhiệm, là môn bài, là chứng từ, v.v...
D. Chúa Jêsus ban cho từng tín đồ uy quyền của Đức Thánh Linh. Trong Công vụ các sứ đồ 1.8, Chúa Jêsus phán: "Nhưng các ngươi sẽ nhận lãnh quyền phép khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi". Khi quí vị được cứu, quí vị sẽ chịu báptêm bởi Đức Thánh Linh và Ngài sẽ ngự trong lòng của quí vị. Ngài cư trú thường trực ở trong mỗi tín đồ. Quyền phép của Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới đang hiện hữu trong chính thân thể của quí vị.
E. Đức Chúa Trời sẽ không buộc quí vị phải làm một việc gì mà Ngài không mặc quyền phép cho quí vị lo làm. Khi Đức Chúa Trời yêu cầu quí vị phải làm chứng cho ai đó biết về Chúa Jêsus, Ngài không để cho quí vị thực thi công việc ấy bằng chính sức riêng của quí vị đâu! Đức Thánh Linh sẽ mặc lấy quyền phép cho những gì quí vị làm chứng trong danh Chúa Jêsus.
III. CHÚA JÊSUS ĐIỀU KHIỂN CÁC MÔN ĐỒ NGÀI (các câu 5-6).
A. Các môn đồ đã nhận lãnh lịnh lạc của Chúa Jêsus (câu 5a).
1. Chức vụ nầy có lẽ là truyền giáo ngắn hạn. Mác 6.7 nói rằng Chúa Jêsus sai phái họ ra đi “từng đôi một”. Chúa Jêsus cẩn thận giám sát họ. Giống như một con chim mẹ đưa bầy con của nó ra khỏi ổ an toàn. Chúa Jêsus đã sai phái họ ra đi giống như "con gặt vào trong mùa của mình".
2. Hãy lưu ý rằng trước tiên Chúa Jêsus "truyền" lịnh cho họ. "Truyền" ra từ chữ Hylạp có nghĩa là: "chuyển một thông điệp”. Bản NASV dịch từ nầy là "dạy dỗ". Đó là một từ ngữ được sử dụng trong nhiều cách thức vào thế kỷ thứ nhứt.
a. Chữ nầy nói tới lịnh lạc của viên sĩ quan cao cấp trong quân đội.
b. Chữ nầy nói tới sự triệu tập phiên toà chính thức, một trát đòi.
c. Chữ nầy nói tới một lời thề thốt giữa hai người bạn, một lời nói danh dự.
d. Chữ nầy nói tới một đơn thuốc được vị bác sĩ ghi ra cho bịnh nhân.
e. Trong từng cách dùng, chữ nầy mang ý tưởng buộc phải vâng theo.
3. Quí vị có bao giờ tìm cách làm một việc gì đó mà không có phần hướng dẫn chưa? Chúa không sai phái chúng ta vào trong mùa gặt mà không có huấn thị bao giờ. Chúng ta đến với Hội thánh để nhận lãnh lời huấn thị, nghiên cứu Kinh thánh, cầu nguyện. Chúng ta ra đi để làm chứng đạo.
B. Các môn đồ không được phép gặp người dân Ngoại mà phải đi gặp người Do thái (câu 5b-6).
1. Chúa Jêsus phán rằng khi họ ra đi, họ đừng "đi đến dân Ngoại" hoặc "vào một thành nào của dân Samari cả”. Thực ra, Chúa Jêsus đã ban cho họ một mạng lịnh đặc biệt để lo rao giảng Tin lành chỉ cho người Do thái mà thôi.
2. Phải chăng Chúa Jêsus không yêu thương   “dân Ngoại” và "người Samari"? Chắc là Chúa có yêu thương họ! Thực ra trong nhiều trường hợp Chúa Jêsus đã phục vụ cho họ. Sứ đồ Phaolô đã nói, Chúa: “đã chọn người nầy [Phaolô]  làm một đồ dùng ta, để đem danh ta đồn ra trước mặt các dân ngoại".
3. Cho phép tôi đưa ra ba lý do tại sao Chúa Jêsus đã đưa ra mạng lịnh nầy:
a. Thứ nhứt, nếu trước tiên họ đến với người không phải là người Do thái, người Do thái sẽ không tiếp rước họ.
b. Thứ hai, sẽ có khó khăn đủ để giảng đạo cho người ta theo chính văn hoá của họ, mà sứ điệp chẳng phải vượt quá các hàng rào văn hoá.
c. Thứ ba, các môn đồ cần phục vụ cho một nhóm người có hạn định. Những phần việc sẽ dễ dàng hơn khi họ là một dân đặc biệt nào đó.
4. Chúa Jêsus đã giới hạn họ chỉ "đến với chiên lạc mất của nhà Israel". Thực ra, mặc dù Ngài phục sự cho nhiều sắc tộc khác nhau, Ngài không bao giờ rời khỏi xứ Palestine. Ngài phán với một người đờn bà xứ Canaan: "Ta chịu sai đến đây, chỉ vì các con chiên lạc mất của nhà Ysơraên đó thôi" (Mathiơ 15.24).
C. Mặc dù Sứ Mệnh Cao Cả rất phổ thông và bao quát, địa chỉ của chúng ta rất là đặc biệt và cá nhân.
1. Nếu Chúa Jêsus có một phần việc đặc biệt, nhất định, nếu Ngài ban cho các môn đồ Ngài một phần việc đặc biệt, nhất định, thì chúng ta càng phải cần tới một phần việc đặc biệt, nhất định là dường nào!
2. Nguyên tắc nầy áp dụng cho Hội thánh chúng ta. Bất cứ một chức vụ nào mà không có các mục tiêu trước, sau thì chỉ là chức vụ tầm thường mà thôi. Những chức vụ không có mục tiêu là loại chức vụ thấp kém. Chúng ta cần phải nhắm mọi nổ lực của mình vào việc tiếp cận với hạng người đặc biệt nào đó. Tôi tin rằng nhóm người đó là những gia đình chưa tin Chúa.
3. Nguyên tắc nầy áp dụng cho từng cá nhân Cơ đốc. Quí vị không thể làm hết mọi việc được đâu! Quí vị không thể dạy một lớp học, lái xe bus, hát trong ca đoàn, phục vụ 5 ban ngành, năng động trong sự thăm viếng – chứng đạo, rồi lãnh đạo một câu lạc bộ Kinh thánh Tiền Phong và có hiệu quả. Hãy xét lại các ân tứ thuộc linh của quí vị đi! Hãy cầu xin Đức Chúa Trời hướng dẫn cho quí vị đến với những chức vụ đặc biệt có hạn và chúc phước mọi sự cho quí vị. Khi ấy quí vị sẽ đi mà có kết quả.
IV. CHÚA JÊSUS ĐANG PHÁN DẠY QUA CÁC MÔN ĐỒ CỦA NGÀI (các câu 7-8).
A. Các môn đồ phải rao giảng trong danh Chúa Jêsus (câu 7).
1. Chúa Jêsus đã ban cho họ sứ điệp họ phải rao giảng: "Nước Đức Chúa Trời đã đến gần". Tất nhiên là họ cần phải được chuẩn bị và trau chuốt cẩn thận, phải biết giải thích và làm cho sứ điệp được sáng tỏ, nhưng đó là phần chủ động của họ.
2. Người bị hư mất không cần phải học về thời kỳ tiền thiên hi niên hoặc hậu thiên hi niên. Họ không cần phải nghe tranh cãi về thần học tân hay cựu phái. Họ không cần phải nghe thuyết nầy hay thuyết kia (như thuyết Calvin chẳng hạn). Họ cần phải nghe biết về tình yêu thương và sự tha thứ của Chúa Jêsus!
3. Người bị hư mất không quan tâm gì tới Hội thánh. Người bị hư mất không quan tâm đến tín điều của chúng ta. Người bị hư mất không quan tâm đến chức vụ của chúng ta. Họ đang quan tâm đến họ sẽ sống đời đời ở đâu mà thôi! Họ đang quan tâm đến việc làm sao kéo đời sống của họ lại. Chúng ta đến với Hội thánh để học hỏi, chúng ta đi ra để làm chứng.
4. Khi chúng ta chia sẻ tin lành, Chúa Jêsus đang phán qua chúng ta (I Côrinhtô 2.1-5).
B. Các môn đồ phải phục vụ trong danh Chúa Jêsus (câu 8).
1. Chúa Jêsus đã ban cho họ “quyền phép” hay uy quyền rồi. Ngài truyền cho họ phải: “chữa lành kẻ đau, khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung, và trừ các quỉ".
2. Mỗi phép lạ do Chúa Jêsus làm ra là một sự bày tỏ ra lòng thương xót và tình yêu thương của Ngài dành cho con người. Khả năng của sứ đồ để làm ra các việc làm lạ lùng nầy không những là xác định uy quyền trong chức vụ của họ, mà còn là những dấu hiệu chỉ ra tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
3. Người thế gian tiếp thu, và nhận lãnh mà chẳng hề ban cho. Các tiên tri cùng những chức vụ giả đều lấy cái tôi làm trung tâm và rất ích kỷ, luôn luôn đòi hỏi sự cúng dường mà chẳng hề bố thí. Ngược lại, là môn đồ của Đấng Christ, chúng ta cần phải động lòng thương xót cứu giúp cho những ai đang bị tổn thương. Điều nầy cung ứng uy tín cho sứ điệp của chúng ta.
4. Chúa Jêsus phán: "Các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không". Các vị sứ đồ không sử dụng khả năng của họ vì lợi lộc cá nhân ích kỷ, mà vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã ban cho “không” các ân tứ lớn lao cho mỗi một người chúng ta. Chúng ta đang có những khả năng, sức lực, thì giờ và tài nguyên được Đức Chúa Trời ban “không” cho chúng ta. Khi chúng ta "cho không" các ân tứ nầy để giúp đỡ cho nhiều người khác, chúng ta kiếm được khả năng lắng nghe.
5. Chúa Jêsus phán qua các việc lành của chúng ta với những người khác. Trong Mathiơ 10.42, Chúa Jêsus phán: "Ai sẽ cho một người trong bọn nhỏ nầy chỉ uống một chén nước lạnh, vì người nhỏ đó là môn đồ ta, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ ấy sẽ chẳng mất phần thưởng của mình đâu".
V. CHÚA JÊSUS TIẾP TRỢ CHO CÁC MÔN ĐỒ CỦA NGÀI (các câu 9-10).
A. Các môn đồ không phải lo lắng về tiền bạc (câu 9).
1. Chúa Jêsus phán: "Đừng đem vàng, hoặc bạc, hoặc tiền trong lưng các ngươi".
2. Khi quí vị đi nghĩ hè, có lẽ quí vị dùng loại ngân phiếu của du khách, thẻ tín dụng và có thể một số lớn tiền mặt. Bố tôi luôn luôn nói: "Đừng bao giờ ra khỏi nhà đi đâu mà không đủ tiền để trở về nhà”.
3. Chúa Jêsus đã ban cho các môn đồ Ngài một mạng lịnh ngược lại. Khi họ đi ra, họ cần phải tin cậy Chúa tiếp trợ cho mọi nhu cần của họ.
4. Tất cả các Hội thánh đều đối diện với nhu cần tài chánh từng hồi từng lúc. Tôi chẳng thường lo lắng qua các thời điểm nầy vì Đức Chúa Trời tiếp trợ cho mọi nhu cần của chúng ta, chớ không phải người ta.
B. Các môn đồ không phải lo lắng về các khoản tiếp trợ (câu 10).
1. Cái "bao" được nhắc tới trong câu 10 có lẽ là một túi đựng đồ ăn mà người ta thường mang theo khi “đi đường”. Thực vậy, Chúa Jêsus đang phán: "Thậm chí đừng mang theo túi đồ ăn trưa”.
2. Họ không nên mang theo "hoặc hai áo, hoặc giày, hoặc gậy". Áo ở đây là áo khoác ngoài đóng vai trò như áo choàng và như vai trò chiếc giường ngủ. Thường thì các du khách mang giày vì cớ địa hình địa vật. Chúa Jêsus phán họ không phải đem theo các thứ phụ thuộc, chỉ đem theo những cái cần thiết mà thôi.
3. Chúa Jêsus phán: "vì người làm việc đáng được đồ ăn" hay sự ủng hộ. Ngài đang dạy cho họ biết tin cậy nơi Đức Chúa Trời tiếp trợ cho các nhu cần của họ.
4. Tôi thích Philíp 4.19, ở đây chép: "Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Jêsus Christ".
C. Các môn đồ không phải lo về nơi ở (các câu 11-13).
1. Chúa Jêsus bảo họ rằng khi họ vào "thành nào hay là làng nào" họ phải "hỏi thăm ai là người đáng tiếp rước mình". "Đáng" chỉ ra bổn tánh thuộc linh hay đạo đức của chủ nhà.
2. Họ từng thấy một ngôi nhà “đáng” để cư ngụ trong đó, họ phải "ở nhà họ" cho tới lúc họ rời khỏi thành ấy. Họ không cần phải tìm kiếm loại phòng ốc đủ tiện nghi mà chi.
3. Là tín đồ chúng ta cần phải học biết sự thoả lòng. Trong xã hội chúng ta, có một sự phấn đấu liên tục để đạt cho kỳ được sự sung túc, giàu có, và nhiều của cải.
a. I Timôthê 6.6 chép: "Vả, sự tôn kính cùng sự thỏa lòng ấy là một lợi lớn”.
b. Trong Philíp 4.11-13, Phaolô viết: "Không phải tôi muốn nói đến sự cần dùng của tôi; vì tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được. Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi”.
VI. CHÚA JÊSUS ĐƯỢC TIẾP NHẬN QUA CÁC MÔN ĐỒ CỦA NGÀI (các câu 11-15).
A. Người nào tiếp nhận các môn đồ của Chúa Jêsus là tiếp nhận Chúa Jêsus.
1. Chúa Jêsus nói rằng khi các môn đồ được tiếp nhận trong trong một “ngôi nhà” họ phải “cầu bình an” cho nhà đó và nếu nhà đó "xứng đáng" cho họ ở thì “sự bình an của họ xuống cho” nhà đó.
2. Việc “cầu bình an” là từ ngữ Shalom theo tiếng Hybálai. “Sự bình an” nầy còn có ý nghĩa sâu sắc hơn, nó đề cập tới sự toàn vẹn của cả thân, hồn, thần.
3. Nói cách khác, khi người ta tiếp nhận các sứ đồ, họ phải phục vụ cho những người ấy theo một phương thức đầy đủ nhất. Họ không giữ lại một ơn phước nào đối với những người sẵn lòng tiếp rước họ.
4. Mathiơ 10.41 chép: "Ai rước một đấng tiên tri vì là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của đấng tiên tri".
5. Đôi khi Đức Chúa Trời đặt chúng ta vào những lãnh vực mà người ta không nhiệt tình lắm với Tin lành. Tuy vậy, vô luận vị trí của chúng ta là ở chỗ nào, chúng ta nên tập trung vào những người sẵn lòng tiếp đón mình nhất.
B. Người nào chối bỏ các môn đồ của Chúa Jêsus, họ đang chối bỏ Chúa Jêsus.
1. Nếu nhà ấy không “xứng đáng”, Chúa Jêsus phán: “thì sự bình an các ngươi trở về các ngươi". Đây là cách nói: "Hãy rút lại ơn phước”. Khi rời khỏi một thành hay một làng như thế, họ phải: "phủi bụi đã dính chơn các ngươi".
2. Người nào chối bỏ các tôi tớ của Chúa Jêsus, họ đang chọn chối bỏ Chúa Jêsus. Chúa Jêsus phán sự tệ hại giáng trên những kẻ nầy trong ngày phán xét còn tồi tệ hơn những gì đã xảy ra cho “thành Sôđôm và Gômôrơ”, là nơi Đức Chúa Trời đã mưa lửa và diêm sinh xuống.

***