Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Bài 69: Mathiơ 18:21-35: "Tha Thứ Cho Con Cái Đức Chúa Trời"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Tha thứ cho con cái Đức Chúa Trời
Mathiơ 18:21-35

1. Tuần nầy, tôi có đọc về một vị Mục sư đến giảng cho một nhóm được chọn học về đề tài hôn nhân. Ông hỏi lớp học: "Có ai trong quí vị biết Đức Chúa Trời nói gì về hôn nhân không?" Ngay lập tức một cậu bé giơ tay vẫy tới vẫy lui cho tới khi vị Mục sư gọi đến nó. Ông hỏi: “Nào, Đức Chúa Trời nói gì về hôn nhân?” Cậu bé đáp ngay: "Xin Cha tha thứ cho họ vì họ không biết mình làm điều gì". Tôi tưởng rằng câu nói ấy đã dạy cho chúng ta đôi điều về hôn nhân sự tha thứ!
2. Không một điều gì thường hay có trong bổn tánh của Đức Chúa Trời cho bằng sự tha thứ. Không một điều gì xa lạ đối với bổn tánh của con người cho bằng sự tha thứ. Vua Louis XII của nước Pháp từng lưu ý: "Không một mùi gì ngửi dễ chịu cho bằng thi hài đã chết của kẻ thù mình ".
3. Khi Chúa Jêsus chú về đời sống của một người, Ngài bắt đầu dời đi tội lỗi rồi thay thế nó bằng sự công bình. Ngài cất bỏ sự giận dữ, thù hận, cay đắng rồi dựng lên ân điển và sự tha thứ.
A. Bổn tánh của Chúa Jêsus có thể được thấy trong lời lẽ của Ngài trên thập tự giá. Sau khi bị đánh đòn, bị thử thách, bị khạc nhổ rồi bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài đã cầu nguyện: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì" (Luca 23:34).
B. Êtiên, người tuận đạo đầu tiên của Hội Thánh đã noi theo gương của Chúa Jêsus. Khi ông bị ném đá cho tới chết, ông đã kêu lên: "Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy trên họ" (Công Vụ các Sứ Đồ 7:60).
C. Sau khi Giacốp qua đời, các anh của Giôsép e sợ ông sẽ báo thù vì họ đã bán ông làm nô lệ, Giôsép đã nói: "Các anh đừng sợ chi, vì tôi há thay mặt Đức Chúa Trời sao? Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều người, y như đã xảy đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông đảo. Vậy, đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng các anh và con cái các anh. Đoạn, Giô-sép an ủi các anh, và lấy lời êm dịu mà nói cùng họ" (Sáng thế ký 50:19-21).
D. Mặc dù Vua Saulơ thường hay tìm cách giết David, người vừa lòng Đức Chúa Trời đã từ chối không thực hiện sự báo thù. Ông đã nói trong I Samuên 24:12: "Đức Giê-hô-va sẽ đoán xét cha và tôi. Đức Giê-hô-va sẽ báo thù cha cho tôi, nhưng tôi không tra tay vào mình cha".
E. Êphêsô 4:32 chép: "Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy".
F. Côlôse 3:13 cho chúng ta biết phải "nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy".
4. Tha thứ là một sự ban hiến và tạo ra lối thoát. Tội lỗi xây các bức tường giữa chúng ta và sự tha thứ đánh hạ chúng xuống. Tội lỗi tạo ra những đường nứt lớn phân chia chúng ta, còn tha thứ bắc các nhịp cầu ngang qua chúng. Tha thứ rất quan trọng cho sức khoẻ và cho sự hiệp một của Hội Thánh.
Không bao lâu trước khi bà qua đời vào năm 1988, trong một phút đứng trước vô tuyến truyền hình, Marghanita Laski, một trong những tiểu thuyết gia và nghiên cứu sinh nổi tiếng, đã nói: "Cái điều tôi ganh tỵ về các bạn, những Cơ đốc nhân, là sự tha thứ của các bạn; tôi chẳng có ai tha thứ cho tôi hết" (John Stott, The Contemporary Christian).
5. Phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta được thấy ở giữa sự dạy của Chúa Jêsus về con cái của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus gọi một "đứa trẻ" và có lẽ đang bồng nó bên hông Ngài "ở giữa" các môn đồ. Ngài dạy rằng trừ phi chúng ta trở nên giống như "những đứa trẻ" chúng ta sẽ không có cách gì để vào trong nước trời được (câu 3). Ngài dạy rằng người nào "trở nên khiêm nhường như đứa trẻ nầy""lớn hơn hết trong nước thiên đàng". Trong các câu 6-9, Chúa Jêsus phán về sự bảo hộ "những đứa trẻ nầy", là con cái thuộc linh của Đức Chúa Trời. Trong các câu 10-14, Chúa Jêsus dạy rằng chúng ta đừng "khinh dể" chúng, mà phải chăm sóc chúng. Trong các câu 15-20, chúng ta được truyền cho phải kỷ luật con cái của Đức Chúa Trời. Giờ đây Chúa Jêsus hướng trọng tâm vào sự tha thứ.
I. Một câu hỏi về sự tha thứ (các câu 21-22).
A. Thắc mắc của Phierơ. Giới hạn của sự tha thứ (câu 21).
1. Chúng ta hãy đọc: "anh em ngươi phạm tội cùng ngươi" và quí vị "hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người" theo như Chúa Jêsus truyền dạy ở trong câu 15. Chúng ta hãy đọc rằng nếu như người "nghe lời". Người xưng tội rồi cầu xin sự tha thứ. Ngay lập tức quí vị chấp nhận tha thứ. Quí vị cùng cầu nguyện, khóc lóc và ôm hôn. Bức tường phân cách bị nứt vỡ ra. Một nhịp cầu ân điển đã bắc ngang qua đường nứt mích lòng. Quí vị đã "được lại người". Bây giờ chúng ta hãy đọc sáu tuần lễ sau đó "nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi" một lần nữa… cùng một bài ca, câu thứ hai. Quí vị sẽ làm gì?
2. Phierơ có cùng tư tưởng khi ông hỏi: "Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần?" Phierơ có một thói quen đưa ra những thắc mắc như thế.
3. Ông biết rằng người ta thường phạm tội, tiếp nhận sự tha thứ và trong vòng một thời gian ngắn lại sa vào tội ấy hoặc tệ hại hơn.
4. Ông lấy làm lạ khi thấy tiến trình nầy cứ tiếp diễn hoài. Dòng thắc mắc sau cùng là tha cho họ mấy lần?
5. Các rabi Do thái theo truyền khẩu dạy rằng tha thứ đáng được chấp nhận là ba lần dành cho kẻ vi phạm….câu nói xưa về chương trình "sau ba thoi thì bạn có quyền đánh trả lại" theo lẽ công bình ngày nay. Câu nầy chiếu theo cơ sở có ở Gióp 33:29: "Kìa, các việc ấy Đức Chúa Trời làm cho loài người; Đến hai lần, hoặc ba lần" và Amốt 1.
6. Có bao nhiêu người trong chúng ta sẽ tha thứ 7 lần cho một kẻ vi phạm? Hầu hết chúng ta đều vật vã ở hai hay ba lần mà thôi!
Rabi David A. Nelson thích thuật lại câu chuyện kể về hai anh em, họ đi đến gặp rabi của họ để định liệu một cuộc tranh chấp kéo dài. Vị rabi đưa cả hai đến chỗ làm cho mọi dị biệt của họ được hoà lại rồi bắt tay nhau. Khi họ sắp sửa ra về, ông hỏi từng người có muốn đưa ra lời chúc vào dịp đầu năm mới hay không!?! Người anh quay sang em mình nói: "Anh chúc em những điều mà em sẽ chúc cho anh". Khi đó, người em rút tay mình lại rồi nói: "Rabi ơi, hãy xem, anh ấy lại khởi sự chứng nữa rồi!"
7. Chúa Jêsus đã có một ảnh hưởng trên Phierơ. Ân điển thiêng liêng vốn đã cọ xát trên ông. Trong lý trí của Phierơ, ông vốn hồ nghi giới hạn tha thứ của các rabi và thậm chí thêm số lượng đáng kể vào nữa.
8. Có lẽ đây là chỗ kiêu ngạo tự phát của ông, sau khi suy nghĩ trong lòng rằng mình là người cao thượng khi ông đưa ra thắc mắc nầy. Có lẽ ông tưởng Chúa Jêsus có ấn tượng trước thái độ giàu ơn của ông. Chúng ta sẽ học biết rằng ơn được đong đếm thì chẳng phải là ơn chi cả.
B. Câu trả lời của Chúa Jêsus. Tầm cỡ của sự tha thứ (câu 22).
1. Chúa Jêsus đã bật cười khi Ngài phán: "Ta không nói cùng ngươi rằng: đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy". Phierơ đã bị thổi tung đi!
2. Phierơ đã suy nghĩ tới các giới hạn của luật pháp, chớ không phải của ân điển. Luật pháp đang đong đếm. Luật pháp đo lường. Luật pháp giữ các thành tích rất chi tiết. Ân điển thì không như thế đâu. Bản chất của ân điển là không đo đếm và chẳng có ai xứng đáng được nó. Theo cách nói của Spurgeon: "Thương xót đo được không còn là thương xót nữa".
3. Ân điển không có một giới hạn nào hết. Nếu chúng ta tính toán theo giới hạn, chúng ta đang đánh mất ân điển. Khi Chúa Jêsus phán "bảy mươi lần bảy" Ngài không có ý nói bốn trăm chín mươi đâu. Ngài đang sử dụng một lối nói ẩn dụ bảy mươi bảy lần mười ám chỉ rằng chúng ta cần phải tiếp tục tha thứ mà chẳng có giới hạn nào hết.
4. Dường như Chúa Jêsus phán: "Nầy Phierơ, quan niệm tha thứ của ngươi rất rộng rãi theo tiêu chuẩn của truyền khẩu. Tuy nhiên, sự tha thứ của ngươi lại rất bủn xỉn theo tiêu chuẩn của ân điển".
5. Tình yêu của Đức Chúa Trời được mô tả theo từ ngữ Hy lạp agape’. Chúng ta không có một từ Anh ngữ tương đương nào để mô tả tình yêu tự hiến nầy, một tình yêu không có giới hạn nào hết. Về sau trong Giăng 21:16, Chúa Jêsus đã hỏi Phierơ: "Hỡi Simôn, con Giôna, ngươi yêu ta chăng?" Thực ra, Ngài đã hỏi: "Hỡi Phierơ, tình yêu ngươi có những giới hạn nào dành cho ta không?"
6. Chúng ta cần phải tỏ ra tình yêu của Chúa, tình yêu agape’ , tình yêu không giới hạn. Tình yêu nầy được thấy rõ qua sự tha thứ không giới hạn.
7. Hãy nhớ tình yêu nầy đã được dạy trong phạm trù mối tương giao của chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời hay những "con trẻ" của Ngài. Tha thứ cho con cái là điều rất dễ dàng. Là cha mẹ, chúng ta hết lòng yêu thương con cái mình. Chúng ta biết chúng chưa chín chắn và chưa có kinh nghiệm. Chúng ta cho rằng chúng đôi lúc vô lễ và thiếu suy nghĩ. Chúng ta biết đấy là một phần trong sự lớn lên. Chúng ta kỷ luật chúng nhưng chúng ta luôn luôn tha thứ cho chúng vì chúng thuộc về chúng ta.
8. Chúa mong muốn chúng ta phải có cùng thái độ ấy khi "anh em tôi phạm tội". Vì người ấy là một "anh em", người ấy là con cái của Đức Chúa Trời. Người cha có sự tha thứ không giới hạn đối với con ấy.
9. Một lần nữa, Êphêsô 4:32 chép: "Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy".
10. Câu nói quyết định theo ý kiến của tôi là Rôma 5:20: "nhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa". Nếu chúng ta sống giống như Đấng Christ, chúng ta sẽ không để cho tội lỗi của người anh em kia vượt quá ơn của chúng ta.
11. Nếu tôi đã học được một điều trong cách ăn ở cá nhân của tôi với Đấng Christ, thì đó là bám cho thật sát. Giống như mối tương giao theo đường hàng ngang của tôi nương vào mối tương giao theo đường thẳng đứng, mối tương giao theo đường thẳng đứng của tôi với Đức Chúa Trời có thể bị ngăn trở bởi mối tương giao theo đường hàng ngang với các tín hữu khác.
II. Một minh họa của sự tha thứ (các câu 23-35).
A. Lòng thương xót của nhà Vua (các câu 23-27).
1. Để giúp cho Phierơ và những người khác hiểu rõ hơn ơn tha thứ Chúa Jêsus chia sẻ một thí dụ, một câu chuyện phổ thông với một sứ điệp đời đời.
2. Ngài mô tả cho họ thấy "nước thiên đàng". Trong nước của một "vua kia". Tất nhiên trong ẩn dụ nầy vua kia chẳng ai khác hơn là Đức Chúa Cha.
3. Nhà vua muốn "tính sổ" với các tôi tớ mình. Ông muốn triệu tập mọi thứ thuộc về mình. "Đầy tớ" ở đây là một từ phổ thông đề cập tới mọi người dưới quyền của mình.
4. Khi nhà vua bắt đầu "tính sổ" "một" tên đầy tớ đặc biệt được mang đến trước mặt người. Tên nầy mắc nợ nhà vua "một vạn talâng".
5. Có lẽ tên đầy tớ nầy là một người có trách nhiệm rất cao ở trong nước. Có thể hắn là một nhân viên thu thuế, hắn mắc nợ nhà vua vì các thứ thuế phải thu.
6. Hắn mắc nợ "một vạn talâng". Cụm từ nầy ra từ chữ murias là chữ số cao nhất trong tiếng Hy lạp, một con số vô hạn, không đếm được đôi khi được dịch là "myriads" (mười nghìn).
7. Đây là một món nợ không tính được và không trả nổi. Nó tiêu biểu cho món nợ tội của từng người. Chúng ta không thể trả được món nợ đó. David đã nói trong Thi thiên 51:4: "Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, và làm điều ác trước mặt Chúa; Hầu cho Chúa được xưng công bình khi Chúa phán, và được thanh sạch khi Chúa xét đoán".
8. Bản án chung nhất, ấy là người bị "bán" như một nô lệ cùng với "vợ con người". Dĩ nhiên, điều nầy tiêu biểu cho địa ngục, án phạt đời đời.
9. Nhà vua tiêu biểu cho Đức Chúa Trời. Tên đầy tớ tiêu biểu cho người không tin Chúa và món nợ không tính được kia tiêu biểu cho tội lỗi của chúng ta.
10. Hãy lưu ý rằng tên đầy tớ "sấp mình xuống" rồi đau khổ kêu van: "Thưa chủ, xin giãn cho tôi, thì tôi sẽ trả hết!" Hy vọng duy nhất của con người là "sấp mình xuống" trước mặt Đức Chúa Trời và nài xin ơn thương xót.
11. Nhà vua vốn biết rõ tên đầy tớ sẽ không thể trả nổi món nợ và "động lòng thương xót thả người về" rồi "tha nợ cho". Cũng một thể ấy khi chúng ta xưng tội mình và cầu xin sự tha thứ, Đức Chúa Trời "là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta" (Êphêsô 2:4) "thả người về" rồi "tha nợ cho" chúng ta về tội lỗi. Ngài buông tha cho chúng ta được tự do! Có còn nhớ giây phút ấy không?!!!
B. Tánh ác độc của tên đầy tớ (các câu 28-30).
1. Dường như không bao lâu sau khi hắn ta đã được tha, tên đầy tớ ấy "gặp một người trong bạn làm việc, có thiếu mình một trăm đơ-ni-ê" (khoảng tiền 100 ngày công). Hắn "nắm bóp cổ bạn!" rồi đòi trả nợ.
2. Người nầy đã được tha một món nợ không thể tưởng tượng được giờ đây đã trổ bạo lực đòi trả một món nợ nhỏ.
3. Tên đầy tớ thứ hai cũng "nài xin" được thương xót. Hãy chú ý hắn hay sử dụng cùng những từ ngữ mà tên đầy tớ thứ nhứt đã nói với nhà vua (hãy so sánh các câu 26, 29).
4. Chỉ vô ích thôi cho án phạt hắn bị ném vào “nhà tù” của chủ nợ.
5. Nhờ huyết của thập tự giá Ngài, Chúa Jêsus đã trả món nợ tội của chúng ta. "Tôi mắc một món nợ mà tôi không thể trả, Ngài đã trả một món nợ mà Ngài không mắc". Tuy nhiên, khi chúng ta đặt một giới hạn cho sự tha thứ, khi chúng ta từ chối ban ra ân điển cách liên tục, chúng ta đang sống giống như tên đầy tớ gian ác nầy.
6. Nếu Đức Chúa Trời trong ân điển của Ngài đã tha thứ cho chúng ta cả một đời tội lỗi, chúng ta là ai mà cầm giữ sự tha thứ lại vì những sai phạm nhỏ nhoi? Lẽ nào chúng ta dám đặt một giới hạn lên ân điển sao?
C. Sự phán xét của nhà Vua (các câu 31-34).
1. "Các bạn… buồn lắm". Khi chúng ta thất bại không ưng ban ra sự tha thứ, chúng ta đang làm tổn thương mọi người ở chung quanh chúng ta.
2. Họ "đến thuật lại cùng chủ mình mọi điều đã xảy ra". Chúng ta đang tự dối mình nếu chúng ta nghĩ Đức Chúa Trời không để ý tới sự chúng ta thiếu sót ơn tha thứ.
3. Nhà vua cho đòi tên đầy tớ gian ác đến quở trách. Vua gọi hắn là "đầy tớ độc ác". Ông ao ước tên đầy tớ nầy tha thứ giống như mình đã tha thứ vậy (câu 33).
4. Vì lẽ đó vua đã "phú nó… cho kẻ giữ ngục" cho tới chừng nào nó "trả xong hết nợ".
5. Một số giáo sư Kinh Thánh cho rằng điều nầy có nghĩa là tên đầy tớ phải quay trở lại với món nợ nguyên thuỷ của mình. Nếu thực như thế, thì ơn cứu rỗi chỉ là thời gian hay ơn tha thứ của Đức Chúa Trời là ơn có điều kiện. Tôi không chấp nhận như thế. Đây là phần kỷ luật của Đức Chúa Trời.
D. Nguyên tắc của sự tha thứ (câu 35).
Chúa Jêsus đã phán "Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy". Đức Chúa Trời sẽ tỏ ra kỷ luật trên đời sống chúng ta nếu chúng ta thất bại không biết tha thứ.
Các chuyến bay của những nhà dịch thuật Kinh Thánh đã bay trên hàng ngàn giờ trong 25 năm mà không có một tai nạn rủi ro nào trước ngày 7 tháng 4 năm 1972. Vào ngày ấy, một chiếc Piper Aztec đã chết máy và rơi ở Papua New Guinea, làm chết tất cả 7 người. Chiếc máy bay vừa nhận được một cuộc kiểm tra 100 giờ. Thợ cơ khí đã rà soát lại trong trí mình từng bước mà ông đã thực hiện khi kiểm tra máy móc chiếc máy bay đó. Với sự hoảng hốt ông ta nhớ rằng mình đã bị chận ngang khi siết chặt ống xăng và không trở lại hoàn tất được việc ấy! Lỗi lầm của ông đã nghiền nát ông. Ông không biết phải làm gì đây!?! Chẳng ai đến an ủi ông. Sau cùng ông đến với gia đình viên phi công Doug Hunt. Ông chỉ có thể nói được ít lời mà thôi, ông nói: "Đây, bàn tay nầy đã cướp đi mạng sống của Doug". Glennis Hunt, vợ goá của Doug, đã ôm chầm lấy ông. Về sau ông viết: "Glennis đến ngồi bên cạnh tôi rồi nắm lấy bàn tay đã cướp mất mạng sống của chồng bà ấy, và viên phi công khác đến ngồi phía bên nầy tôi với một thái độ bày tỏ ra tình yêu thương, yên ủi và tha thứ. Đó là bước đầu tiên rất có ý nghĩa trong quá trình chữa lành" (Max Lucado, God Came Near, 1987, p. 101).

***


Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

Bài 68: Mathiơ 18:15-20: "Kỷ Luật Theo Kinh Thánh"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Kỷ luật theo Kinh Thánh
Mathiơ 18:15-20
1. Phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta nằm giữa sự dạy của Chúa Jêsus liên quan tới con cái của Đức Chúa Trời. Chương nầy mở đầu với Cứu Chúa gọi một "đứa trẻ" đến và có lẽ đang bồng nó bên hông Ngài "ở giữa" các môn đồ. Ngài dạy cho họ biết rằng trừ phi chúng ta trở nên như "đứa trẻ" chúng ta sẽ "chẳng được vào nước thiên đàng đâu" (câu 3). Ngài cũng dạy rằng người nào "trở nên khiêm nhường như đứa trẻ" sẽ là "lớn hơn hết trong nước thiên đàng". Trong các câu 6-9, Chúa Jêsus cảnh cáo những ai gây cho "những đứa nhỏ nầy" là con cái thuộc linh của Đức Chúa Trời, "sa vào tội lỗi" hay sa ngã. Trong các câu 10-14, Chúa Jêsus dạy rằng chúng ta không nên "khinh dể một đứa nào trong những đứa trẻ nầy", chúng ta đừng coi thường bất kỳ người nào trong vòng con cái của Đức Chúa Trời. Thậm chí đối với những người đã lạc sai, Chúa Jêsus Đấng Chăn của dân Ngoại, sẽ tìm kiếm và đem họ về nhà. Đức Chúa Trời không muốn bất kỳ ai trong số họ sẽ bị "hư mất" hoặc giả họ trở nên vô dụng cho Nước Trời.
2. Phân đoạn Kinh Thánh nầy dạy dỗ với đề tài kỷ luật, sửa phạt con cái của Đức Chúa Trời khi họ sai lạc. Là bậc làm cha mẹ, chúng ta hiểu tầm quan trọng của kỷ luật. Châm ngôn 13:24 chép: "Người nào kiêng roi vọt ghét con trai mình; Song ai thương con ắt cần lo sửa trị nó". Khi con cái chúng ta loạn nghịch, chúng ta sử dụng kỷ luật để đem chúng trở lại với sự vâng phục. Kỷ luật là một công cụ cho sự dạy dỗ. Ngay cả từ “kỷ luật” (disciple) đã bắt rễ từ chữ “chức năng môn đồ” (discipleship).
3. Là Cha chúng ta ở trên trời, Đức Chúa Trời kỷ luật chúng ta, là con cái của Ngài. Châm ngôn 3:11-12 chép: "Hỡi con, chớ khinh điều sửa phạt của Đức Giê-hô-va, chớ hiềm lòng khi Ngài quở trách; Vì Đức Giê-hô-va yêu thương ai thì trách phạt nấy. Như một người cha đối cùng con trai yêu dấu mình". Đức Chúa Trời sử dụng mọi hoàn cảnh để đem chúng ta trở lại khi chúng ta lạc sai. Hêbơrơ 12:7-8 chép: "Ví bằng anh em chịu sửa phạt, ấy là Đức Chúa Trời đãi anh em như con, vì có người nào là con mà cha không sửa phạt? Nhưng nếu anh em được khỏi sự sửa phạt mà ai nấy cũng phải chịu, thì anh em là con ngoại tình, chớ không phải con thật".
4. Không những Đức Chúa Trời kỷ luật con cái Ngài, mà Ngài còn đưa hết thảy các tín đồ vào trong vòng kỷ luật nữa. Trong phân đoạn nầy Chúa Jêsus dạy chúng ta mọi điều phải làm "nếu anh em ngươi phạm tội". Chúng ta hãy tiếp thu ba lẽ thật về kỷ luật theo Kinh Thánh.
I. Kỷ luật theo Kinh Thánh rất cần thiết.
Lưu ý bốn lý do để thực thi kỷ luật.
A. Kỷ luật giữ cho Hội Thánh được tinh sạch.
1. Đức Chúa Trời rất nghiêm khắc về sự tinh sạch. Ngài muốn chúng ta sống trong sự thánh khiết. Ngài phán trong I Phierơ 1:16: "Hãy nên thánh, vì ta là thánh" (đối chiếu Lêvi ký 11:44).
2. Chúng ta nghe rao giảng và dạy dỗ nhiều về tình yêu thương, ân điển, sự thương xót và ơn tha thứ của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, có một sự thiếu sót lớn trong sự dạy dỗ về mong muốn của Ngài về tình trạng thanh sạch. Đức Chúa Trời ao ước rằng con cái Ngài phải "đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng" (I Giăng 1:7). Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải đương diện với tội lỗi của mình. Ngài muốn sự thánh khiết chớ không muốn sự giả hình.
3. Trong Công Vụ các Sứ Đồ 5:1-11, chúng ta học biết về tội lỗi của A-na-nia và Sa-phia-ra, hai Cơ đốc nhân đầu tiên đã nói dối Đức Thánh Linh mà giữ lại phần lẽ ra phải dâng hiến cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã đánh họ, cả hai đều ngã chết. Câu 11 đặc biệt chép: "Cả Hội thánh đều rất sợ hãi, cho đến người nào nghe tin cũng vậy".
4. Vì người thành Côrinhtô với tình trạng bất kỉnh của họ, đã làm ô uế Tiệc Thánh của Chúa tại các buổi thờ phượng chung, Đức Chúa Trời đành phải đưa đến kỷ luật nghiêm khắc. I Côrinhtô 11:30-31 chép: "Ấy vì cớ đó mà trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ. Nếu chúng ta biết xét đoán lấy mình, thì khỏi bị xét đoán". Khiến cho họ phải sợ hãi tội lỗi, điều nầy đã bảo vệ tình trạng tinh sạch của các Hội Thánh nầy.
5. Mặc dù Đức Chúa Trời đưa ra kỷ luật thiên thượng, Ngài mong mỏi chúng ta phải dè chừng bản thân mình. Galati 6:1 chép: "Hỡi anh em, ví bằng có người nào tình cờ phạm lỗi gì, anh em là kẻ có Đức Thánh Linh, hãy lấy lòng mềm mại mà sửa họ lại; chính mình anh em lại phải giữ, e cũng bị dỗ dành chăng".
B. Kỷ luật cung ứng sự bảo hộ cho người tín đồ.
Khi chúng ta xa cách Chúa và sa vào tội lỗi, khi chúng ta ý thức mình đang đi trong tối tăm, chúng ta đang đặt bản thân mình và những người quanh chúng ta vào sự nguy hiểm.
Một vị Mục sư bạn, ông lớn lên ở Nam Florida, thuật lại câu chuyện khi ông còn là một thiếu niên, ông và nhóm bạn cùng lội qua một con rạch. Mẹ ông trông thấy ông và hoàn toàn làm cho ông phải lúng túng bằng cách kêu la lên buộc hết thảy phải lên khỏi nước. Khi ông nói với mẹ mình về sự lúng túng mà ông đã có, bà nói: "Con ơi, có nhiều cá sấu trong con rạch đó lắm. Mẹ chỉ bảo vệ cho con và các bạn của con đấy thôi".
C. Kỷ luật khẳng định giá trị của từng tín đồ.
1. Các câu 12-13 mô tả Chúa Jêsus là một người chăn, để 99 con lại rồi đi tìm một con đi lạc.
2. Chúng ta đừng "khinh dể" các tín hữu khác vì họ thuộc về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không muốn "một đứa nào trong những đứa trẻ nầy phải hư mất" hoặc phải vô dụng đối với Nước Trời. Kỷ luật của Đức Chúa Trời là bằng chứng cho tình yêu thương sâu rộng của Ngài.
D. Kỷ luật duy trì mạng lịnh của Đức Chúa Trời.
1. Quở trách tín hữu khác là điều rất khó. Nó đòi hỏi lòng can đảm và đức tin. Tôi nghĩ đây là lý do tại sao có rất ít kỷ luật trong các Hội Thánh ngày nay. Chúng ta đã e sợ. Thôi thì ngồi lê đôi mách về tội lỗi của ai đó còn an toàn hơn là lấy lòng yêu thương quở trách họ.
2. Dù vậy, Đức Chúa Trời không ban kỷ luật cho chúng ta như một sự lựa chọn đâu. Đây là một mạng lịnh. Chúa Jêsus phán trong câu 15: "Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người…".
II. Kỷ luật theo Kinh Thánh có một quá trình (các câu 15-17).
A. Bước #1. Một sự gặp gỡ riêng tư (câu 15).
1. Ai là người phải chịu kỷ luật? Đó là một "anh em" hay một tín hữu, chớ không phải người chưa tin Chúa, mà là một tín đồ hẳn hòi. Bất kỳ một tín đồ nào sa vào tội cố ý liên tục, chính là người phải được gặp gỡ. Kể cả hết thảy chúng ta, Mục sư cũng không được miễn trừ. Mỗi một người chúng ta phải được gặp gỡ khi chúng ta phạm tội.
2. "Tội" ở đây là từ ngữ thông thường trong Tân ước nói tới tội lỗi. Về cơ bản từ nầy có nghĩa là "bỏ qua dấu hiệu". Hiển nhiên là chúng ta không phải là cảnh sát hay thám tử của nhau. Chúng ta cần phải nhận chân những tội lỗi có tính huỷ diệt liên tục nơi mỗi người khác.
3. Điều nầy có thể gây mích lòng nhau. Một số bản dịch nói trong câu 15: "nếu anh em ngươi phạm tội nghịch cùng ngươi". Tuy nhiên, câu nầy nói tới hết thảy mọi người. Bất kỳ một tội lỗi nào hiển nhiên trong đời sống quí vị là tội lỗi nghịch lại Đức Chúa Trời và "nghịch lại quí vị". I Côrinhtô 5:6 chép: "Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao?"
4. Quở trách cần phải diễn ra cách mau chóng, ngay sau khi sự việc đã được biết rõ. Tại sao vậy? Nếu chúng ta để cho tội lỗi cứ tiến triển, nó lớn lên và khó mà thắng hơn được nó. Trong trường hợp mích lòng cá nhân, thời gian trôi qua giận dữ sẽ nổi lên, tức tối và cay đắng thấm dần vào mối giao hảo.
5. Ai sẽ đối diện với người anh em phạm tội? Câu trả lời là bất cứ tín đồ nào. Đây không phải là bổn phận của Mục sư hay các cấp lãnh đạo Hội Thánh. Đây là bổn phận của quí vị.
6. "Trách" ra từ một động từ Hy lạp có nghĩa là "đem ra ánh sáng" hay giúp cho người nhìn thấy lỗi lầm của người. Đôi khi chúng ta không nhận ra lỗi lầm nào đó.
7. Chúa Jêsus phán: "như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại". Hầu hết kỷ luật của chúng ta đều sẽ kết thúc với một cấp độ riêng tư. "Như người nghe lời", thì chẳng cần ai khác nhìn biết. Quí vị cần phải giữ kín vụ việc theo cách riêng.
8. Mục đích của chúng ta sẽ luôn luôn là "được" anh em lại. Đây là một từ có ý nói tới việc làm lợi hay kiếm được tài chánh nơi khu chợ. Mọi con cái Đức Chúa Trời đều có giá trị. Khi một người được phục hồi, nước Trời đã "được lại" hay có lợi.
9. Chúng ta sẽ bị cám dỗ khi suy nghĩ: "Đây là công việc của Ngài. Tôi là ai mà dính dáng vào? Đừng xét đoán thì không bị xét đoán, có đúng không? Người ấy là trách nhiệm của Đức Chúa Trời". Biết bao nhiêu lần Thân Thể của Đấng Christ đã gánh chịu nhiều mất mát thay vì được lại vì dân sự của Đức Chúa Trời không quan tâm đủ để dính dáng vào.
10. Ai đủ tư cách đối diện với một anh em phạm tội?
a. Thứ nhứt, đấy là người có một tinh thần yêu thương, tử tế. Một lần nữa, Galati 6:1 chép: "Hỡi anh em, ví bằng có người nào tình cờ phạm lỗi gì, anh em là kẻ có Đức Thánh Linh, hãy lấy lòng mềm mại mà sửa họ lại; chính mình anh em lại phải giữ, e cũng bị dỗ dành chăng".
John Newton đã viết: "Khi người ta sống phải lẽ với Đức Chúa Trời, họ có khuynh hướng nghiêm khắc với bản thân họ và dễ dãi với người khác. Còn khi họ không sống phải lẽ với Đức Chúa Trời, họ dễ dãi với bản thân họ và nghiêm khắc với người khác".
b. Thứ hai, người (nam hay nữ) là kẻ rất yêu mến Hội Thánh. Bất kỳ Hội Thánh nào chần chừ không lấy lòng yêu thương sửa sai tội lỗi sẽ không hề tấn tới về mặt thuộc linh hay sự đổ ra của Thánh Linh Đức Chúa Trời.
c. Thứ ba, người (nam hay nữ) là kẻ đương diện với tội lỗi trong chính đời sống của mình. Nhiều lần chúng ta chần chừ không quở trách ai đó vì cớ sự giả hình của chính chúng ta (đối chiếu Mathiơ 7:3-5). Hãy cầu nguyện đi! Hãy cầu xin Đức Chúa Trời trước hết hãy chỉ ra tội lỗi của quí vị!
B. Bước #2. Một cuộc gặp phân nửa riêng tư (câu 16).
1. Nếu người anh em đó "không nghe lời" trong cuộc gặp gỡ riêng tư với quí vị, Chúa Jêsus bảo quí vị phải trở lại với "một hai người đi với ngươi". Ở đây Ngài trưng dẫn tính vô tư của luật pháp "hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn".
2. Mong rằng người anh em phạm tội kia sẽ nhìn thấy mối quan tâm của nhóm đông người hơn và biết ăn năn.
3. Thêm nữa, "hai ba người làm chứng" quyết chắc hay nhất trí với người đã đến gặp trước tiên. Họ sẽ chứng kiến sự quở trách thích đáng theo Kinh Thánh và sự đáp ứng.
C. Bước #3. Một cuộc gặp đông người (câu 17).
1. Chúa Jêsus bảo chúng ta rằng "nếu người không chịu nghe các người đó" họ cần phải "cáo cùng Hội Thánh". Trong phạm trù nầy, rõ ràng là "Hội Thánh" hay ekklesia có ý nói tới một số đông các tín đồ.
2. Đây không phải là phần hành của một nhân viên Ban Trị Sự, mà là của cả thân thể địa phương, dù ít hay nhiều người.
D. Bước #3. Một sự loại trừ (câu 17).
1. Chúa Jêsus phán "lại nếu người không chịu nghe Hội Thánh" nếu người cứ xu hướng về tội lỗi của mình, "thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy". Trong lý trí của người Do thái về các môn đồ: "kẻ ngoại" là người dân Ngoại chẳng có phần gì trong đời sống giao ước của dân sự Đức Chúa Trời. Cần phải lẫn tránh họ. Đúng là điều tệ hại, "kẻ thâu thuế" là một người Do thái phản bội lại dân tộc mình.
2. Chúng ta hãy quay sang I Côrinhtô 5:1-13. Ở đây Phaolô bảo người Côrinhtô "một người như thế phải phó cho quỉ Sa tan, để hủy hoại phần xác thịt".
3. Các tín đồ không chịu ăn năn không còn thưởng thức mối tương giao, sự khích lệ hay sự bảo bọc của Hội Thánh nữa.
4. Trong I Timôthê 1:20, Phaolô nói tới "Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ, ta đã phó cho quỉ Sa-tan rồi, hầu cho họ học biết đừng phạm thượng nữa".
5. Nếu người thực sự là con cái của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời sẽ không quên người đâu. Giống như người con trai hoang đàng, người sẽ quay trở về nhà khi người đau bịnh vì cớ sự bẩn thỉu của chuồng heo.
6. Trách nhiệm của chúng ta là cứ giữ sự cầu nguyện, cứ tìm kiếm những cơ hội để quở trách người. II Têsalônica 3:14-15 bảo chúng ta chớ "…giao thông với họ, hầu cho họ nhân đó biết xấu hổ. Tuy vậy, chớ coi người đó như kẻ nghịch thù, nhưng hãy răn bảo người như anh em vậy".
7. Quá ít Hội Thánh quan tâm đến kỷ luật và họ thường không làm theo phương án nầy của Kinh Thánh.
Phải chăng quí vị đã đối mặt với một anh chị em bị kéo vào trong tội lỗi? Có phải thế không? Sẽ ra sao nếu một sáng Chúa nhựt kia quí vị nhìn thấy một ngọn lửa trong nhà thờ của quí vị? Chẳng lẽ quí vị không lập tức dập tắt nó sao? Tất nhiên rồi. Nếu quí vị không thành công, quí vị sẽ không ngần ngại kêu cầu sự cứu giúp. Nếu hai hay ba người khác không thể giúp đỡ cho quí vị, quí vị phải cáo cho cả Hội Thánh biết. Tội lỗi không được xưng ra, không ai đối diện còn nguy hiểm cho mối tương giao của chúng ta hơn cả bất kỳ một ngọn lửa nào khác nơi sự dễ dãi của chúng ta.
III. Kỷ luật theo Kinh Thánh là kỷ luật có uy quyền (các câu 18-20).
A. Kỷ luật phản ảnh uy quyền của thiên đàng (câu 18).
1. Đã có nhiều sự lý giải sai các câu nầy. Thí dụ, Giáo hội Công giáo La mã sử dụng chúng để dạy rằng giáo hội có thể tha thứ hay ngăn chận các tội lỗi. Hơn nữa, các tín hữu khác sử dụng ý niệm "hai hay ba người" nhất trí trong sự cầu nguyện để nói ra đủ loại yêu cầu từ Đức Chúa Trời, họ tin rằng Đức Chúa Trời bị "buộc" phải trả lời cho sự cầu nguyện của họ. Tôi có nghe nói sự dạy nầy cho rằng cuộc bầu cử ở Hội Thánh địa phương là gắn liền với ý chỉ của thiên đàng.
2. Thắc mắc phát sinh: Thẩm quyền cho sự kỷ luật đặt ở chỗ nào? Trong Mathiơ 28:18, Chúa Jêsus dạy rõ ràng: "Hết cả quyền phép đã ban cho Ta". Chúa Jêsus có "hết thảy quyền phép" và Ngài không giao uy quyền của Ngài cho bất kỳ ai khác. Uy quyền chúng ta xưng nhận khi kỷ luật một tín hữu anh em nằm trong Lời của Đức Chúa Trời.
3. Về mặt văn phạm, các mệnh đề "buộc ở trên trời" "mở ở trên trời" có thể thụ động cách thì tương lai hoàn thành và được dịch chính xác hơn "bị buộc hay mở". Đức Chúa Trời không chiếu theo ý chỉ của Hội Thánh song khi Hội Thánh nương vào uy quyền của Ngôi Lời, hành động của Hội Thánh đã được thiên đàng đồng ý rồi.
4. Một lần nữa chúng ta sẽ thắc mắc: "Chúng ta là ai mà dám đương diện với người khác? Chúng ta nhận lấy uy quyền ấy ở đâu". Chúng ta nhận lấy uy quyền ấy từ Ngôi Lời thành văn.
Hãy tưởng tượng một Cơ đốc nhân muốn để vợ mình rồi lấy một phụ nữ Cơ đốc mà với người nữ nầy Cơ đốc nhân đó có một mối quan hệ tà dâm. Hai trong số họ phải cầu nguyện rồi "buộc" thiên đàng bằng cách cầu xin Đức Chúa Trời cho phép họ ly dị và cho phép họ lấy nhau. Có phải điều nầy sẽ tôn cao lời cầu xin của họ và chúc phước cho mối quan hệ của họ không? Không, không phải như thế đâu vì họ đã vi phạm uy quyền của Lời Ngài.
B. Kỷ luật nương theo sự khẳng định của Đức Chúa Cha (các câu 19-20).
1. Nếu "hai người" (có ý nói tới các chứng nhân trong câu 16), "thuận nhau [sumphoneo] ở dưới đất" về tội lỗi và sự tinh sạch của Hội Thánh, "thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ". Đức Chúa Trời sẽ khẳng định mọi quyết định theo Kinh Thánh của họ.
2. Khi chúng ta nắm lấy phần việc theo Kinh Thánh khi đương diện với tội lỗi, chúng ta không nắm lấy một mình đâu. Mặc dù câu 20 thường được rút ra khỏi văn mạch, sự dạy cho thấy khi chúng ta theo Kinh Thánh hành động để bảo vệ sự tinh sạch của mối tương giao, thậm chí khi "hai hay ba người" bước ra đương diện và quở trách một người anh em phạm tội trong danh của Chúa Jêsus, Ngài "…ở giữa họ". Ngài cùng đi với họ trong quá trình đó.

***