Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

Bài 60: Mathiơ 16:1-12: "Cái Thấy Thuộc Linh"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA

Cái thấy thuộc linh

Mathiơ 16:1-12
1. Là người Mỹ, chúng ta đánh giá cao thị lực tốt. Chúng ta tốn khoảng 5 tỉ đôla mỗi năm cho những người chuyên đo thị lực, bác sĩ nhãn khoa, kính đeo mắt, làm quen với giải phẩu bằng laser và đặt kính thủy tinh thể. Một tỉ lệ nhỏ phần trăm dân cư của chúng ta bị mù hoàn toàn. Ngược lại với nhiều người trong thế giới thứ ba và các nước phát triển, ở đó nhiều, nhiều người đang chịu khổ vì tình trạng mù loà và thị lực nghèo nàn.
2. Mác 10:46-52 cung ứng cho chúng ta câu chuyện nói về một người ăn xin mù có tên là “Batimê”. Ông ta nghe nói Chúa Jêsus đang đi ngang qua thành Giêricô nên kêu lên: "Hỡi Đức Chúa Jêsus, con vua Đa-vít, xin thương tôi cùng!" Mặc dù nhiều người khác tìm cách làm cho ông ta phải im lặng, Chúa Jêsus đã nghe thấy và "dừng lại". Ngài cho đòi ông ta đến rồi hỏi: "Ngươi muốn ta làm chi cho ngươi?" Ông ta đáp: "Lạy Thầy, xin cho tôi được sáng mắt". Chúa Jêsus phán: "Đi đi, đức tin ngươi đã chữa lành ngươi rồi". Câu cuối cùng chép: "tức thì người mù được sáng mắt", không những thấy về con mắt thật, mà còn thấy về mặt thuộc linh nữa vì ông ta đã "đi theo Đức Chúa Jêsus trên đường". Thật là quan trọng khi có hai con mắt tốt để nhìn thấy rõ rệt, còn quan trọng hơn nữa khi có thể nhìn thấy về mặt thuộc linh.
3. Chúa Jêsus đã đến để ban cho chúng ta cái thấy về mặt thuộc linh (đọc Giăng 1:4-13).
4. Hết thảy mọi người đều bị mù về mặt thuộc linh, không thể nhìn thấy nhu cần của họ về Đức Chúa Trời. Tân Ước đề nghị ba lý do tại sao con người ta đều bị mù về mặt thuộc linh.
A. Lý do thứ nhứt là TỘI LỖI. Người ta chọn chối bỏ Đức Chúa Trời và chìu theo tội lỗi. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 3:19: "Vả, sự đoán xét đó là như vầy: sự sáng đã đến thế gian, mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu xa".
B. Lý do thứ hai là SATAN. Kẻ thù của chúng ta đang hành động để che khuất sự sáng của Chúa Jêsus. II Côrinhtô 4:4 chép: "…cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời".
C. Lý do thứ ba là QUYỀN TỂ TRỊ. Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị. Khi loài người cứ khăng khăng kháng cự sự sáng của Đức Chúa Trời, Ngài phó họ cho sự tối tăm vì cái tôi của họ đã lựa chọn. Chúa Jêsus đã phán trong Luca 19:42: "Ước gì, ít nữa ngày nay, mầy đã hiểu biết sự làm cho mầy được bình an! Song hiện nay những sự ấy kín giấu nơi mắt mầy".
5. Khi chúng ta xem xét phân đoạn nầy, chúng ta sẽ tiếp thu các đặc điểm của tình trạng mù loà thuộc linh và tình trạng của những người đã được ban cho cái thấy về mặt thuộc linh.

I. Một số người sẽ ở lại trong tình trạng mù thuộc linh (các câu 1-4).

A. Họ từ chối không chịu tin (câu 1).
1. Thứ nhứt, hãy để ý là  người "Pharisi và Sađusê" đã đến với Chúa Jêsus. Hai nhóm người nầy là hai nhóm đối ngược như mặt trời mặt trăng, hai kình địch về tôn giáo và chính trị.
2. Người "Pharisi" là những người bảo thủ, những người chính thống trong đức tin của người Do thái. Nói chung họ xuất thân từ giai cấp lao động và dân thường. Nan đề của họ, ấy là họ đã đặt mọi lời truyền khẩu của các rabi ngang hàng với Kinh Thánh. Họ là những người tin kính phân rẽ và kháng cự lại bất kỳ một sự đổi thay nào trong Do thái giáo.
3. Người "Sađusê" thiên về tự do tôn giáo. Họ bất chấp mọi sự dạy của các rabi lẫn Kinh Thánh. Họ theo đuổi chiều hướng chính trị đích thực. Tiêu chuẩn trong tín điều của họ là chối bỏ sự sống lại, thiên sứ và sự bất tử. Họ tin rằng tôn giáo là một bộ luật đạo đức. Họ xuất thân từ tầng lớp quí tộc Do thái. Từ các đẳng cấp của họ, có nhiều thầy tế lễ thượng phẩm và các thầy chủ tế.
4. Điều đáng ngạc nhiên, ấy là hai nhóm đối ngược nầy đã tìm được sự hiệp một trong sự họ từ chối không chịu tin theo Chúa Jêsus. Đây là đỉnh cao cho những người Cộng hoà và Dân chủ trong quốc hội tìm được tiếng nói chung nhằm vào một vấn đề. Người "Pharisi" vốn thù ghét Ngài vì Ngài loại bỏ mọi lời truyền khẩu của họ. Người "Sađusê" thù ghét Ngài vì Ngài cứ khăng khăng về sự thuộc linh. Giờ đây, họ là bạn đồng công trong sự vô tín.
5. Một phân đoạn tương ứng là Mác 8.11 cho thấy rằng người "Pharisi" đã ra sức "thử” Chúa Jêsus. Thay vì nhìn nhận tình trạng mù loà thuộc linh của họ rồi chạy đến với Chúa Jêsus để được sáng láng, họ đã đến trực tiếp với kẻ thù tệ hại nhất của họ, là người "Sađusê" để xin giúp đỡ và ủng hộ.
6. 2.000 năm đã trôi qua và vẫn có những vụ việc “vũ như cẩn”. Vẫn có hạng người rất tôn giáo, họ từ chối không chịu tin theo Chúa Jêsus vì lẽ thật của Ngài loại bỏ mọi truyền thống của họ. Vẫn có hạng người tự do tôn giáo, họ từ chối không chịu tin theo Chúa Jêsus vì khi tin theo Ngài họ phải tin những điều mà họ không nhìn thấy. Cả hai đều bị mù thuộc linh trong sự vô tín của họ.
B. Họ bất chấp những lời cảnh cáo  của Đức Chúa Trời (các câu 2-4a).
1. Cả hai nhóm đã đến đặng "thử Ngài".
2. "Thử" có nghĩa là tìm cách. Cách dùng khác của từ nầy trong Tân Ước, Hêbơrơ 11:9, ở đây tác giả nói tới người Ai cập "thử" đi qua Biển Đỏ. Chính người Ai cập tìm cách thắng hơn Môise và người Hêbơrơ, người "Pharisi và Sađusê" đã tìm cách thắng hơn Chúa Jêsus.
3. Sự họ thử Chúa là xin Ngài: "làm cho xem một dấu lạ từ trời". Họ đã chứng kiến nhiều dấu lạ hay nhiều việc làm lạ lùng rồi. Họ đã trông thấy Ngài chữa lành kẻ đau, khiến cho người mù được thấy, khiến cho kẻ què đi được, đuổi nhiều quỉ dữ và nhiều việc làm siêu nhiên khác.
4. Họ không chối bỏ quyền phép siêu nhiên của Ngài. Thực vậy trong 12.24 họ đã gán quyền phép của Ngài cho Satan. Một sự mê tín của người Do thái, ấy là ma quỉ có thể làm ra nhiều phép lạ trên đất, nhưng chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm ra các dấu lạ ở trên trời.
5. Họ muốn xem "một dấu lạ từ trời" hay từ trên bầu trời. Họ nghĩ điều cầu xin nầy vượt quá khả năng của Ngài. Họ muốn làm cho quyền phép Ngài phải bị hạ thấp giống như không đến từ Đức Chúa Trời vậy.
6. Cái điều họ không trông thấy vì cớ tình trạng mù loà thuộc linh của họ, ấy là chính mình Chúa Jêsus là một "dấu lạ đến từ trời". Khi Simêôn nhìn thấy Đấng Mêsi lúc 8 tuổi trong đền thờ, ông đã nói tiên tri: "Đây, con trẻ nầy đã định làm một cớ cho nhiều người trong Y-sơ-ra-ên vấp ngã hoặc dấy lên, và định làm một dấu gây nên sự cãi trả" (Luca 2.34).
7. Có nhớ Pharaôn và Môise không? Môise càng đưa ra những dấu lạ về quyền phép của Đức Chúa Trời, thì tấm lòng của Pharaôn càng trở nên chai cứng hơn.
8. Nhà vô thần người Pháp là Voltaire công bố: "Cho dù một phép lạ được làm ra công khai ngay khu chợ trước hàng ngàn người chứng kiến, tôi tin vào nhận thức của tôi hơn là công nhận một phép lạ".
9. Một tấm lòng con người đặt trên sự tăm tối sẽ càng tối tăm thêm.  Con mắt thuộc linh nào chối bỏ sự sáng sẽ bị sự sáng che khuất đi.
10. Để trả lời cho họ, Chúa Jêsus chỉ cho họ thấy các dấu lạ đã có rồi ở trên trời. Ngài phán: "Khi chiều tối đến, thì các ngươi nói rằng: sẽ tốt trời, vì trời đỏ. Còn sớm mai, thì các ngươi nói rằng: Hôm nay sẽ có cơn dông, vì trời đỏ và mờ mờ" (các câu 2-3a). Điều nầy tương tự với những thủy thủ xưa nói: "Trời đỏ lúc ban đêm, thủy thủ vui mừng. Trời đỏ ban ngày, lời cảnh cáo của thủy thủ".
11. Ngài gọi họ là "giả hình". Ngài phán: "Các ngươi biết phân biệt rõ sắc trời, mà không phân biệt được dấu chỉ thì giờ ư!" Cho phép tôi đóng ngoặc đơn; "Các ngươi được định cho làm lãnh đạo dân sự của Đức Chúa Trời có thể hiểu được một số lời cảnh báo thông thường bằng cách nhìn xem bầu trời. Dù vậy, các ngươi lại mù loà, các ngươi không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời đang làm gì ở chung quanh các ngươi!"
12. Hãy chú ý mọi sự ở chung quanh chúng ta xem, người ta đang thêm lên tri thức và sự hiểu biết. Chúng ta đang sống trong một kỹ nguyên thông tin. Kỹ thuật đang chạy nước rút ở một tốc độ ngày càng nhanh. Chúng ta biết nhiều hơn bất cứ một thế hệ nào đã đến trước chúng ta, nhưng chúng ta lại chẳng màng gì tới các vụ việc của Đức Chúa Trời.
13. Chúa Jêsus hiểu rõ mọi động lực của họ. Ngài phán: "dòng dõi hung ác gian dâm nầy xin một dấu lạ". Họ muốn thấy một dấu lạ vì họ đã không chịu tin. Họ không tin thậm chí có một dấu lạ nào khác. Mác nói Chúa Jêsus đã “than thở trong lòng".
14. Dấu lạ duy nhất họ sẽ nhận được là "dấu lạ của tiên tri Giôna". Muốn hiểu rõ điều nầy, hãy trở lại với 12:9-41. Chỗ nầy nói tới sự chết, sự chôn và sự sống lại của Chúa Jêsus. Tất nhiên là họ sẽ từ chối không tin dấu lạ ấy. 28:2-14 cho chúng ta biết rằng họ đã trả tiền cho mấy tên lính đi nói thân thể phục sinh của Ngài đã bị lấy cắp.
C. Họ đã bị Đức Chúa Trời bỏ (câu 4b).
1. Với câu nói sau cùng đó, Chúa Jêsus đã "bỏ họ mà đi". Từ Hy lạp ở đàng sau chữ "bỏ" có nghĩa là "bỏ hoàn toàn". Đây cũng là một chữ được sử dụng để mô tả Mathiơ đang rời bỏ công ăn việc làm của mình tại sở thuế vụ và những kẻ tố cáo người đờn bà phạm tội tà dâm quả tang đang bỏ đi. Từ nầy có nghĩa là "tốt nhất là quên đi".
2. Vì cớ tình trạng mù loà về mặt thuộc linh cố ý của họ, vì họ không chịu tin, Chúa Jêsus đã bỏ họ. Ngài sẽ không ban cho họ một chút ân điển nào hết.
3. Dù Đức Chúa Trời là Đấng "giàu lòng thương xót" Ngài sẽ hoàn toàn quên những kẻ cố tình ở trong tình trạng mù loà thuộc linh (Rôma 1:24-28). Sự phán xét chắc chắn giáng xuống.

II. Một số người sẽ được ban cho sáng láng về mặt thuộc linh (các câu 5-12).

A. Họ theo sau Chúa Jêsus (câu 5).
1. Sau khi Chúa Jêsus bỏ người "Pharisi và Sađusê" trong chỗ tối tăm thuộc linh của chính họ, các môn đồ Ngài đã đi theo Ngài "đến bờ bên kia" của Biển Galilê.
2. Đừng nhắm vào tầm quan trọng sự cung kính của họ. Trọn đời sống của họ, họ đã được truyền cho phải tôn trọng và tin theo hệ thống tôn giáo mà người "Pharisi và Sađusê" đã tiêu biểu cho. Bằng cách đi theo Chúa Jêsus, họ đang chối bỏ lai lịch văn hoá của riêng họ. Họ đã làm thế vì họ đã nhìn thấy sự sáng và muốn được sáng láng càng hơn!
3. Không phải người nào đã nhìn thấy sự sáng của Chúa Jêsus đều trung tín đi theo Ngài đâu! Hãy mở ra Giăng 6:66-69. Quí vị gần như trông thấy sự sáng láng thuộc linh của họ càng sắc bén và rõ ràng hơn khi Phierơ hỏi: "Lạy Chúa, chúng tôi sẽ đi theo ai? Ngài có lời của sự sống đời đời".
B. Họ lắng nghe  Chúa Jêsus cách cẩn thận (các câu 6-11).
1. Khi họ xếp hàng trên bãi biển, trời đã xế chiều, họ chẳng có một thứ đồ ăn hay “bánh” nào hết. Trời sắp tối và bao tử của họ bắt đầu cào lên vì đói.
2. Có vài thành phố bên bờ hồ đó và chắc chắn không có một cửa hàng ăn McDonald hay một cửa hàng tiện nghi nào cả để họ có thể mua thức ăn ở đó. Họ đã đối diện với một buổi tối không có đồ ăn. Gần như tôi có thể nghe thấy họ đang càu nhàu vì đói bụng.
3. Chúa Jêsus đã sử dụng tình hình nầy để dạy dỗ. Ngài phán: "Hãy giữ mình cẩn thận về men của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê". Các môn đồ không hiểu chi hết. Họ lại càng đâm lo ngay lúc ấy với những cái bụng đói của họ hơn là những lẽ thật thuộc linh mà Chúa Jêsus sắp nói với các cấp lãnh đạo tôn giáo. Họ đáp: "Đây là vì chúng ta không đem bánh theo".
4. Chúng ta thường rất giống với họ. Đang khi chúng ta không đói khát về bánh, chúng ta khao khát các nhu cần khác trong cuộc sống, một việc làm mới, một chiếc xe hơi tiện dụng hơn, một ngôi nhà rộng hơn, v.v…Thay vì nhìn thấy bức tranh lớn, các lẽ thật thuộc linh và đời đời mà Đức Chúa Trời muốn dạy dỗ chúng ta, chúng ta lại lo lắng về các nhu cần tạm thời thuộc về đời nầy.
5. Chúa Jêsus không quan tâm về việc thiếu một bữa ăn như họ. Ngài quan tâm về lẽ thật của Tin Lành không bị vấy bẩn bởi "men" của các cấp lãnh đạo tôn giáo.
6. Ngài gọi họ "hỡi kẻ ít đức tin". Họ không quên mục tiêu vì họ thiếu thông tin hay vì họ không nhanh trí. Họ bỏ quên mục tiêu vì họ không luyện tập “đức tin”.
7. Chúa Jêsus nhắc cho họ nhớ rằng Ngài đã cho "năm ngàn người ăn" với "năm cái bánh" và họ đã thâu lại dư 12 giỏ bánh đầy. Mới đây Ngài đã cho "bốn ngàn người ăn" với "bảy ổ bánh" và họ "thâu lại bảy giỏ đầy bánh thừa" (15:37). Nếu Chúa Jêsus muốn, Ngài sẽ dễ dàng tạo ra nhiều thực phẩm hơn là họ từng ăn nữa.
8. Họ đã nương cậy vào chính mình họ hơn là nhơn đức tin tin cậy Chúa Jêsus. Chúng ta thường rơi vào cái bẩy ấy dường bao!
9. Với sự toan liệu như thế, Chúa Jêsus đã lèo lái nhắm vào trọng tâm của vấn đề. Ngài phán thật dứt khoát: "nhưng hãy giữ mình về men của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê".
10. "Men" làm cho bánh dậy lên trước khi nướng. Tuy nhiên, phương thức duy nhất mà người xưa đã có khi tạo ra men là giữ yên mẻ bột nhỏ từ ngày trước. Mẻ bột ấy sẽ mau chóng thấm vào đống bột mới và làm cho bột dậy lên. Phaolô đã nói trong I Côrinhtô 5:6: "Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao?"
11. Môise đã dạy cho dân Hêbơrơ biết sử dụng bánh không men trong dịp Lễ Vượt Qua vì men tiêu biểu cho tội lỗi. Chúa Jêsus cũng đã kèm lẽ đạo ấy vào với Tiệc Thánh của Ngài.
12. Men là ảnh hưởng của tội lỗi. Chúa Jêsus muốn các môn đồ Ngài sẽ trở thành hạng sứ đồ và là nền của Hội thánh không để cho Tin Lành bị ảnh hưởng bởi sự dạy tội lỗi của người "Pharisi và Sađusê".
13. "Men của người Pharisi" là men của sự giả hình và sự họ xem trọng truyền khẩu hơn là Lời của Đức Chúa Trời. Thư tín của Phaolô gửi cho người Galati đã cảnh cáo chống lại những người theo Do thái giáo, là những người tìm cách thêm Luật pháp Môise vào Tin lành.
14. "Men của người…Sađusê" là men của tôn giáo theo kiểu tự do, đề kháng sự thuộc linh. Thư tín viết cho người thành Côlôse cảnh cáo coi chừng bị dối gạt bởi "triết lý hư không".
15. Họ đã nghe theo Chúa Jêsus. Họ có thể thấy về mặt thuộc linh, nhưng họ đã tìm cách thấy nhiều hơn. Con người với cái thấy thuộc linh không những tìm kiếm Chúa Jêsus, họ bám luôn nơi Lời của Ngài.
C. Họ học hỏi  từ Chúa Jêsus (câu 12).
1. Có thể lúc đầu các môn đồ tưởng rằng Chúa Jêsus đang dạy họ đừng mua bánh từ các cấp lãnh đạo tôn giáo. Tuy nhiên, họ đã nhất thời hiểu sai, Chúa đã soi sáng cho sự hiểu của họ.
2. Sau cùng, trong câu 12 các môn đồ: "hiểu rằng Ngài chẳng bảo giữ mình về men làm bánh, nhưng về đạo của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê".
3. Chúng ta cần phải trụ lại nơi Lời của Ngài và lắng nghe Thánh Linh Ngài cho tới chừng nào chúng ta cũng “hiểu rõ”. Ngài ban cho chúng ta nhiều sự sáng láng thuộc linh khi chúng ta bằng lòng nhận lãnh.
Có một cô gái mù người Pháp được người ta biếu cho một quyển Tin lành Mác. Cô gái đến với đức tin nơi Đấng Christ bằng cách đọc sách ấy thật nhiều lần. Cô ấy đọc sách ấy nhiều đến nỗi mấy đầu ngón tay của cô bị chai cứng và không còn cảm giác nơi các dấu chấm nổi cộm kia nữa. Vì vậy, cô gái quyết định lột bớt lớp da bị phồng kia để mấy ngón tay của cô sẽ được mẩn cảm hơn. Khi làm như thế, mấy sợi thần kinh da tay của cô bị hỏng hết. Thấy không xong, cô cầm lấy quyển sách lên hôn từ biệt nó. Chỉ khi ấy cô gái mới hay rằng đôi môi của cô còn mẩn cảm hơn cả mấy ngón tay nữa. Đức Chúa Trời luôn luôn tìm một phương thức để soi rọi sự sáng vào trong tấm lòng của bất cứ ai chịu tìm kiếm Ngài.

***


Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

Bài 59: Mathiơ 15:21-39: "Đấng Christ Hay Thương Xót"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA

Đấng Christ hay thương xót

Mathiơ 15:21-39
1. Tôi đã rao giảng suốt sách Mathiơ trong hai năm qua. Tới thời điểm nầy là chương 15, tôi đã giảng 58 sứ điệp. Tối nay, chúng ta sẽ kết thúc chương 15 và kế đó chúng ta sẽ còn 13 chương nữa. Nếu kế hoạch tối Chúa nhựt cho phép, tôi dự tính giảng xong loạt bài đi từng câu một qua sách Tin lành cho tới cuối năm hầu bắt đầu thiên niên kỷ mới.
2. Một trong các thuộc tính của Đức Chúa Trời là sự thương xót của Ngài. Ca thương 3:22 chép: "Ấy là nhờ sự nhơn từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt". Chúa Jêsus là hình ảnh bày tỏ ra Đức Chúa Trời hay thương xót của chúng ta. Ai có thể quên các cảm xúc của Ngài dành cho đám dân đông ở Mathiơ 9:36: "Khi Ngài thấy những đám dân đông, thì động lòng thương xót, vì họ khốn cùng, và tan lạc như chiên không có kẻ chăn".
3. Trong phân đoạn khá dài tối nay, chúng ta có ba bức tranh nói tới Đấng Christ hay thương xót. Chúng ta sẽ xét qua từng bức tranh đó và rồi ứng dụng một số bài học về sự thương xót.

I. Sự thương xót dành cho người đờn bà khốn khổ (các câu 21-27).

A. Chúa Jêsus đã đi qua xứ của dân Ngoại (câu 21). Chúa Jêsus "đi từ đó", nghĩa là Ngài rời xứ Galilê rồi di chuyển qua phía tây bắc "vào bờ cõi thành Tyrơ và Siđôn". Ngài rời khỏi phạm vi quyền hạn của Hêrốt và các cấp lãnh đạo người Do thái. Ngài đến đó để nghỉ ngơi, mà cũng làm thoả mãn các nhu cần của dân Ngoại sinh sống tại nơi ấy nữa. Chúa Jêsus là Vua của người Do thái, nhưng há quí vị không vui sướng khi Ngài cũng là Vua của chúng ta sao!?!
B. Chúa Jêsus gặp một người đờn bà có đứa con gái bị quỉ ám (câu 22). Trong khi Ngài có mặt ở đó "xảy có một người đờn bà Canaan" đến gặp Ngài. Mác 7:26 chép bà ta là "người Gờ-réc [dân Ngoại], dân Sy-rô-phê-ni-xi". Bà ta không phải là người Do thái, nhưng điều đó không giữ cho bà ta đừng thốt ra câu nói: "Lạy Chúa, là con cháu vua Đa-vít, xin thương xót tôi cùng!" Bà ta vốn biết rõ Ngài là ai và Ngài có lòng "thương xót". Bà ta nói con gái của bà ta bị "quỉ ám, khốn cực lắm". Chúa Jêsus đã trở thành nguồn trông cậy duy nhứt của bà ta.
C. Chúa Jêsus làm thoả mãn nhu cần của bà ta chiếu theo đức tin của bà ta (các câu 23-28).
1. Không hay, "Ngài chẳng đáp một lời". Đối với các rabi đương thời ấy, bà ta chẳng bằng được một con người.
2. Bà ta không tỏ ra nhu cần của mình, mà chỉ cứ kêu cầu với Chúa Jêsus. Bà ta chỉ quấy rối như thế, các môn đồ nói: "Xin thầy truyền cho đờn bà ấy về, vì người kêu van ở đằng sau chúng ta".
3. Sau cùng, Chúa Jêsus phán với người đờn bà. Một lần nữa, Ngài đáp ứng dường như khá gay gắt: "Ta chịu sai đến đây, chỉ vì các con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên đó thôi".
4. Như thế vẫn chưa đủ. Bà ta  phủ phục xuống ở trước mặt Ngài mà "lạy Ngài". Tôi gần như nghe được tiếng thổn thức của bà ta khi bà ta nài nĩ: "Lạy Chúa, xin giúp tôi cùng!"
5. Để thử bà ta, Chúa Jêsus nói: "Không nên lấy bánh của con cái mà quăng cho chó con ăn". Dĩ nhiên Ngài có ý nói rằng Ngài đến chủ yếu với người Do thái chớ không phải đến với loài chó dân Ngoại. Tuy nhiên lời nói của Ngài có ý đề cập tới loài chó kiểng nuôi trong nhà.
6. Hãy nghe lời đáp của bà ta. Đây không phải là lời có tính cách tranh luận, lời nầy đến từ một tấm lòng tìm kiếm của đức tin chân thật: "Lạy Chúa, thật như vậy, song mấy con chó con ăn những miếng bánh vụn trên bàn chủ nó rớt xuống".
7. Tôi nghĩ Chúa Jêsus đã nở một nụ cười rộng cả dặm chớ không ít! Ngài phán: "Hỡi đờn bà kia, ngươi có đức tin lớn; việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn!" Câu 28 tiếp tục nói như sau "Cũng một giờ đó, con gái người liền được lành".

II. Sự thương xót dành cho đoàn dân đông (các câu 29-31).

A. Chúa Jêsus đi qua một khu vực dân Ngoại khác (câu 29).
1. Chúa Jêsus "từ đó đi đến gần Biển Galilê" nghĩa là có lẽ Ngài đã đi vòng lên bờ biển phía Đông Bắc. Theo Mác 7:31, Ngài đã đến tại "địa phận Đêcabôlơ" nhằm phía Đông Nam của Biển Galilê. "Đêcabôlơ" có nghĩa là "10 thành phố" có ý nói tới 10 thành phố nằm trong khu vực đó.
2. Các chuyến đi nầy, trước tiên đến "bờ cõi thành Tyrơ và Siđôn" còn bây giờ tại "địa phận Đêcabôlơ" cả hai khu vực đều thuộc dân Ngoại song đây chỉ là một cái nhìn thoáng qua những gì về sau sẽ hiển nhiên hơn trong sách Công Vụ các Sứ Đồ, tin lành không những dành cho người Do thái mà còn dành cho dân Ngoại nữa.
3. Khi Ngài đến tại khu vực nầy, Chúa Jêsus "lên trên núi mà ngồi". Là Con Toàn Tri của Đức Chúa Trời, Ngài vốn biết rõ điều chi sắp sửa diễn ra. Ngài vốn biết rõ dân chúng sẽ kéo đến. Ngài đang sửa soạn để phục vụ họ.
B. Chúa Jêsus chữa lành mọi thứ tật bịnh (câu 30).
1. Câu 30 chép rằng khi ấy "có đoàn dân đông đến gần Ngài". Cả khu vực ấy đều biết Chúa Jêsus vừa mới đến. 4:25 chép: "Vả lại, từ xứ Ga-li-lê, xứ Đê-ca-bô-lơ, thành Giê-ru-sa-lem, xứ Giu-đê, cho đến xứ bên kia sông Giô-đanh, thiên hạ kéo nhau rất đông mà theo Ngài".
2. Chúng ta cũng không xem nhẹ sự làm chứng của "người đờn bà xứ Canaan". Quí vị có thể đoán rằng câu chuyện của bà ta đã được tường thuật lại thật sâu rộng và có nhiều người đã theo Ngài xuống từ Tyrơ và Siđôn.
3. Dĩ nhiên là “đoàn dân đông” còn đem theo với họ những kẻ khốn cùng. Đặc biệt họ đem theo "những kẻ què, đui, câm và tàn tật".
4. Phần mô tả "tàn tật" rất là thú vị. Từ ngữ được sử dụng trong bản Kinh Thánh New KJV có ý nói tới “lặt lìa”. Tuy nhiên, Chúa Jêsus đã sử dụng từ Hy lạp nầy kullos (kool-los') để mô tả một người có tay hay chân bị cụt trong Mathiơ 18:8. Vì lẽ đó từ ngữ nầy được sử dụng để mô tả sự cắt bỏ hay mất đứt hoàn toàn một chi.
5. Những người bạn nầy là mấy người bà con "để họ dưới chơn Chúa Jêsus". Dường như Chúa Jêsus không di động qua đám đông, mà đám đông đã đến tại nơi Ngài đang “ngồi”. Có lẽ các môn đồ đã sắp xếp cho họ ngồi thành hàng thật dài. Có lẽ họ dồn đống lại. Cho dù thế nào đi nữa, chúng ta biết rõ sự thương xót của Chúa Jêsus làm bằng chứng cho "Ngài chữa cho họ được lành". Điều nầy dường như cho thấy rằng Ngài đã chữa lành cho họ cả thảy.
C. Dân chúng ngợi khen Đức Chúa Trời (câu 31).
1. "Dân chúng lấy làm lạ lắm”. "Lấy làm lạ" ra từ chữ Hy lạp có nghĩa là "chú ý với lo sợ". Những gì họ trông thấy đều là những việc siêu nhiên. Đây là một sự tuôn tràn không dứt của những sự chữa lành bằng phép lạ xảy ra tức thì. Mác 7:37 chép: "Chúng lại lấy làm lạ quá đỗi mà rằng: Ngài làm mọi việc được tốt lành".
2. Họ đã trông thấy những gì vậy? Họ đã nhìn thấy "kẻ câm được nói, kẻ tàn tật được khỏi, kẻ què được đi, kẻ đui được sáng".
John MacArthur viết: "Tưởng tượng những tiếng kêu van xin cứu giúp pha trộn với âm thanh vui mừng thì chẳng khó đâu, khi một số người chạy đến với Chúa Jêsus thì bịnh tật, trong khi nhiều người khác đang rời khỏi đó được chữa lành và mạnh khoẻ. Dân chúng kẻ đau bịnh vừa được chữa lành; còn có người thì đến với một tay hay một chân khi ra về thì đủ tay đủ chân; có người thì mù loà, điếc lác khi ra về thì họ hô to và nghe được. Có người chưa hề nói một câu nào giờ đây đang hô lên những lời ngợi khen Chúa Jêsus. Có người chưa hề đi một bước nào giờ đây nhảy nhót và chạy đi với niềm vui khôn xiết".
3. Họ đã đáp ứng ra sao? Họ "đều ngợi khen Đức Chúa Trời của Israel". Họ vốn biết rõ các thần dân Ngoại của họ không thể làm được những gì đang xảy ra ở trước mắt họ. Họ biết rõ rằng Chúa Jêsus là một người Do thái và Ngài đã làm ra mọi sự nầy nhơn danh Đức Giêhôva, vì vậy họ đã thờ lạy Ngài.

III. Sự thương xót dành cho một đoàn dân đang đói khát (các câu 32-39).

A. Việc cho 4.000 người ăn là một phép lạ đặc biệt đối với việc cho 5.000 người ăn.
1. Hai phép lạ nầy đã bị những người thuộc phái phê bình công kích thực sự là hai phần mô tả mâu thuẫn trong việc cho đoàn dân đông ăn trong chương 14. Có nhiều điểm khác biệt trong hai sự cố nầy.
2. Bằng chứng mà những người thuộc phái phê bình sử dụng là các môn đồ thắc mắc trong câu 33: "Ở nơi đồng vắng nầy, ta há dễ kiếm đâu đủ bánh, đặng cho dân đông dường ấy ăn no nê sao?" Ở phép lạ đầu tiên trong chương 14, các môn đồ đã hoài nghi khả năng cho người ta ăn của Chúa Jêsus. Lần nầy, họ chỉ thắc mắc với Chúa Jêsus làm sao Ngài cho đoàn dân đông ăn đây!?! Chúa Jêsus không hề làm cùng một phép lạ hai lần đâu.
3. Có vài điểm khác biệt lớn giữa hai phép lạ:
a. 5.000 người đã ở với Chúa Jêsus chỉ trong một ngày thôi. Còn 4.000 người đã ở với Chúa Jêsus những ba ngày.
b. Với phép lạ đầu tiên, các môn đồ được truyền cho phải đi tìm đồ ăn. Với phép lạ thứ hai, họ đã có sẵn đồ ăn rồi.
c. 5.000 người được cho ăn từ 5 cái bánh và 2 con cá, trong khi 4.000 người được cho ăn từ 7 cái bánh và "vài con cá".
d. Lần thứ nhứt, đám đông được truyền cho phải ngồi xuống trên thảm cỏ. Lần thứ hai họ đã ngồi trên mặt đất.
e. Với 5.000 người, Chúa Jêsus đã chúc phước theo truyền khẩu của người Do thái. Với 4.000 người, đã có hai lời cầu nguyện.
f. Sau phép lạ thứ nhứt 12 giỏ bánh thừa còn dư lại. Sau phép lạ thứ hai, còn dư 7.
g. Trong câu 19, Chúa Jêsus đưa ra một sự phân biệt giữa hai phép lạ cho các môn đồ thấy.
h. Sau cùng, các phép lạ đã được làm ra vì hai nhóm người đối ngược nhau. 5.000 người kia đều là khán thính giả người Do thái. Còn 4.000 người nầy phần lớn đều là dân Ngoại.
B. Chúa Jêsus luận lẽ với các môn đồ (các câu 32-34).
1. Chúng ta đã học biết trong câu 32 rằng đám dân đông giờ đây đã ở với Chúa Jêsus trong "ba ngày". Dịch vụ chữa lành nầy không kết thúc trong một bữa trưa mà kéo dài tới 72 giờ đồng hồ. Chắc chắn mọi người kể cả Chúa Jêsus đều rất mệt mỏi. Tôi tin họ đã ở lại và Ngài tiếp tục chữa lành cho tới chừng mọi nhu cần đều được thoả mãn.
2. Tại điểm nầy, Chúa Jêsus "gọi môn đồ đến". Không những Ngài muốn họ hiểu điều gì đang xảy ra, mà còn phải hiểu rõ Ngài cảm nhận thể nào về dân chúng nữa.
3. Ngài phán: "Ta thương xót đoàn dân nầy; vì đã ba ngày ở cùng ta, bây giờ không có chi ăn hết".
4. "Thương xót" ở đây đến từ một chữ Hy lạp có nghĩa là "cảm động ở trong lòng" là chỗ người xưa suy nghĩ giống như ngai của tình cảm vậy. Từ ngữ nầy dịch trong văn hoá của chúng ta là "một sự đau lòng". Có người xác định từ nầy như sau: "cảm giác thông cảm sâu sắc, buồn rầu, kèm theo một sự khao khát mạnh mẽ muốn cho nỗi đau khổ được vơi đi và cất bỏ nguyên nhân của nó".
5. Chúa Jêsus đã động lòng thương xót đối với mọi nhu cần thuộc linh của dân chúng. Ngài đã động lòng thương xót trước sự đau khổ về phần xác của họ. Tuy nhiên, Ngài không ngừng lại ở đó. Ngài đã động lòng thương xót đối với sự đói khát ở trong bụng của họ nữa.
6. Đôi khi chúng ta, những người tin Chúa trong thời buổi hiện đại có thể trở nên thiển cận trước nhu cần cấp bách của người ta. Trong khi tôi không có ý khích một “tin lành xã hội”, chúng ta phải nhớ rằng đôi khi chúng ta có được cơ hội làm thoả mãn nhu cầu quan trọng nhất (ơn cứu rỗi) của người ta nếu chúng ta làm thoả mãn nhu cầu cấp bách nhất của họ (đói bụng). Đây là khuôn mẫu của Chúa Jêsus.
7. Ngài phán: "Ta không muốn để họ nhịn đói mà về, e phải mệt lủi dọc đường chăng". Mặc dù dân chúng rất phởn phơ vì sự chữa lành của họ, mặc dù họ lấy làm vui vẻ lắm bởi sự thờ lạy đáng kính sợ của họ, Chúa Jêsus không muốn họ “mệt lủi” hay xỉu trên đường họ về nhà vì họ chưa ăn uống chi hết.
8. Kế đó, các môn đồ đã hỏi thật ngô nghê, với cái nhìn đầu tiên thì thật là như thế: "Ở nơi đồng vắng nầy, ta há dễ kiếm đâu đủ bánh, đặng cho dân đông dường ấy ăn no nê sao?" Há họ chưa trông thấy Ngài cho một đoàn dân ăn còn đông hơn ở gần Bếtsaiđa với khẫu phần ăn trưa của một cậu bé sao?
9. Rõ ràng họ đã nhớ lại. Tôi tin họ muốn nói: "Lạy Chúa, chúng con vô quyền ở chỗ nầy, trong đồng vắng hoang vu nầy, chúng con không thể cho đám dân nầy ăn giống như cho đám dân đông hơn ăn ở gần Bếtsaiđa được". Chẳng có bằng chứng nào cho thấy họ nghi ngờ Chúa Jêsus cả. Họ chỉ hỏi: "Ngài muốn chúng con phải làm gì đây?"
10. Chúa Jêsus hỏi: "Các ngươi có mấy cái bánh?" Nói cách khác: "Từ số bánh mang theo, chúng ta còn bao nhiêu?" Họ đáp: "Có bảy cái bánh, cùng vài con cá".
C. Chúa Jêsus cho dân chúng ăn (các câu 35-39).
1. Chúa Jêsus "biểu dân chúng ngồi xuống đất". Có lẽ một lần nữa Ngài đã bảo họ ngồi thành từng nhóm một trăm và năm chục như Ngài đã làm lần trước (đối chiếu Mác 6:40).
2. Kế đó Ngài "lấy bảy cái bánh và cá; tạ ơn rồi". Cũng vậy, quí vị có ngừng lại để tạ ơn Chúa khi quí vị ngồi xuống ăn không? Nếu Chúa Jêsus đã tạ ơn, chúng ta bày tỏ ra lòng biết ơn còn nhiều hơn, quan trọng hơn dường bao vì  có “bánh ăn mỗi ngày”.
3. Chúa Jêsus "bẻ bánh ra đưa cho môn đồ". Câu nầy cũng được dịch là "Ngài cứ giữ việc bẻ bánh". Thức ăn càng tăng nhiều thêm thật lạ lùng ở trong hai bàn tay Ngài. Các môn đồ khi ấy mới "phân phát cho dân chúng".
4. Câu 37 chép "ai nấy ăn" và tất cả đều "no cả". Chúa Jêsus làm thoả mãn một cách hoàn toàn. Khi bữa ăn xong rồi, bánh thừa "lượm được bảy giỏ đầy".
5. Từ Hy lạp nói tới "giỏ" đề cập tới một cái giỏ lớn, lớn đủ chứa một người lớn. Đây là loại giỏ mà Saulơ được dòng xuống trong đó qua bức tường ở thành Đa mách (Công Vụ các Sứ Đồ 9:25).
6. Họ bắt đầu với "bảy" cái bánh rồi kết thúc với "bảy giỏ đầy". Chúa Jêsus đã phán trong Luca 6:38: "Hãy cho, người sẽ cho mình; họ sẽ lấy đấu lớn, nhận, lắc cho đầy tràn, mà nộp trong lòng các ngươi; vì các ngươi lường mực nào, thì họ cũng lường lại cho các ngươi mực ấy".
7. Khi "số người ăn là bốn ngàn, không kể đờn bà con trẻ" đều đã no nê rồi, Chúa Jêsus mới sai họ về và dùng thuyền băng qua bờ cõi xứ "Magađan".

IV. Các bài học về lòng thương xót.

A. Đức tin rất hay lây.
1. "Người đờn bà Sirô Phênixi" không nghi ngờ chi nữa đã giúp góp phần cho "đoàn dân đông" chạy đến với Chúa Jêsus ở Đêcabôlơ.
2. Sự phấn hưng tác động y như thế. Khi chúng ta tin Đức Chúa Trời đối với những việc lớn và chúng ta thấy Ngài đang tác động trong đời sống của chúng ta, chúng ta không thể giữ đức tin ấy cho chính mình. Chúng ta muốn phân biệt Đức Chúa Trời đang tác động ở chỗ nào rồi hiệp tác với Ngài ở chỗ đó.
B. Chúa Jêsus là một Cứu Chúa toàn năng.
1. Ngài "chữa lành cho họ" cả thảy, thậm chí những kẻ "tàn tật" hay hoàn toàn lặt lìa. Không những Ngài đã chữa lành cho họ, Ngài còn cho họ ăn nữa. Ngài vốn quan tâm đến từng phương diện trong đời sống của họ.
2. Ngài vốn quan tâm đến từng phương diện trong đời sống chúng ta nữa. Chúng ta cần phải đến với Ngài cùng với từng nhu cần, cho dù nhu cần đó có nhỏ nhắn ra sao đi nữa.
3. II Phierơ 1:3 chép: "Quyền phép Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính…".
C. Chúng ta phải chia sẻ trong ơn thương xót của Cứu Chúa. Hãy chú ý cách thức Chúa Jêsus đưa các môn đồ vào trong sự phục vụ dân chúng. Về sau, trong Công Vụ các Sứ Đồ chúng ta đọc thấy thể nào họ biết quan tâm đến người nghèo thiếu.
Có một phụ nữ từng tìm cách ám sát Nữ Hoàng Elizabeth. Nữ Hoàng hỏi: "Nếu ta gia ơn cho ngươi, ngươi sẽ đưa ra lời hứa như thế nào trong tương lai?" Phụ nữ kia ngước mắt nhìn lên đáp: "Ơn có điều kiện, ơn có sự đề phòng, thì chẳng phải là ơn chi cả". Nữ Hoàng suy nghĩ một chút rồi nói: "Ngươi nói đúng. Ta tha cho ngươi theo ơn của ta". Lịch sử cho chúng ta biết kể từ giây phút ấy Nữ Hoàng Elizabeth không cần có thêm tôi tớ dâng mình trung tín hơn người đờn bà từng dự tính cất lấy mạng sống của bà.

***