Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

Bài 49: Mathiơ 12:43-50: "Mối Nguy Hiểm Của Sống Đạo Đức Mà Không Có Giá Trị Thuộc Linh"




MATHIƠ – VUA CÁC VUA

Mối nguy hiểm của sống đạo đức

mà không có giá trị thuộc linh

Mathiơ 12:43-50
1. Hết thảy các tín đồ đã sanh lại theo lời Kinh Thánh đều có lòng quan tâm đến luân thường đạo lý, đạo đức. Mỗi ngày chúng ta nhìn thấy sự suy đồi của một quốc gia đã từ chối gốc rễ Cơ đốc xuất phát từ Kinh Thánh. Chúng ta nhìn thấy sự đồi bại cùng cực ở các chức vụ cao trong chính phủ. Chúng ta nhìn thấy nhiều gia đình tan vỡ, một cấp độ ly dị ngày càng tăng, và tội ác lạm dụng ngược đãi trẻ em. Chúng ta nhìn thấy bạo lực ngày càng tăng trên các đường phố. Chúng ta nhìn thấy mọi sự nầy được chiếu lên, được mở rộng, thậm chí gia tăng trên phương tiện truyền thông đại chúng, dường như họ muốn kích động tánh ác trong chúng ta. Roma 3.15 rất chính xác khi nói tới hạng người: "Chúng nó có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu".
2. Là tín đồ và là người canh giữ mọi lẽ thật của Kinh Thánh, những Cơ đốc nhân Tin lành than tiếc việc bỏ qua các giá trị cùng những đức  tính theo truyền thống và sự phát sinh triết lý không có các giá trị tuyệt đối. Lối suy tưởng rất thịnh hành ngày nay là: "Cái điều thực cho anh sẽ không thực cho tôi". Với cấu trúc không có giá trị cụ thể, giống như Israel đời xưa, mọi người đang làm "đúng theo mắt mình cho là phải". Triết lý nầy đứng nghịch chiều với hệ thống luật định của chúng ta và chúng ta là những chứng nhân cho sự tự huỷ diệt của triết lý đó.
3. Vấn đề là: chúng ta được khuyến khích sống đạo đức mà không cần giá trị thuộc linh đích thực. Đạo đức tự nó trong nhiều phương thức rất nguy hiểm hơn cả tình trạng phi đạo đức nữa. Người dòng Pharisi cùng các cấp lãnh đạo tôn giáo của Israel là một điển hình cho lẽ thật nầy.
4. Là học viên của Tân ước, chúng ta có khuynh hướng chê bai "các thầy thông giáo và người dòng Pharisi". Tuy nhiên, họ là hạng người vô cùng đạo đức. Họ sống theo những sự hướng dẫn nghiêm ngặt về cách ứng xử mà họ đạt tới mức tin tưởng rằng họ đã ở trong tình trạng tự chủ. Họ mù quáng do sự tự dối gạt mình đến nỗi khi Đức Chúa Trời đến với họ bằng hình thể con người, khi Đấng Mêsi mà lâu nay họ mong đợi đã hiện đến, họ đã không chịu công nhận Ngài. Đúng là tồi tệ, họ đã xem Ngài là một mối đe doạ và họ đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Quí vị có thấy Chúa Jêsus đã không ngần ngại khi đến với hạng đĩ điếm, những kẻ tà dâm, kẻ giết người, và người thu thuế. Đúng thế, một vài cấp lãnh đạo tôn giáo đã dành thì giờ lúc ban ngày cho Ngài, ít nhiều gì cũng đã tin nơi Ngài.
5. Một trường hợp về tình trạng đạo đức tự dối gạt của họ được thấy trong Luca 18:10-14. Họ đã không thấy bản thân họ là hạng tội nhân, mà chỉ thấy họ là hạng người thanh sạch, công bình. Như một kết quả, họ đã chối bỏ ân điển của Đức Chúa Trời. Hãy chú ý Chúa Jêsus tiếp cận họ trong 23.25-32.
6. Đáng buồn thay, chúng ta nhìn thấy vấn đề sống đạo đức như thế nầy mà chẳng có giá trị thuộc linh chi hết hãy còn tiếp diễn ngày hôm nay. Chúng ta nhìn thấy trong giới cầm quyền, trong giới giáo dục, trong xã hội và thậm chí trong các nhà thờ nữa. Trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, chúng ta sẽ nhìn thấy hai hình ảnh về sống đạo đức mà chẳng có chút giá trị thuộc linh nào, một từ LÃNH VỰC THUỘC LINH và một từ LÃNH VỰC GIA ĐÌNH.

I. Một hình ảnh từ lãnh vực thuộc linh (các câu 43-45).

A. Sự bất an của một tà ma bị trục xuất (câu 43).
1. Trong phân đoạn lạ lùng nầy, Chúa Jêsus đang nói tới “một tà ma”. Qua câu chuyện nầy Ngài đề cập tới một tà ma, một thiên sứ sa ngã, một con chốt của Satan và là một chi thể của thế lực gian ác của địa ngục. Bởi "tà ma", Kinh Thánh có ý nói rằng hắn rất độc ác và rất gớm ghiếc. Tuy nhiên, như chúng ta nhìn thấy sau đó, đã có nhiều quỉ "dữ hơn" hắn nữa.
2. Câu nầy đặc biệt không nói bằng cách nào "tà ma ra khỏi một người". Rõ ràng, Chúa Jêsus đã đuổi nhiều quỉ (đối chiếu câu 22). Tuy nhiên, có lẽ người nầy đã đưa ra quyết định sống đạo đức muốn quên đi tội lỗi, là điều đã khiến cho tà ma phải bỏ chạy.
3. Khi “tà ma” ra khỏi người, "thì nó đi đến nơi khô khan kiếm chỗ nghỉ, nhưng kiếm không được". Tà ma không cần thức ăn hay nước uống, vì lẽ đó, chúng ta phải hiểu "khô khan" là cách nói bóng bẩy mà thôi. Khi ra khỏi một người, tà ma không có một chỗ nào tiện nghi để “nghỉ” hết.
4. Dường như tà ma thích ở trong loài vật hơn nếu chúng không thể ám vào con người. Tà ma khi ám vào người xứ Ga-đa-ren bị Chúa Jêsus đuổi ra đã xin Ngài cho phép ám vào bầy heo (8.31).
5. Tà ma cần loài thọ tạo, đặc biệt là con người để thực thi công việc xấu xa nhất của chúng. Một tà ma không chiếm hay không ám vào một người, hắn đang ở một nơi “khô khan” hay hoang vu lắm.
B. Sự trở về của tà ma bị trục xuất (câu 44).
1. Ở một góc độ của hình ảnh nầy, tà ma nói: "Ta sẽ trở về nhà ta mà ta mới ra khỏi". Cụm từ "nhà ta" cho thấy bản chất hay ám thị của ma quỉ. Tà ma nầy đã xem thân thể của con người chính là “nhà” của hắn, là nơi chiếm ngự, điều khiển của hắn.
2. Chúng ta biết rằng không phải người nào tin nơi Chúa Jêsus đều được sạch cả đâu. Có thể ai đó đã cất bỏ được thế lực của ma quỉ ra khỏi đời sống của mình bằng cách đưa ra một sự lựa chọn thích ứng sống đạo đức mà không nhất thiết phải tin theo Đấng Christ. Ở đây, chúng ta thấy vấn đề: ấy là sống đạo đức mà chẳng cần giá trị thuộc linh đích thực.
3. Khi tà ma trở về với nạn nhân của hắn, hắn: "thấy nhà không, quét sạch, và sửa soạn tử tế". “Quét sạch và sửa soạn tử tế" là cách nói thông thường dành cho việc dọn dẹp đời sống của một người, để đón nhận những điều xứng đáng hơn.
4. Mặc dù đời sống của người nầy đã được cải thiện. Mặc dù là “nhà không” chẳng có tà ma nào hết, mặc dù ngôi nhà ấy đã “quét sạch" tội lỗi, mặc dù ngôi nhà đó "sửa soạn tử tế", song không có một sự thay đổi thuộc linh nào cả. Cây cối bị đốn hạ, song gốc rễ tội lỗi hãy còn đó. Đã có sống đạo đức mà chẳng có giá trị thuộc linh nào đích thực hết.
5. Tội lỗi cơ bản phải được xử lý trước khi tội lỗi bị chinh phục. Đấy là lý do tại sao có nhiều người không bao giờ đến với Đấng Christ. Họ nói họ sẽ đến khi đời sống họ đàng hoàng hơn...nhưng họ không bao giờ đến với Ngài.
C. Sự tái định cư của một tà ma bị trục xuất (câu 45).
1. Tà ma đầu tiên khi ấy "bèn lại đi, đem về bảy quỉ khác dữ hơn nó nữa, cùng vào nhà đó mà ở". Hắn tìm kiếm bạn bè nào xấu xa, tồi tệ và thích huỷ diệt hơn cả hắn trước đó.
2. Giờ đây hết thảy tám tà ma cùng "vào" người ấy "mà ở đó". Từ ngữ "ở" mang ý tưởng định cư, ở thường trực luôn.
3. Chúa Jêsus phán: "vậy số phận người ấy sau lại xấu hơn trước".
Quí vị có biết người nào đã đưa ra một quyết định có ý thức muốn dọn dẹp đời sống của mình. Có thể người ấy (nam hay nữ) bỏ uống rượu, không còn tụm năm tụm ba nữa hay quyết định bỏ đi một tật xấu nào đó. Dường như họ giữ rất tốt trong một khoảng thời gian...có thể họ đã khởi sự nhóm lại với một Hội Thánh gần nhà. Sau cùng, khi họ không theo nỗi phần cải cách mà họ mới tìm được, họ cảm thấy thất vọng vô cùng. Tại sao điều nầy xảy ra? Vì duy các quyết định sống đạo đức vẫn chưa đủ để có sự thắng hơn tội lỗi. Đắc thắng sau cùng đối với tội lỗi đòi hỏi phải có quyền năng thuộc linh và quyền năng nầy chỉ đến qua một mối tương giao với Đức Chúa Jêsus Christ mà thôi.
4. Chúa Jêsus phán: "Dòng dõi hung dữ nầy cũng như vậy". Chúa Jêsus đã phán với dòng dõi Pharisi: "Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi" (Mathiơ 23.15). Chúng ta hãy xem lời lẽ của Phierơ ở II Phierơ 2.20-21.

II. Một hình ảnh từ lãnh vực gia đình (các câu 46-50).

A. Sự đến của gia đình theo phần xác của Chúa Jêsus (các câu 46-47).
1. Câu 46 chép rằng mẹ và anh em Ngài đến đứng NGOÀI". Mathiơ 13.1 chép rằng Chúa Jêsus "ra khỏi nhà". Vì thế chúng ta kết luận rằng Chúa Jêsus đang dạy dỗ cho "dân chúng" ở trong một ngôi nhà chật cứng người.
2. Rõ ràng, có ai đó đã ngăn Chúa Jêsus, có lẽ là một trong các môn đồ Ngài với tin tức về sự đến của “mẹ và anh em Ngài”.
3. Họ đang “muốn nói cùng Ngài”. Ở điểm nầy, anh em của Chúa Jêsus chưa tin Ngài (Về sau Giacơ trở thành Giám Mục Trưởng Hội Thánh Jerusalem và viết thư tín mang tên ông). Trong phần mô tả chính bối cảnh nầy, Mác 3.21 ghi lại họ đã nói: "Ngài mất trí khôn".
4. Có lẽ gia đình của Chúa Jêsus đã lấy làm lo bởi phương thức Ngài phản kháng cấu trúc tôn giáo thời bấy giờ. Họ vốn biết Chúa Jêsus chế giễu những người kia giống như một quả bom hẹn giờ vậy. Có thể họ muốn đưa Ngài đi khỏi đó, và làm cho bầu không khí chính trị lắng dịu xuống.
5. Ở bất kỳ một cấp độ nào, có người đến nói công khai với Chúa Jêsus: "xem kìa, mẹ và anh em Thầy đang đứng ở ngoài, muốn nói cùng Ngài".
B. Sự thực về gia đình thuộc linh của Chúa Jêsus (các câu 48-50).
1. Dường như Chúa Jêsus chẳng có gì phải lúng túng hết. Không nghi ngờ chi nữa, Ngài liếc nhìn quanh các môn đồ khi Ngài phán: "với kẻ đến nói cùng Ngài", Ngài hỏi: "Ai là mẹ, ai là anh em ta?" Chắc chắn, dân chúng đang đứng gần đó đã lấy làm lạ bởi câu hỏi kỳ dị nầy.
2. Chúng ta biết Chúa Jêsus không phải là đoạn tuyệt hoặc không công nhận gia đình của mình đâu. Ngài vốn yêu thương sâu sắc và lo chăm sóc cho họ. Từ trên thập tự giá, lời nói sau cùng của Ngài cho người môn đồ yêu dấu là Giăng, Ngài bảo ông phải chăm sóc cho mẹ Ngài. Tình yêu của Ngài trói buộc anh em của Ngài gắn bó với nhau trong Công vụ Các Sứ Đồ 1, họ được tính chung với các môn đồ ở trên phòng cao.
3. Khi ấy Chúa Jêsus "giơ tay chỉ các môn đồ mình" và phán với mọi người: "Nầy là mẹ cùng anh em ta". Ngài có ý nói rằng mọi người đều được mời trở nên chi thể trong gia đình thuộc linh, đời đời của Ngài. Bất cứ ai cũng đều có thể trở thành chi thể trong gia đình của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta làm theo lời kêu gọi đó, gia đình của Đức Chúa Trời là gia đình duy nhất mới thực sự là vấn đề.
4. Chúa Jêsus lên tới cao điểm của bối cảnh bằng cách nói: "Vì hễ ai làm theo ý muốn Cha ta ở trên trời, thì người đó là anh em, chị em ta, cùng là mẹ ta vậy".
5. Hêbơrơ 2.11-13 cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus "không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em".
6. "Hễ ai" là một từ mời gọi. Từ ấy nhắc cho chúng ta nhớ tới Khải huyền 22.17: "Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không". Hễ ai "làm theo ý muốn Cha ta", nghĩa là người nào tiếp nhận Đức Chúa Jêsus Christ đều là chi thể trong gia đình đời đời của Chúa Jêsus.
KẾT LUẬN: Sống đạo đức mà chẳng có một sự thay đổi thuộc linh thì chẳng thay đổi chi hết. Những việc lành mà không có đức tin nơi Đấng Christ chẳng cứu được ai. Tôn giáo mà chẳng có một mối tương giao với Chúa Jêsus thì chỉ là hư không mà thôi. Đừng lo dọn dẹp bề ngoài của đời sống mình, hãy dâng trọn vẹn đời sống mình cho chính mình Chúa Jêsus.








Bài 48: Mathiơ 12:38-42: "Sự Phán Xét Những Kẻ Chối Bỏ"




MATHIƠ – VUA CÁC VUA

Sự phán xét những kẻ chối bỏ

Mathiơ 12:38-42
1. Khi còn là sinh viên thần học, tôi đến làm việc trong một tiệm hàn với người chủ tiệm tên là Charles. Charles là một người rất giỏi trong nhiều phương diện. Anh rất chịu khó làm việc và trả công hậu hỉ cho thầy thợ. Anh luôn luôn mau mắn giúp đỡ ai đó khi có cần. Anh rất rời rộng, nhanh nhẹn và là một người rất hoạt bát. Anh rất kỉnh kiền đối với Đức Chúa Trời và sống theo một bộ luật đạo đức rất nghiêm ngặt. Charles có một nan đề không được tốt cho lắm, anh không cần tới Đấng Christ hay Hội Thánh.
2. Thế gian đầy dẫy hạng người ngay thẳng, đạo đức thậm chí rất tôn giáo, họ tin nơi Đức Chúa Trời và cố gắng giúp đỡ cho nhiều người. Có nhiều người đã chịu phép báptêm, năng động dự phần trong Hội Thánh và được giao cho nhiều chức vụ khác nhau. Một số người không đi nhà thờ lại là hạng người nhơn đức đến nỗi họ làm cho những người đi nhà thờ đều đặn phải thấy xấu hổ. Tuy nhiên, vì mọi việc lành, đạo đức và vẻ tôn giáo bề ngoài của họ, có nhiều người trong số đó đã bị hư mất và đang hướng tới địa ngục.
3. Tại sao vậy? Vì mọi việc lành của họ, họ đã chối bỏ Đấng Christ. Người ta không được lên thiên đàng trên cơ sở sống nhơn đức đâu. Không một ai là nhơn đức cả. Không có cây cân lớn nào khi phán xét sẽ cân đối giữa mọi việc lành cùng những tội lỗi của chúng ta đâu! Chúa Jêsus phán rõ ràng: "Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha" (Giăng 14.6). Ngài phán trong Giăng 3.36: "Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó".
4. Trong phân đoạn nầy, Chúa Jêsus xử lý với "các thầy thông giáo và người dòng Pharisi".
A. Thật là dễ cho chúng ta khi cho rằng hạng người nầy là gian ác, nhưng trong thời của họ, họ được người ta tôn kính và không nghi ngờ chi hết, nhiều người trong số họ đều có lòng khao khát muốn phục sự Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, giống như Charles bạn tôi, họ đã cậy vào sự nhơn đức riêng của họ giải cứu họ.
B. Ở bề ngoài, họ tỏ ra rất là tôn giáo, song khi Chúa Jêsus chỉ ra vẻ bề ngoài của họ, tội lỗi của họ bị phơi bày. Trong 23.27-28, Ngài phán: "Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy. Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi". Trong câu 34 của chương nầy, Ngài ám chỉ họ là "dòng dõi rắn lục".
C. Giống như nhiều người ngày nay, "thầy thông giáo và người dòng Pharisi" đã giả vờ dung chịu chức vụ của Chúa Jêsus. Ngày nay có nhiều nhóm tôn giáo, nhiều hệ phái, cùng nhiều hệ thống thờ lạy hình tượng đã giả vờ có một nhận định cao về Đấng Christ và Kinh Thánh. Tuy nhiên, khi họ đối mặt với những lời tố giác có thẩm quyền của Chúa Jêsus và chính tội lỗi của họ, họ liền chối bỏ Ngài.
D. Hạng người tôn giáo nầy giờ đây đã biết đủ về Chúa Jêsus. Họ đã phơi bày bản chất thực của họ trong câu 14 khi họ "bàn với nhau, lập mưu giết Ngài".

I. Dấu lạ đến từ trời (các câu 38-40).

A. Lời cầu xin ban cho dấu lạ (câu 38).
1. Có lẽ đây là một ban rất đặc biệt được chỉ định nghiên cứu mọi sự dạy của Chúa Jêsus, họ đã đến gặp Ngài trong ngày đó.
2. Họ đã nghe lời quở trách gay gắt của Ngài do họ đưa ra lời nói Ngài đã nhờ Chúa quỉ” mà đuổi quỉ (câu 24). Không nghi ngờ chi nữa, họ đã sôi sục với cơn giận dữ. Tuy nhiên, họ đã cắn lưỡi của mình khi đưa ra lời cầu xin quá đơn sơ như vậy.
3. Họ gọi Ngài là "Thầy" hay Rabi, thậm chí họ đã tỏ ra xem khinh Ngài. Tước hiệu đáng kính nầy có lẽ là vì cớ đám dân đông.
4. Họ đáp: "Chúng tôi muốn xem thầy làm dấu lạ". Nói cách khác, họ muốn Chúa Jêsus làm ra một phép lạ để minh chứng Ngài chính là Đấng Mêsi. Rõ ràng là họ thực sự không tin và không thuyết phục được Chúa Jêsus sẽ không làm ra một “dấu lạ” nào. Trong 16.1, họ đã đến "có ý thử Ngài, thì xin làm cho xem một dấu lạ từ trên trời xuống".
5. Hãy suy nghĩ trong một phút xem. Họ có mặt trong đám đông ngày ấy. Họ đã chứng kiến lẽ thật ở câu 15: "và Ngài chữa lành cả". Họ đã trông thấy trong nỗi kinh ngạc lúc Chúa Jêsus chữa lành một người bị "quỉ ám, mù và câm". Họ đã nghe đám dân đông hô lớn: "Người nầy có phải là Con Vua David không?" Họ còn muốn trỗi hơn thế nữa!
6. Đây là một lẽ thật quan trọng nói về Chúa Jêsus: “Ngài dành giữ phép lạ dấu kỳ của Ngài cho những người mà Ngài động lòng thương xót cho”. Chúa Jêsus vui sướng chữa lành cho từng thứ bịnh tật nơi họ. Ngài quở biển đang gầm rống  phải im lặng để minh chứng tình yêu của Ngài dành cho các môn đồ Ngài. Thế mà Ngài không hề, không bao giờ và không làm một phép lạ nào cho những kẻ chỉ trích phê phán nhìn thấy.
a. Ngài từ chối không nhảy xuống từ nóc đền thờ cho Satan thấy (Mathiơ 4.6-7).
b. Ngài không làm phép lạ cho Hêrốt xem (Luca 23.8).
c. Ngài không làm phép lạ cho các "thầy thông giáo cùng người dòng Pharisi" xem.
B. Đáp ứng cho lời xin một dấu lạ (câu 39).
1. Chúa Jêsus đã chỉ ra rằng không phải một người có đức tin đòi hỏi một dấu lạ mà là "dòng dõi hung ác gian dâm". Chắc chắn động lực của họ đều là “xấu”. Họ muốn làm mất uy tín của Chúa Jêsus. Họ không phải là hạng người thành thật tìm kiếm chân lý. Họ cũng là “gian dâm” nữa. Họ đã quên lẽ thật của Đức Chúa Trời nói về sự thờ lạy hình tượng. Mặc dù họ không thờ lạy các hình tượng kể từ thời kỳ lưu đày, họ đã làm ra nhiều thứ hình tượng cho tôn giáo của họ và theo truyền khẩu do con người lập ra.
2. Chúa Jêsus còn nói thêm rằng "sẽ chẳng cho một dấu lạ khác". Ban dấu lạ cho hạng người chuyên phê phán chỉ trích, điều nầy ngược lại với bổn tánh và chương trình của Ngài. Ngài có thể ban cho dấu lạ, nhưng Ngài không làm thế.
3. Ngoại lệ duy nhất mà Chúa Jêsus thực thi cho đáp ứng nầy là "dấu lạ của Đấng tiên tri Giôna".
C. Dấu lạ của Giôna (câu 40).
1. Giôna, tất nhiên, là tiên tri thời Cựu ước, Đức Chúa Trời bảo ông phải ra di và rao giảng cho thành "Nineve". Thay vì thế, ông đã trốn sang thành Ta-rê-si trên một chiếc tàu. Đức Giêhôva đã sai một cơn bão lớn đến và Giôna đã bị ném xuống biển để cứu chiếc tàu.
2. Đức Chúa Trời khiến ông bị một “con cá lớn” nuốt lấy và ông đã ở trong “bụng” cá trong "ba ngày ba đêm" cho tới khi ông bị con cá mửa ra trên bờ biển gần thành "Nineve".
3. Chúa Jêsus phán rằng câu chuyện của Giôna là một HÌNH BÓNG một kiểu cách của “dấu lạ”. Ngài muốn nói “ba ngày ba đêm trong bụng cá” của Giôna làm hình bóng cho Chúa Jêsus sẽ phải ở "ba ngày ba đêm trong lòng đất".
4. Giống như Giôna đã bị chôn trong biển sâu, Chúa Jêsus sẽ bị chôn trong đất. Giống như Giôna đã bị mửa ra bởi quyền phép của Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus sẽ sống lại từ trong kẻ chết.
5. “Dấu lạ của…Giôna" đích thực chính là dấu lạ sự sống lại của Ngài. Điều nầy không phải là việc mà các cấp lãnh đạo Do thái có thể hiểu được, mà còn lấy làm lạ thêm nữa.

II. Sự phán xét đến từ trời (các câu 41-42).

A. Sự phán xét của “dân thành Ninive” (câu 41).
1. Mặc dù sự ngần ngại của Giôna không muốn rao giảng cho “dân thành Ninive”, họ đã nghe được sứ điệp của ông, họ đã "ăn năn" và tránh được cơn phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên thành và trên gia đình của họ.
2. “Dân thành Ninive” không những là dân Ngoại, bất chấp lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời, mà họ còn là người Asiri thù nghịch, hung ác... là hạng người cực kỳ gian ác. Dù vậy Giôna 3.5-6 cho chúng ta biết khi họ nghe xong lời của Đức Giêhôva họ đã "rao ra sự kiêng ăn và mặc bao gai" là một biểu tượng của sự họ ăn năn và hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời.
3. Mặt khác, dân Israel đã có luật pháp, các sách tiên tri và các dấu kỳ phép lạ vô số đến từ Chúa, thế mà họ lại không nghe theo tiếng của Ngài. Dù có người "lớn hơn Giôna", Con độc sanh của Đức Chúa Trời đã ngự đến giữa vòng họ, họ đã từ chối không chịu nghe theo Ngài.
4. Vì họ chối bỏ Đấng Christ, thậm chí “dân thành Ninive” ngoại đạo sẽ “đứng dậy mà lên án nó”.
B. Sự phán xét của “Nữ hoàng Nam phương” (câu 42).
1. “Nữ hoàng Nam phương” là Nữ Hoàng Sêba, một nữ hoàng giàu có của một xứ xa vùng Arabia, khoảng 1.200 dặm về phía Nam. Đối với dân trong khu vực, 1200 dặm dường như là "từ nơi đầu cùng đất".
2. Vị Nữ hoàng nầy đã đi một chuyến hành trình thật dài băng ngang qua sa mạc nắng nóng để "nghe lời khôn ngoan của Vua Salômôn". Thậm chí bà còn đem theo dâng lên nhà Vua mọi của báu từ đất nước giàu có của bà như một cống thuế.
3. Mục tiêu của Chúa Jêsus là đúng đắn. Đây là một người Ả rập ngoại giáo, có lòng thù ghét và là một phụ nữ chuyên tra khảo những ai tìm kiếm ân điển nơi Đức Chúa Trời vì chuyến hành trình hạ mình của bà đến gặp Salômôn.
4. Chúa Jêsus phán: "mà đây nầy, có một người tôn trọng hơn vua Sa-lô-môn!" Nếu Nữ hoàng phải trả giá như thế để gặp một con người, các lãnh đạo Do thái nầy là ai mà từ chối không tin theo Con Đức Chúa Trời là Đấng đang đứng trước mặt họ!
5. Thực vậy "nữ hoàng nam phương" sẽ "chổi dậy mà lên án" dòng dõi người Do thái vô tín nầy.

III. Ba lẽ thật cho ngày hôm nay.

A. Mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời phải dựa theo đức tin, chớ không phải dựa theo dấu lạ.
1. Người ta ngày hôm nay vẫn còn muốn trông thấy một dấu lạ. Họ muốn được chữa lành, làm cho đời sống của họ được phong phú và loại bỏ hết mọi khó khăn trước khi họ tin. Đây là miếng mồi của hệ thống thờ lạy hình tượng và các tôn giáo giả ngày hôm nay.
2. Lẽ thật Kinh Thánh trong Êphêsô 2.8: "Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu".
B. Những người rất gần gũi với lẽ thật đôi khi quên phứt lẽ thật đó.
1. Người Do thái đã có từng lý do để tin theo Chúa Jêsus, thế mà họ không tin. Cũng một thể ấy, nhiều người ngày nay sống rất gần gũi với các lẽ thật của Chúa Jêsus, nhưng chỉ muốn đoạt làm của riêng mà thôi. Họ có mặt trong nhà thờ nhưng không có mặt trong Nước Trời.
2. Hết thảy chúng ta đều cần phải bước theo mưu luận của II Côrinhtô 13.5, câu nầy chép: "Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng. Hãy tự thử mình: anh em há không nhận biết rằng có Đức Chúa Jêsus Christ ở trong anh em sao? miễn là anh em không đáng bị bỏ".
C. Sự cứu rỗi dựa theo sự công bình của Chúa Jêsus chớ không dựa vào sự nhơn đức của chúng ta.
1. Vô luận bạn tôi Charles có sống nhơn đức thể nào, sự nhơn đức của anh ta không thể dời đi tội lỗi của mình được.
2. Nếu ơn cứu rỗi của chúng ta không duy bởi “đức tin”, thì chẳng có ơn cứu rỗi chi hết.



Bài 47: Mathiơ 12:33-37: "Sự Làm Chứng Của Cái Lưỡi"




MATHIƠ – VUA CÁC VUA

Sự làm chứng của cái lưỡi

Mathiơ 12:33-37
1. Câu chuyện kể về ba vị Mục sư, họ cùng nhau đi câu cá trong hoang vắng phía Bắc Canada. Trong khi họ ở đó, họ làm quen với nhau và bắt đầu nói về những tư tưởng tận đáy lòng của họ. Một người xưng rằng ông đã vật vã với sự thành thật và đã phạm phải tội xén bớt tiền bạc từ ngân sách của Hội Thánh của mình. Sau khi đưa ra lời xưng tội đáng giật mình nầy, ông đã khuyến khích hai người kia xưng ra tội lỗi của họ. Vị Mục sư thứ hai xưng rằng ông đã vật vã với tội lỗi về tình dục và đã phạm tội tà dâm với vài phụ nữ trong khi thi hành chức vụ của mình. Vị Mục sư thứ ba thì giữ im lặng trong một lúc lâu. Sau cùng khi bị thúc đẩy bởi hai người đồng sự, ông mới tỏ bày ra các điểm yếu của mình, ông nói: "Anh em ơi, tôi không nghĩ anh em muốn biết những điểm yếu của tôi, nhưng khi anh em cố quyết, tôi sẽ nói cho anh em biết. Tôi chỉ thích ngồi lê đôi mách, và tôi không muốn về nhà".
2. Trong tất cả tội lỗi mà người ta đã phạm phải, tội thông dụng nhất là tội lỗi của cái lưỡi.
A. Giacơ 3.8 chép: "nhưng cái lưỡi, không ai trị phục được nó; ấy là một vật dữ người ta không thể hãm dẹp được: đầy dẫy những chất độc giết chết”.
B. Giacơ 3.2 chép: "Chúng ta thảy đều vấp phạm nhiều cách lắm. Nếu có ai không vấp phạm trong lời nói mình, ấy là người trọn vẹn, hay hãm cầm cả mình".
3. Cần phải tính rằng một người trung bình phải trò chuyện 30 lần trong ngày. Mỗi ngày lời nói của người ấy có thể đóng thành một quyển sách dày khoảng 50-60 trang. Mỗi năm lời nói của người ấy có thể chứa trong hơn 100 quyển sách, mỗi quyển dày 200 trang. Cho nên chẳng có gì là lạ hết khi nói chúng ta phạm tội trong lời nói. Chúng ta sử dụng lời nói quá nhiều.
4. Tuần qua chúng ta đã học biết người Pharisi vu cáo Chúa Jêsus bằng cách nói: "Người nầy chỉ nhờ Bê-ên-xê-bun là chúa quỉ mà trừ quỉ đó thôi" (câu 24). Sau khi chỉ ra lời vu cáo của họ lố bịch là dường nào, Chúa Jêsus đã chỉ ra họ đã phạm thượng đối với Đức Thánh Linh bằng cách từ chối không chịu tin nơi Ngài mặc dù có chứng cớ rõ ràng Ngài đã và đang là Con của Đức Chúa Trời.
5. Trong phân đoạn nầy, Chúa Jêsus cho chúng ta thấy thể nào cái lưỡi tỏ ra những điều chất chứa trong tấm lòng và mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời Toàn Năng.

I. Thí dụ về cây (câu 33).

A. Chúa Jêsus gọi người Pharisi là "bịa" trong lý trí của họ.
1. Khi Chúa Jêsus phán: "Hoặc cho...", từ ngữ "make" (cho) có nghĩa là "xem xét, đánh giá, hay phán đoán". Chúng ta dùng chính từ nầy khi chúng ta nói: "Make up your mind" (hãy quyết định đi).
2. Chúa Jêsus đang phán: "Hãy quyết định về ta đi. Hoặc cho là ta tốt và công việc của ta làm là tốt, hoặc cho là ta xấu và công việc của ta làm là xấu".
B. Chúa Jêsus dạy rằng bởi lời nói và việc làm thì biết được người ta.
1. Chúa Jêsus phán: "Hoặc cho là cây tốt thì trái cũng tốt, hoặc cho là cây xấu thì trái cũng xấu”. Ngài tiếp tục phán: “vì xem trái thì biết cây” .
2. Chúa Jêsus đã sử dụng chính thí dụ nầy trong Bài Giảng Trên Núi của Ngài ở 7.17 ở đó Ngài phán như sau: "Vậy, hễ cây nào tốt thì sanh trái tốt; nhưng cây nào xấu thì sanh trái xấu".
3. Cây táo sanh trái táo. Cây đào sanh trái đào. Cây sầu riêng sanh trái sầu riêng có gai nhọn. Quí vị không thấy cây sầu riêng sanh trái đẹp bao giờ. Quí vị cũng không thể thấy cây đào sanh trái có gai đâu!?!
4. Satan đã đưa tội lỗi vào trong thế gian. Từ tội lỗi đó xảy ra tật bịnh, sự chết, sự huỷ diệt và quỉ ám. Chúa Jêsus đã đến trong thế gian chữa lành từng thứ bịnh tật, làm cho kẻ chết sống lại, và đuổi quỉ. Ngài mang theo một sứ điệp nói về đức tin và sự tha thứ. Thật là dại dột khi nói rằng Ngài đã làm công việc của mình bằng quyền phép của Satan khi Ngài tước đoạt công việc của Satan.
5. Những việc lành của Chúa Jêsus đều là bằng chứng khó tranh cãi về sự nhơn từ và quyền phép thiêng liêng của Ngài.
6. Cũng một thể ấy, người ta được nhận biết bởi trái của họ. Quí vị có thể nhìn thấy tánh tình bề trong của ai đó bởi đường lối họ đang sinh sống và lời lẽ mà họ đang nói ra.

II. Điều ác của tấm lòng (các câu 34-35).

A. Chúa Jêsus gọi người Pharisi là "dòng dõi rắn lục" (câu 34a).
1. Không những Chúa Jêsus sánh người Pharisi với một "cây" mà lại là cây "xấu", mà Ngài còn gọi họ là "dòng dõi rắn lục” nữa.
2. Trong 3.7, Giăng Báptít đã sử dụng phần mô tả nầy khi họ đến với ông để chịu phép báptêm. Về sau trong 23.33, Chúa Jêsus đã sử dụng phần nầy một lần nữa khi Ngài công bố một loạt "khốn thay" giáng trên họ vì sự dối trá của họ.
3. "Rắn lục" là một danh xưng dành cho loài rắn độc dữ đã tràn vào xứ Palestine. Chúng là loại độc dữ gây CHẾT CHÓC và phần lớn các nạn nhân của chúng đều ngã chết cách mau chóng. Chúng cũng là loài TRÁ HÌNH, trà trộn với cây cối. Một con rắn độc như thế đã cắn vị sứ đồ Phaolô trong Công vụ Các Sứ Đồ 28:3-6.
4. Một con rắn mẹ sẽ ôm ấp một số trứng và khi chúng nở ra, một "bầy" rắn nhỏ được thả vào trong thế gian.
5. Giống như một "dòng dõi rắn lục", người Pharisi đã rãi chất độc tôn giáo của họ về sự tuân giữ luật pháp và những lời truyền khẩu do con người lập ra. Mathiơ 23.15 chép: "Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi".
6. Mặc dù chúng ta được kêu gọi phải sống nhu mì, chúng ta cũng phải noi theo gương của Chúa chúng ta tỏ ra cho những kẻ xuyên tạc con đường cứu rỗi vì họ quả là loài “rắn lục” trá hình, gây chết chóc. Hầu hết hệ thống thờ lạy hình tượng đều có cơ sở của chúng nơi Cơ đốc giáo theo Kinh Thánh.
B. Tấm lòng gian ác của người Pharisi bị nhận ra là bởi lời nói của họ (câu 34b).
1. Chúa Jêsus hỏi: "làm sao các ngươi nói được sự tốt?" Bởi lời nói phạm thượng của họ, người Pharisi đã tỏ ra sự đồi bại của họ. Quả thực họ là "xấu" và mọi sự họ có thể "nói" cũng là "xấu" và tự mãn. Nếu họ chịu tìm kiếm điều “tốt” họ đã tiếp nhận Đấng Christ rồi.
2. Có lẽ sự nổi bật của tiểu đoạn nầy là câu nói: "Bởi vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra".
a. Trong Kinh Thánh, "lòng" là ngai của ý chí và sinh hoạt của tư tưởng. Tấm lòng tiêu biểu cho cá tánh bề trong của một người.
b. Chính do "sự đầy dẫy ở trong lòng" nên "miệng" mới “nói ra". Bất cứ điều chi lý trí quí vị định liệu, quí vị sẽ đặt thành lời bằng cái “miệng” của mình.
c. Êlihu, sau khi chờ một lúc lâu, ông đã nói với Gióp trong 32.18-20: "Vì tôi đã đầy dẫy lời nói, trí trong lòng tôi cảm giục tôi nói. Nầy, lòng tôi như rượu chưa khui, nó gần nứt ra như bầu rượu mới. Tôi sẽ nói và được nhẹ nhàng; Tôi sẽ mở môi miệng ra và đáp lời".
d. Châm ngôn 23.7 chép: "Vì hắn tưởng trong lòng thể nào, thì hắn quả thể ấy".
C. Chúng ta nói ra sự đầy dẫy của tấm lòng (câu 35).
1. Trong câu 35, Chúa Jêsus phán về "nơi chứa điều thiện" "nơi chứa điều ác" của tấm “lòng".
2. "Nơi chứa” (Treasure)  ra từ chữ Hy lạp thesauros, từ chữ nầy chúng ta có "thesaurus", nơi chứa lời nói. Ý nghĩa là nhà kho.
3. Tấm "lòng" là nơi chứa tư tưởng, những điều ham muốn, tình cảm và các thái độ. Người có “tấm lòng” đầy dẫy với ý tốt nói ra “những việc tốt". Người có “tấm lòng” đầy việc ác sẽ nói ra “điều ác”.
4. Trong Giacơ 3.11, ông hỏi: "Có lẽ nào một cái suối kia, đồng một mạch mà ra cả nước ngọt và nước đắng sao?"

III. Sự phán xét cái lưỡi (các câu 36-37).

A. Người ta sẽ bị phán xét bởi "từng lời hư không" (câu 36).
1. Vì lời nói của chúng ta đưa ra từng đánh giá chính xác của tấm lòng mình, chính vì lời nói của chúng ta mà chúng ta "sẽ khai ra" trong "ngày phán xét”.
2. Chúng ta không được cứu hay chịu phán xét bởi lời nói hay việc làm của chúng ta vì sự cứu rỗi chỉ bởi đức tin nơi Đấng Christ mà thôi. Tuy nhiên, lời nói và việc làm của chúng ta là bằng chứng của đức tin chúng ta nơi Đấng Christ.
3. Trong "ngày phán xét", khi Đức Chúa Trời xem lại đời sống của những tín đồ thực, mối tương giao của họ với Ngài sẽ được minh chứng bằng lời nói và hành động của họ. Mặt khác, khi Ngài xem lại đời sống của những người không tin, vô luận là rất tôn giáo hay rất kỉnh kiền thể nào, lời nói và việc làm của họ sẽ minh chứng sự họ thiếu đi một mối tương giao với Đấng Christ.
4. Không những người ta sẽ “khai ra”"phạm thượng nghịch lại Đức Thánh Linh" , mà còn vì “mọi lời nói hư không” nữa.
5. "Hư không" ra từ chữ argos có nghĩa là "vô giá trị, trơ trẻn hay vô ích". Những lời nói "hư không" là bất kỳ lời nói nào là vô dụng, suồng sã, hay không thích nghi.
6. Không những phải khai ra loại câu nói rủa sả và cách nói năng tục tỉu, mà còn cả cách ăn nói giả hình của người thiên về tôn giáo nữa. Chúa phán trong Êsai 29.13: "Vì dân nầy chỉ lấy miệng tới gần ta, lấy môi miếng tôn ta, mà lòng chúng nó thì cách xa ta lắm".
7. Các tín đồ sẽ vẫn có nhiều nan đề với cách ăn nói hết lúc nầy sang lúc khác. Chúng ta nên dâng lên lời cầu nguyện của tác giả Thi thiên trong Thi thiên 141.3: "Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy giữ miệng tôi, và canh cửa môi tôi".
Một người chơi gôn gặp một ngày khủng khiếp hết chuyện nầy tới chuyện khác. Ở lổ sau cùng, ông ta đã nổi cáu, rủa sả và chửi thề, rồi dùng gậy đập xuống đất. Sau cùng, khi bình tỉnh lại, ông nhìn bạn cùng chơi với mình nói nhỏ: "Tôi đoán là tôi phải bỏ đi thôi?" Người kia hỏi: "Bỏ chơi golf sao?" "Không, không phải golf đâu" ông ta buồn buồn nói: "bỏ chức vụ của tôi kìa".
8. Hết thảy mọi lời nói của người không tin Chúa đều vô giá trị về mặt thuộc linh. Người ấy chẳng có điều chi “tốt” ở trong lòng mình vì Đấng Christ không ngự ở đó.
B. Chúng ta một là “được xưng công bình” hoặc là “chịu xét đoán” bởi lời nói của chúng ta (câu 37).
1. "Ngày phán xét" dành cho người vô tín được gọi là Toà Lớn và Trắng (đối chiếu Khải huyền 20.11). Ở đây mọi tội lỗi, lời nói và việc làm sẽ diễu hành trước mặt người và người sẽ chịu “phán xét” vì người đã chối bỏ sự Đấng Christ trả thay cho nợ tội của người trên thập tự giá.
2. "Ngày phán xét" dành cho người tin Chúa được gọi là Toà Án Đức Chúa Trời  (đối chiếu Rôma 14.10). Mặc dù không có một sự phán xét nào dành cho người tin Chúa, chúng ta nhận lãnh phần thưởng hay mất phần thưởng vì những việc đã làm lúc còn trong xác thịt. Hết thảy chúng ta sẽ mất phần thưởng dựa theo những lời nói "hư không" và những việc làm vô ý tứ.
Có người nói: "Cái muỗng luôn luôn rộng gấp bằng hai khi bạn lấy một liều thuốc cho mình". Trong ánh sáng sự dạy của Chúa Jêsus trong Mathiơ 12, chúng ta phải đóng ngoặc đơn lẽ thật đó: "Lời nói tỏ ra là nhỏ nhoi hư không và tầm phào ở đây sẽ hiện ra to lớn như dãy núi sai lầm khi chúng ta đối diện với chúng trong sự phán xét!" Không những mấy lời gian ác mà lưỡi thốt ra sẽ chổi dậy nghịch lại chúng ta trong ngày ấy, mà còn mọi lời nói hư không, dại dột mà chúng ta sẽ phải khai trình nữa!
PHẦN KẾT LUẬN:
1. Từng người phải xem xét bông trái của mình để thấy mình có ở trong đức tin hay không!?!
2. Những người tin Chúa phải cẩn thận về "mọi lời nói hư không" vì sự thiệt hại sẽ giáng trên cả ở đây và trong cõi đời đời nữa đấy.