Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

Bài 95: Mathiơ 26:57-68: "CUỘC XÉT XỬ BẤT CÔNG VỀ TÔN GIÁO"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Cuộc xét xử bất công về tôn giáo
Mathiơ 26:57-68
Sau khi Chúa Jêsus bị Giu-đa làm phản rồi bị bọn đông người có vũ trang bắt đi tại vườn Ghết-sê-ma-nê, ngay đêm hôm ấy Ngài bị dẫn đến đối mặt với cuộc xét xử trước bao người Do thái. Toà Công Luận, là hội đồng xét xử cao nhất trong xứ Israel đã phạm cả phần văn tự lẫn tinh thần của luật pháp Môise và phẩm cách địa vị của họ hầu đem lại sự chết của Chúa Jêsus. Mọi sự về cuộc xét xử nầy là bất hợp pháp và bất công.
Với luật pháp thiêng liêng của Đức Chúa Trời đã được ban bố cho Môise trên Núi Sinai, mọi sự đã được thực thi để bảo đảm có sự công bằng và thương xót. Đức Chúa Trời bảo các quan xét của Israel trong Phục truyền luật lệ ký 16:19: "Ngươi chớ làm dịch sự chánh trực, chớ thiên vị ai, cũng chẳng nên nhận của hối lộ; vì của hối lộ làm cho mù mắt kẻ khôn ngoan, và làm rối lời của người công bình". Tuy nhiên phân đoạn Kinh Thánh gốc của chúng ta cho thấy rằng họ đã làm lệch sự công bình, đưa hối lộ cho các nhân chứng và làm rối lời của Con Công Bình của Đức Chúa Trời để làm thoả mãn mọi ham muốn xấu xa của riêng họ .
Toà Công Luận đã được lập làm Toà Án Tối Cao của Israel một thời gian sau cuộc lưu đày ở xứ Babylôn. Dựa theo khuôn mẫu của Môise và 70 trưởng lão trong Dân số ký 11:16, Toà nầy gồm có 71 người. 24 người là thầy tế lễ cả tiêu biểu cho 24 ban tế lễ. 46 người được chọn từ giữa vòng các văn sĩ, người Pharisi và người Sađusê. Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm mang con số 71. Ông ta nắm quyền tối cao toà nầy và là người bỏ phiếu sau cùng trong trường hợp có cần.
Đến thời của Chúa Jêsus, Toà Công Luận là một bộ phận chính trị đồi bại kinh khủng. Người Pharisi có sự tranh chấp, có tính bảo thủ với người Sađusê phóng khoáng. Rôma đã nắm lấy chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm. Tiền lương phải trả cho chức vụ nầy là điều hiển nhiên. Tinh thần đảng phái là luật lệ trong thời buổi ấy. Tuy nhiên, hết thảy họ đều đồng ý trên một việc. Chúa Jêsus người Nazarét phải bị tiêu diệt.
Là toà án cao nhất, Toà Công Luận cần phải thực thi sự công bình. Ở đây cần phải có sự công bình tuyệt đối. Hai người chứng đáng tin có mặt cần cho sự kết tội. Họ cần phải xuất hiện cách công khai. Người bị kiện có quyền mời người chứng vì quyền lợi của mình. Thực ra, nếu quí vị nghiên cứu Phục truyền luật lệ ký19:16-19, quí vị sẽ biết được rằng nếu một người bị rõ ra là kẻ làm chứng dối trong một cuộc xét xử, bản thân người đó sẽ bị kết án tử hình! Tuy nhiên gần như mỗi nguyên tắc trong luật pháp của Đức Chúa Trời đều bị vi phạm hầu đem lại bản án bất công dẫn tới sự đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá.
Khi chúng ta nghiên cứu phân đoạn Kinh Thánh nầy, chúng ta sẽ xem xét năm phương thức chính cho thấy cuộc xét xử Chúa Jêsus là bất công.
I. Xét xử lúc đêm tối là bất công (các câu 57-59).
Câu 57 chép: "Những kẻ đã bắt Đức Chúa Jêsus đem Ngài đến nhà thầy cả thượng phẩm Cai-phe". Câu 58 chép rằng: "Phi-e-rơ theo Ngài xa xa cho đến sân của thầy cả thượng phẩm". Trong sách Tin lành Giăng chúng ta có thêm nhiều chi tiết nữa. Rõ ràng là Giăng cũng đã đi theo Chúa Jêsus đến nhà thầy tế lễ thượng phẩm. Giăng 18:13 chép: "Trước hết chúng giải Ngài đến An-ne; vì người nầy là ông gia Cai-phe làm thầy cả thượng phẩm đương niên".
An-ne là nhân vật có quyền lực nhất tại thành Jerusalem. Ông ta đã phục vụ ở vai trò thầy tế lễ thượng phẩm trong 20 năm trước đó. Năm ngươi con ủa ông đã kế tục ông trong vai trò nầy. Vào thời điểm Chúa Jêsus bị bắt, con rễ ông, Cai-phe là thầy tế lễ thượng phẩm. Cai-phe là một con bù nhìn, Anne đã giật giây điều khiển con bù nhìn đó. Thực thế, Tân Ước nhắc tới Anne mấy lần là thầy tế lễ thượng phẩm vì đó là cách mà dân chúng nhìn xem ông ta (đối chiếu  Luca 3:2).
Anne và gia đình ông ta đã cóp nhặt sự giàu có không thể tin được nhờ vào các mánh lới tôn giáo. Họ cấp môn bài cho những kẻ chuyên đổi bạc tại đền thờ, họ lấy tiền La mã để đổi tiền sử dụng trong đền thờ với lãi suất cao. Dòng thầy tế lễ phải xác minh các con thú làm sinh tế phải không tì vít. Một người từ phương xa về đến đó gặp rắc rối khi đem một chiên con đi một khoảng đường dài sẽ bị các thầy tế lễ chuyên nấu nướng từ chối không chịu nhận con chiên ấy. Cho nên, muốn dễ dàng hơn thì phải mua một con thú đã được xác minh trước với một giá đã được định sẵn, dĩ nhiên là giá rất cao. Mọi sự trong mọi sự, Anne rất giống với một Mafia hay một chủ nhân ông vậy. Khi Chúa Jêsus thanh tẩy đền thờ, Ngài đã phán rất chính xác rằng: "Các ngươi thì làm cho nhà ấy thành ra ổ trộm cướp" (Mathiơ 21:13).
Anne có ý định thủ tiêu Chúa Jêsus vì Ngài là mối đe doạ cho các mánh lới làm tiền nầy. Chúa Jêsus là thầy tế lễ thượng phẩm trọn vẹn, Anne đã thu vén đủ mọi thứ và sự hiện diện của Ngài là một lời quở trách tỏ tường đối với mọi thứ mà Anne đã đứng bảo kê cho.
Sự thật Chúa Jêsus trước tiên đã bị dẫn đến Anne cho thấy ai thực sự đang nắm quyền chủ động. Mục đích của cuộc gặp nầy là để quyết định bản án mà với bản án đó Chúa Jêsus sẽ bị kết tử hình. Trong Giăng 18:19 chúng ta đọc thấy rằng ông ta đã "gạn hỏi Đức Chúa Jêsus về môn đồ Ngài và đạo giáo Ngài". Ông ta đang tìm cách buộc Chúa Jêsus phải nói ra đôi điều sẽ dẫn tới chỗ Ngài mắc tội phạm thượng. Đây không phải là một cuộc thẩm tra theo đúng hình thức. Chúa Jêsus không phải nói ra một điều gì cả. Anne đã dự định bung ra một số lời kết án nghịch lại Chúa Jêsus, nhưng ông ta chẳng có cớ gì để kết án Ngài. Ông ta hy vọng Chúa Jêsus sẽ giúp cung cấp cho bản án. Tôi tưởng tượng Ngài nhìn thẳng vào cặp mắt gian ác của Anne rất lạnh lẽo khi Ngài phán: "Ta từng nói rõ ràng cùng thiên hạ; ta thường dạy dỗ trong nhà hội và đền thờ, là nơi hết thảy dân Giu-đa nhóm lại, chớ ta chẳng từng nói kín giấu điều gì".
Chúa Jêsus nói thêm: "Cớ sao ngươi gạn hỏi ta? Hãy hỏi những kẻ đã nghe ta nói điều chi với họ; những kẻ đó biết điều ta đã nói" (câu 21). Câu nầy rõ ràng đã kích động một trong những lính canh đền thờ, khi ấy hắn "cho Ngài một vả, mà rằng: Ngươi dám đối đáp cùng thầy cả thượng phẩm dường ấy sao?" Ngài cau mày lại sau cú đấm, Chúa Jêsus nắm chắc lý cớ của mình. Ngài phán trong câu 23: "Ví thử ta nói quấy, hãy chỉ chỗ quấy cho ta xem; nhược bằng ta nói phải, làm sao ngươi đánh ta?" Chúa Jêsus đã nói rằng nếu họ kết án nghịch Ngài, họ sẽ nói ra những lý cớ đó. Rõ ràng An-ne phải bối rối trong bối cảnh nầy vì  ông ta "bèn sai giải Đức Chúa Jêsus vẫn bị trói đến Cai-phe là thầy cả thượng phẩm" (câu 24).
Trở lại với phân đoạn Kinh Thánh trong Mathiơ 26:57, chúng ta biết được rằng "thầy thông giáo và các trưởng lão đã nhóm lại" tại nhà của Cai-phe. Dường như các ngôi nhà nầy liên kết với nhau bởi một cái sân, ở đó có Phierơ đang đợi trong khi Giăng đã chứng kiến các sự cố ở bên trong nhà Anne. Giăng 18:15 cho chúng ta biết Giăng "có quen với thầy cả thượng phẩm".
Có lẽ khi ấy đã quá nửa đêm và mọi sự diễn ra cho thấy đây chẳng khác gì một cuộc xét xử công khai. Chúa Jêsus đã bị buộc phải bước vào một phiên toà giống như một trò hề với toan tính hòng tiêu diệt Ngài.
II. Làm chứng dối  là bất công (các câu 60-61).
Hãy chú ý câu 59 rằng: "các thầy tế lễ cả và cả tòa công luận kiếm chứng dối về Ngài, cho được giết Ngài". Điều nầy dường như cho thấy rằng họ đã nói ra lời chứng dối và có lẽ muốn kiếm tiền hối lộ. Câu 60 nói rằng họ "tìm không được chứng nào cả".
Thậm chí không có một lốt công bình nào và họ chẳng chịu nghe theo lẽ phải nữa. Hãy hình dung một phiên toà trong đó quan toà đang nài xin bằng chứng nghịch lại người bị kiện xem? Ông ta hy vọng có một cuộc xét xử công bình như thế nào? Có lẽ họ biết rõ rằng nếu họ không thể kết án Chúa Jêsus trong lúc bây giờ, họ sẽ không bao giờ kết án được Ngài vì vậy họ đã phá vỡ luật lệ của họ khi buộc Ngài phải chịu chết.
Hãy lưu ý câu 60: "Dầu có nhiều người làm chứng dối có mặt tại đó, song tìm không được chứng nào cả". Như vậy có nghĩa là họ cố tìm cho kỳ được một vài người để đưa ra những lời vu cáo nghịch lại Chúa Jêsus, thế nhưng các câu chuyện của họ đều không đáng tin, chẳng một ai trong số họ là chứng nhân đáng tin cả. Mác 14:56 chép: "Vì có nhiều kẻ làm chứng dối nghịch cùng Ngài; nhưng lời họ khai chẳng hiệp nhau". Họ không thể tìm được những kẻ nói dối có những câu chuyện sao cho xác thực được.
Câu 60 chép: "Sau hết, [dường như sau một chuỗi dài làm chứng lố bịch] có hai người đến". Sau cùng, họ đã tìm hai người chứng có cần, các câu chuyện của họ cũng gần đủ cho vụ xét xử.
Họ nói rằng Chúa Jêsus đã nói: "Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi dựng lại trong ba ngày". Mác 14:58-59 chép: "Chúng tôi có nghe người nói: Ta sẽ phá đền thờ nầy bởi tay người ta cất lên, khỏi ba ngày, ta sẽ cất một đền thờ khác không phải bởi tay người ta cất. Song về điều nầy, lời chứng của họ cũng chẳng hiệp nhau nữa". Rõ ràng họ đề cập tới những điều mà Chúa Jêsus đã nói ba năm trước trong dịp Lễ Vượt Qua. Chúng ta hãy quay trở lại với Giăng 2:18-21. Tất nhiên là Chúa Jêsus có ý nói tới thân thể của Ngài, chớ không phải là đền thờ của Hêrốt đã được xây dựng trong 46 năm (Giăng 2:20).
Sau khi lắng nghe bản án nầy trong một lúc, Cai-phe tỏ ra mất kiên nhẫn. Ông ta "bèn đứng dậy" đối mặt riêng với Chúa Jêsus. Tôi hình dung ông ta băng ngang qua gian phòng rồi mắt đối mắt với Chúa Jêsus. Ông ta hỏi: "Những người nầy làm chứng mà kiện ngươi, ngươi không thưa lại gì sao?"
III. Buộc tội cá nhân là bất công (các câu 62-64).
Có sự không nhất quán trong phần làm chứng của hai nhân chứng kia đủ để bác họ và công bình loại bỏ vụ kiện nghịch Chúa Jêsus. Nhưng vụ án nầy không nhắm vào sự công bình đâu!
"Nhưng Đức Chúa Jêsus cứ làm thinh". Với vẽ mặt bình tỉnh trang trọng Ngài đã nhìn thẳng vào Cai-phe mà cứ làm thinh. 700 năm trước đó, Êsai đã nói tiên tri về Ngài: "Người bị hiếp đáp, những khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng".
Rõ ràng Cai-phe vốn quen thuộc với sự dạy của Chúa Jêsus. Ông ta biết rõ rằng Chúa Jêsus đã công khai tự xưng mình vừa là Đấng Mêsi vừa là Con Đức Chúa Trời nữa. Một lời xưng nhận như thế, nếu được xác minh tại phiên toà sẽ kết quả trong bản án phạm thượng, là tội nặng theo luật pháp Môise (Lêvi ký 24:16). Thất bại, Cai-phe đã gào lên với Chúa Jêsus: "Ta khiến ngươi chỉ Đức Chúa Trời hằng sống mà thề, hãy nói cho chúng ta, ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời chăng?"
Tôi nghĩ căn phòng đó chỉ có sự im lặng chết chóc càng lúc càng tăng mà thôi. Quí vị có thể nghe thấy tiếng rơi của cây kim gút. Từ từ, Chúa Jêsus đảo mắt quanh gian phòng nhìn thẳng vào các vị lãnh đạo tôn giáo của dân rồi phán: "Thật như lời". Toà nhà như quá căng thẳng ra, Ngài nói lớn tiếng: "Vả lại, ta nói cùng các ngươi, về sau các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự trên mây từ trời mà xuống". Dường như Chúa Jêsus đang trưng dẫn từ Đaniên 7:13-14, câu nầy chép như sau: "Ta lại nhìn xem trong những sự hiện thấy ban đêm, nầy, có một người giống như con người đến với những đám mây trên trời; người tới đến Đấng Thượng Cổ và bị dẫn đến trước mặt Ngài. Người đến ban cho quyền thế, vinh hiển, và nước; hầu cho hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng đều hầu việc người. Quyền thế người là quyền thế đời đời chẳng qua đi, và nước người không bao giờ phải hủy phá". Đấy là mọi sự mà Cai-phe đã muốn biết.
IV. Bản án đã được định trước là bất công (các câu 65-66).
Cai-phe "bèn xé áo mình". Đây là một hành động quay lưng lại với thời buổi xa xưa cho thấy mình bị sốc và bị tổn thương nặng lắm vậy. Thú vị thay, theo Lêvi ký 21:10, thầy tế lễ thượng phẩm đã bị cấm xé áo xống trong chức vụ tế lễ của mình. Ông ta đã giả vờ bị tổn thương nặng lắm nơi sự phạm thượng có ý đồ của Chúa Jêsus trong khi ngay khi ấy ông ta đã tự mình phạm thượng.
Cai-phe không có sự tôn kính thành thực đối với Chúa. Ông ta đã minh chứng điều đó qua cách gian lận tiền bạc ở đền thờ. Việc xé rách áo xống của ông ta chỉ là một hành vi hòng che đậy sự vui mừng khi buộc Chúa Jêsus thốt ra đôi điều để ông ta bởi đó có thể cáo giác Ngài! Mặc dù dường như ông ta đã bị tổn thương nặng lắm, nếu quí vị quan sát kỹ hơn, thì thấy nơi ánh mắt của ông ta đã có một nụ cười. Kẻ thù của ông ta đã rơi thẳng vào hai bàn tay của ông ta.
Chúa Jêsus đã nhìn nhận rằng Ngài chính là: "Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời". Một phiên toà công bình sẽ để cho Ngài làm chứng nơi phần biện hộ của mình. Nếu đây là trường hợp, Chúa Jêsus đã đưa ra hàng ngàn chứng cớ chắc chắn. Họ đã chứng kiến rồi cảnh Chúa Jêsus chữa lành hết thảy các trường hợp đau bịnh, quở bão im lặng, làm cho kẻ chết sống lại. Một số người đã chứng kiến sự thực họ đã nghe giọng của Đức Chúa Trời phán: "Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng".
Không một điều gì xảy ra hết. Cai-phe còn hô lớn tiếng trong phiên toà quá nửa đêm ấy: "Nó đã nói phạm thượng; chúng ta còn cần gì người làm chứng nữa sao Các ngươi vừa nghe lời phạm thượng đó, thì nghĩ làm sao?"
Họ đã đáp lại: "Nó đáng chết". Họ đã đưa ra bản án không dựa vào lối kết án có điểm nghi ngờ, mà dựa theo dã tâm đã định trước buộc Ngài phải chịu chết. Đây là một quyết định theo kiểu đồng lòng. Mác 14:64 chép: "Ai nấy đều đoán Ngài đáng chết". Họ đã gán cho Ngài một án phạm đã được sắp xếp trước từ lâu trước khi Ngài chịu xét xử nữa.
V. Ngược đãi tàn ác là bất công (các câu 57-59).
Bất chấp nhiều luật lệ của chính họ và làm lệch sự công bình cũng chưa đủ đối với các cấp lãnh đạo thuộc linh nầy, giờ đây họ để cho sự thù hằn độc ác của họ nung nấu thành bạo lực dữ dội hơn nữa. "Họ bèn nhổ trên mặt Ngài, đấm Ngài". Nhiều người khác nữa "vả Ngài" rồi nói: "Hỡi Đấng Christ, hãy nói tiên tri đi; cho chúng ta biết ai đánh ngươi".
Luca 22:64 chép rằng họ "che mặt Ngài lại" rồi nhiếc móc Ngài như trong một trò bịp bịt mắt vậy. Một người che mặt Ngài lại rồi họ sẽ nói: "Hãy nói tiên tri đi; cho chúng ta biết ai đánh ngươi?" Câu kế tiếp chép: "Họ lại nhiếc móc Ngài nhiều lời khác nữa". Thật là mỉa mai dường bao khi họ cáo giác Ngài phạm thượng trong khi chính bản thân họ lại phạm vào tội đó.
Hãy tưởng tượng xem "mười hai đạo thiên sứ" (câu 53) đang đứng gần đó rùng mình khi Con Đức Chúa Trời chịu đựng các cú đấm của họ. Chúa Jêsus đã hứng chịu sự ngược đãi của họ mà chẳng ta thán hay phản kháng chi hết. I Phierơ 2:23 chép rằng: "Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề hăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình". Ngài đã cầu nguyện xin ý Cha được nên và trong sức lực của lời cầu xin đó, Ngài đã trọn vẹn phó thác chính mình Ngài.
Nhiều thế kỷ trước, khi Êsai thốt ra lời tiên tri phác hoạ trọn vẹn bối cảnh mà chúng ta đang nhìn thấy ở trước mặt mình. Ông nói: "Người đã bị người ta khinh dể và chán-bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm, bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi người ra gì" (Êsai 53:3).
Chúng ta học được gì từ cuộc xét xử bất công nầy? Cho phép tôi đưa ra một số ứng dụng rất quan trọng.
Thứ nhứt, Chúa Jêsus đã không che giấu Ngài là ai và chúng ta cũng thế. Nếu Chúa Jêsus có thể đối diện với toà án cao nhất trong xứ và nói rằng Ngài là Đấng Mêsi, là Con của Đức Chúa Trời, chúng ta phải có can đảm càng hơn để làm chứng về đức tin của chúng ta nơi Ngài cho người láng giềng hay cho một thành viên trong gia đình?
Thứ hai, Chúa Jêsus tỏ ra ân điển và sự kiên nhẫn dư dật khi chịu áp lực và chúng ta cũng phải nên như vậy. Nếu Chúa Jêsus có thể chịu được sự bất công và sự ngược đãi của toà án để làm theo ý chỉ của Đức Chúa Cha mà không đánh mất tánh khí của mình, chúng ta phải có khả năng chịu đựng những gánh nặng có hạn, nhỏ hơn mà chúng ta phải đối mặt với trong đời nầy.
Thứ ba, Chúa Jêsus không ta thán và chúng ta cũng phải nên như vậy. Nếu Chúa Jêsus có thể đối mặt với sự bắt bớ nghiệt ngã như thế mà chẳng hề mở miệng, chúng ta có thể học biết để đối diện với các chức vụ khó nhọc và sự thất vọng nữa.

***



Bài 94: Mathiơ 26:47-56: "VẺ OAI NGHI Ở TRONG VƯỜN"


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Vẻ oai nghi ở trong vườn
Mathiơ 26:47-56
Trong Giăng 10:18 Chúa Jêsus phán rõ ràng rằng: "Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho; ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại; ta đã lãnh mạng lịnh nầy nơi Cha ta". Bàn tay tối cao của Đức Chúa Trời đã sắp xếp từng chi tiết về sự bắt bớ, những lần xét xử giả dối, sự ngược đãi và sự đóng đinh trên thập tự giá. Không một điều chi xảy ra là do tình cờ, ngẫu nhiên hay cơ hội cả.
Tuần qua, chúng ta đã tra xét lời cầu nguyện thống khổ của Chúa Jêsus ở trong Vườn Ghết-sê-ma-nê. Sau bữa ăn Lễ Vượt Qua và sự thiết lập Tiệc Thánh, Chúa Jêsus đưa các môn đồ lên "Núi Ô-li-ve" (câu 30). Trên đường đi, Chúa Jêsus đã nói tiên tri rằng hết thảy họ sẽ "vấp ngã" đêm hôm đó và lìa bỏ Ngài. Hết thảy họ đều tranh luận kịch liệt rằng họ sẽ không chối bỏ Ngài. Đặc biệt Phierơ rất tình cảm khi ông nói: "Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu" (câu 35).
Họ đang trên đường "đến một chỗ kêu là Ghết-sê-ma-nê" (câu 36). Có lẽ đây là một vườn ôlive do một trong số các môn đồ của Chúa Jêsus làm chủ và dường như hết thảy họ đều rất quen thuộc với nơi ấy. Ngài để 8 người trong số họ ngay lối vào khu vườn rồi đem "ba người ở vòng trong", là Phierơ, Giacơ và Giăng theo với Ngài tiến sâu vào trong nơi hẻo lánh. Ở đó Chúa "buồn bực và sầu não lắm". Sự va chạm của tình cảm trở thành sự hy sinh vì cớ tội lỗi cho nhân loại đã chất nặng trên các cảm xúc về nhân tính của Ngài đến nỗi Ngài phán: "Linh hồn ta buồn bực cho đến chết" (câu 38). Về phần xác, một sự căng thẳng như thế là quá nhiều so với thân thể Ngài có thể mang lấy.
Chúa Jêsus tiến thẳng vào vườn ôlive và cầu nguyện với Cha Ngài. Luca 22:44 chép rằng "cơn đau thương" của Ngài trong sự cầu nguyện lớn đến nỗi "mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất". Chúa Jêsus đã cầu nguyện rằng nếu "có thể được" thì cái "chén" thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch lại tội lỗi của nhân loại sẽ qua khỏi Ngài. Ba lần Ngài đưa ra lời cầu nguyện nầy, song vì “không thể được”, Ngài đã tự mình đầu phục trọn vẹn theo "ý chỉ" của Đức Chúa Cha. Điều nầy dạy chúng ta tội lỗi của chúng ta kinh tởm là dường nào đối với Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus phải gánh lấy tội lỗi của chúng ta vì chẳng một người nào được cứu mà không qua sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài.
Mỗi lần như thế Chúa Jêsus cứ tiếp tục cầu nguyện, các môn đồ của Ngài đã buồn ngủ. Ngài bảo họ phải "thức canh và cầu nguyện" nhưng "mắt họ đã đừ quá rồi". Trong khi Ngài khẫn thiết trong sự cầu nguyện, họ đã nằm mà ngủ. Sau cùng, Ngài đã đánh thức họ. Ngài đã phó chính mình Ngài cho ý chỉ của Đức Chúa Cha và tìm được sức lực mới. Ngài phán: "Nầy, giờ đã gần tới" (câu 45).
Trong câu 46, Chúa Jêsus phán: "Hãy chờ dậy, đi hè. Kẻ phản ta đã đến kia". Nếu các môn đồ chịu ngước nhìn lên trong giờ phút đó, họ đã nhìn thấy một dọc dài các ngọn đuốc do một đạo binh cầm theo khi họ đang trên đường đến bắt Ngài.
Sự Chúa Jêsus bị bắt nhấn mạnh sự thực Ngài không phải là một nạn nhân vô dụng đâu. Một lần nữa chúng ta nhớ lại lời của Ngài: "Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho”. Bối cảnh tột đỉnh nầy ở trong vườn tỏ ra nét oai nghi thanh thản của Chúa Jêsus khi Ngài công khai đối đầu với những kẻ muốn giết Ngài và nhấn mạnh ý chỉ tối cao của Ngài muốn trở thành của lễ chuộc tội vì tội lỗi của chúng ta. Vẻ oai nghi của Chúa Jêsus đã được tỏ ra trong ba cách.
I. Chúng ta thấy vẻ oai nghi của Chúa Jêsus trong sự đón tiếp của kẻ phản bội (các câu 47-50a).
Mathiơ thuật lại cho chúng ta biết, ấy là "khi Ngài còn đương phán", lời lẽ trong các câu 45-46 cho thấy rằng "Giu-đa" cùng với "một bọn đông người cầm gươm và gậy" xuất hiện tại khu vườn để bắt Ngài.
Hãy chú ý rằng Mathiơ đặc biệt mô tả Giu-đa là "một người trong mười hai sứ đồ". Ông không nói: "Giu-đa, kẻ phản bội" hay "Giu-đa, kẻ xoay chiều" hoặc "Giu-đa, con chuột hôi thối". Ông đề cập tới hắn là "một người trong mười hai sứ đồ". Điều nầy rất quan trọng vì nó nhấn mạnh các môn đồ khác bị sốc là dường nào khi hay được rằng Giu-đa là kẻ phản bội.
Các tác phẩm chuyên về khải thị phác họa công khai Giu-đa là ma quỉ và hiểm ác. Có người nói hắn là cháu của thầy cả thượng phẩm được sai phái đến gần Chúa Jêsus đặng làm do thám. Người khác thì nói hắn là quân cờ trong tay một mụ vợ tham lam. Người khác nữa nói rằng khi hắn chào đời hắn đã có tánh gian ác như thế rồi, đến nỗi bố mẹ hắn đã ném hắn xuống biển. Hắn sống sót, lớn lên và cưới một phụ nữ xinh đẹp làm vợ rồi xoay ra làm mẹ của hắn. Đây là những hình ảnh tưởng tượng hầu làm bật ra tính độc ác của con người hắn.
Hết thảy bốn sách Tin lành đều mô tả Giu-đa là "một người trong mười hai sứ đồ" (đối chiếu 26:14; Mác 14:10; Luca 22:47; Giăng 6:71). Không một môn đồ nào khác được chỉ rõ theo cách nầy. Giu-đa đã là một trong số họ. Hắn đã cùng đi đây đi đó với họ, cùng ăn uống với họ, cùng cười cùng khóc với họ. Trong hơn ba năm, họ đã chia sẻ cuộc sống của họ với hắn và hắn với họ. Họ đã xem hắn như một người anh em đáng tin cậy, một người trong số họ và tuyệt đối họ đã bị sốc khi biết được hắn là kẻ phản bội Chúa.
Giu-đa không phải đi một mình đâu. "Một bọn đông người cầm gươm và gậy, mà các thầy tế lễ và các trưởng lão trong dân đã sai đến". Khu vườn vừa yên tĩnh một vài phút trước đó, yên tĩnh đủ để cầu nguyện, yên tĩnh đủ để nằm ngủ, giờ đây đầy ắp “một bọn đông người” có vũ trang. Sợ hãi đã phủ lút trên các môn đồ.
Các sách tin lành khác cung ứng cho chúng ta thông tin nhắm vào “bọn đông người” nầy. Luca 22:52 cho chúng ta biết trong vòng đám đông ấy là "các thầy đội coi đền thờ", lính canh đền thờ, có lẽ họ mang theo "dùi cui" giống như loại gậy đi tuần đêm của cảnh sát. Giăng 18:3 chép rằng cũng có "một cơ binh" hay loại lính chính quy, có lẽ từ tiền đồn Antonio đóng gần núi Đền Thờ. Không nghi ngờ chi nữa, họ đã mang theo "gươm". Chữ Hy lạp chỉ ra một "đội quân" với đầy đủ sức mạnh gồm có 600 người. "Thầy tế lễ và các trưởng lão" đã viện đến binh lính La mã vì một nổ lực trước đó để bắt Chúa Jêsus bởi cảnh vệ đền thờ đã thất bại (Giăng 7:32, 44-46). Khi các cấp lãnh đạo tôn giáo nổi giận chất vấn các tên lính lý do tại sao họ không bắt Chúa Jêsus, họ đã đáp như sau: "Không ai nói như người nầy!" Giờ đây, họ đã có lính chính quy để thực thi đúng đắn công việc.
Khi Giu-đa rời khỏi phòng cao, ngay lập tức hắn đã chạy đến "các thầy tế lễ cả và các trưởng lão" với thông tin là Chúa Jêsus sẽ có mặt ở tại vườn Ghết-sê-ma-nê. Các cấp lãnh đạo Do thái cần có thời gian để tập trung binh lính chính quy từ Philát và có lẽ đã bịa ra câu chuyện nói rằng Chúa Jêsus đang khuynh đảo cuộc nổi dậy chống lại La mã. “Bọn đông người” có vũ trang đã dè dặt kê sổ lên tới hàng mấy trăm người. Một số học giả cho rằng đã có tới hàng ngàn người trong số nầy.
Tại sao phải có tới nhiều người như thế chứ? Chúa Jêsus luôn luôn ám chỉ tới họ trước đó. Họ không còn có cơ hội nào khác nữa. Họ muốn chắc chắn phải bắt cho được Ngài. Mặc dù họ chẳng có cớ gì hợp pháp để bắt cả, mặc dù hầu hết mọi người trong bọn đông đảo ấy biết rất ít về Chúa Jêsus, mặc dù số lượng người của họ có khả năng tàn phá rất lớn, mặc dù họ đã hành động với thái độ lo sợ dân chúng chống đối, họ đã bất chấp. Họ đã xem Chúa Jêsus là một mối đe doạ cần phải bị vô hiệu hoá.
Câu 48 cho chúng ta biết rằng Giu-đa đã sắp xếp một dấu hiệu cho cấp lãnh đạo bọn đông người kia biết. Hắn nói: "Người nào mà tôi sẽ hôn, ấy là người đó, hãy bắt lấy". Hãy nhớ trời khi ấy có lẽ là sau nửa đêm. Chẳng có một ngọn đèn điện nào hết. Mặc dù Lễ Vượt Qua luôn luôn rơi đúng vào ngày trăng rằm, trời hãy còn tối lắm trong các bóng cây ôlive. Đám đông ấy cần có Giu-đa để nhận dạng kẻ mà họ muốn bắt. Có lẽ họ sợ rằng một trong các môn đồ khác sẽ giả làm Ngài để Ngài có thể trốn thoát.
Trong xã hội ấy, cũng như nhiều xã hội khác trên thế gian, hôn ai đó ở gò má là một dấu chỉ tình cảm mật thiết và sự đầu phục sâu sắc.  Cái hôn ấy như đang nói: "Anh là người bạn thân nhất của tôi, là bạn lòng của tôi".
Không bao lâu sau đó, khi Giu-đa đã tới gần đủ để nhận ra Chúa Jêsus, "tức thì Giu-đa đến gần” Đức Chúa Jêsus mà rằng: "Chào Thầy!" rồi hắn "hôn Ngài". Mathiơ dùng chữ kataphileo để nói đến cái “hôn”, nghĩa là "hôn riết hay hôn tới hôn lui". Luca 7:38 dùng  chính từ ngữ ấy để mô tả thể nào người đờn bà tội lỗi kia đã rửa chơn Chúa Jêsus bằng nước mắt rồi hôn chơn Ngài với thái độ thờ phượng. Giu-đa chẳng biết xấu hổ là gì cả. Hắn đã chọn một dấu hiệu chỉ về tình cảm và thờ phượng để đóng dấu sự hắn phản bội.
Chúa Jêsus nhìn thẳng vào mắt của Giu-đa rồi hỏi: "Bạn ơi! vậy thì vì việc nầy mà ngươi đến đây sao?” Chúa Jêsus không dùng chữ thông thường chỉ về bạn hữu là philos mà dùng chữ hetairos có nghĩa là "đồng chí". Dường như Ngài rất xa cách đối với Giu-đa và rất buồn. Luca nói thêm rằng Chúa Jêsus đã hỏi: "Hỡi Giu-đa, ngươi lấy cái hôn để phản Con người sao?" (22:48).
Chúa Jêsus không có ý xét đoán Giu-đa. Ngài không gọi hắn là kẻ phản bội, kẻ bội đạo hay kẻ dại dột. Ngài đã gọi hắn là đồng chí và hỏi hắn lý do tại sao hắn lại làm một việc như vậy. Chúa Jêsus vốn biết rõ rằng tấm lòng của Giu-đa đã bị chai cứng rồi. Ngài đã phán: "Song khốn nạn thay cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn!" (26:24). Những gì chúng ta đang nhìn thấy ở chỗ nầy như ngược lại với sự phản bội cực kỳ gian ác của Giu-đa và nét oai nghi kiên nhẫn của Đấng Christ. Sự phản bội trong chỗ tối tăm của Giu-đa làm cho sự vinh hiển của Chúa Jêsus càng thêm rực rỡ.
II. Chúng ta thấy vẻ oai nghi của Chúa Jêsus trong việc tránh không để xảy ra tắm máu (các câu 50b-54).
Quay nhanh sang Giăng 18:4-6. Hãy nhìn qua Chúa Jêsus đang đến với vị lãnh đạo đám đông người Do thái kia, Chúa Jêsus hỏi: "Các ngươi tìm ai?" Họ trả lời lại: "Tìm Jêsus người Nazarét". Giu-đa đang đứng bên cạnh như một nhân chứng khi Chúa Jêsus đáp: "Chính Ta đây!" Hãy lưu ý vẻ oai nghi của Con Đức Chúa Trời trong câu 6: "Vừa khi Đức Chúa Jêsus phán: Chính ta đây, chúng bèn thối lui và té xuống đất". Đấng Ta Là vĩ đại đã phán với sự oai vệ và bọn người kia đã té xuống đất khi nghe giọng nói của Ngài.
Sau khi họ hoàn hồn trở lại, Mathiơ nói: "Rồi chúng nó đến gần tra tay bắt Đức Chúa Jêsus". Luca 22:49 chép rằng khi các môn đồ nhận ra những gì đang xảy ra: "Thưa Chúa, chúng tôi nên dùng gươm đánh chăng?" Phierơ (Giăng 18:10) đã không đợi một câu trả lời nào hết, mà ông "có một thanh gươm, bèn rút ra, đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt tai bên hữu. Đầy tớ đó tên là Man-chu".
Luca 22:38 cho chúng ta biết họ có "hai thanh gươm" giữa vòng họ và một rõ ràng đã ở dây nịt lưng của Phierơ. Giăng 18:10 cho chúng ta biết "đầy tớ của thầy cả thượng phẩm" có tên là Man-chu. Phierơ rõ ràng là đã nổ lực phân thây hay xử trảm hắn, nhưng lại sơ sót và chỉ cắt đi một tai của gã ấy.
Chúa Jêsus phán với Phierơ: "Hãy nạp gươm ngươi vào vỏ". Trong phân đoạn Kinh Thánh, chúng ta có thể thấy ba lý do tại sao Chúa Jêsus bảo Phierơ phải nạp gươm vào vỏ. Thứ nhứt, Ngài phán: "vì hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết về gươm". Đây không phải là bằng chứng của chủ nghĩa hoà bình Cơ đốc khi có nhiều người xưng hô như vậy. Chúa Jêsus không những đã nhắc cho Phierơ nhớ rằng phạm luật về giết người đối với nhà cầm quyền chắc chắn sẽ đưa đến sự hình phạt theo lẽ công bình.
Đức Chúa Trời đã ban cho nhà cầm quyền quyền hành để trừng phạt những kẻ giết người. Sáng thế ký 9:6 chép: "Hễ kẻ nào làm đổ máu người, thì sẽ bị người khác làm đổ máu lại; vì Đức Chúa Trời làm nên người như hình của Ngài". Giống như Chúa Jêsus đang phán: “Bất luận sự việc nầy dường bất công lắm, ngươi không có quyền giết người. Nếu ngươi giết người, ngươi cũng sẽ bị hành hình".
Kẻ đánh bom thành phố Oklahoma, Tim McVeigh đã bị tử hình vì đã giết hơn 168 người. Hắn đã cầm lấy thanh gươm vì lý do độc ác hay điên cuồng và giờ đây hắn sẽ chết bằng gươm theo lẽ công bình.
Thứ hai, Chúa Jêsus hỏi Phierơ: "Ngươi tưởng ta không có thể xin Cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao?" Một đạo binh La mã gồm có 6.000 binh lính. "Mười hai đạo thiên sứ" sẽ là 72.000 thiên sứ. Khi chúng ta xem xét điều nầy trong II Các Vua 19.35, một thiên sứ đơn độc thôi đã giết 185.000 quân Asiri dưới quyền chỉ huy của San-chê-ríp, quyền lực khủng khiếp của "mười hai đạo" không thể tưởng tượng được! Chúa Jêsus chắc chắn không cần Phierơ bảo vệ cho Ngài!
Bảo vệ Nước Đức Chúa Trời bằng sức mạnh đời nầy quả là việc vặt của kẻ dại. Những cuộc chiến tranh giống như các chiến dịch thập tự chinh thời trung cổ đã nổ ra trong danh của Đấng Christ là các cuộc chiến tranh có tính cách phạm thượng. Chúa Jêsus đã phán trong Giăng 18:36: "Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy. Ví bằng nước ta thuộc về thế gian nầy, thì tôi tớ của ta sẽ đánh trận, đặng ta khỏi phải nộp cho dân Giu-đa; nhưng hiện nay nước ta chẳng thuộc về hạ giới".
Thứ ba, Chúa Jêsus hỏi Phierơ: "Nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã chép rằng việc nầy tất phải xảy đến?" Hầu hết từng phương diện của sự phản bội, sự bắt bớ, sự thương khó, sự đóng đinh trên thập tự giá, sự chôn và sự sống lại đều đã được nói trước trong Cựu Ước. Trong một vài cơ hội, Chúa Jêsus đã dạy các môn đồ rằng Ngài sẽ chịu khổ về nhiều việc. Chúa Jêsus đã nhắc cho Phierơ nhớ rằng dù sự bắt bớ nầy dường bất công và hèn nhát, nhưng đấy là một phần trong chương trình tối thượng mà Đức Chúa Trời đã loan báo trước trong Kinh Thánh. Trong Giăng 18:11, Chúa hỏi Phierơ: "Ta há chẳng uống chén mà Cha đã ban cho ta uống sao?"
Hãy tưởng tượng điều chi sẽ xảy ra nếu Chúa Jêsus không ngăn cản Phierơ. Không nghi ngờ chi nữa vị môn đồ ngoan cố nầy sẽ cứ dùng gươm chém cho tới khi ông cắt…cho tới khi hết thảy họ đều bị cắt tai! Sự chết của các môn đồ giờ đây sẽ là vô mục đích. Sự chết của Chúa Jêsus bởi gươm trong khu vườn ôlive tối tăm kia sẽ không đạt được bất kỳ một mục đích có tính cách cứu chuộc nào hết.
Trong vẻ oai nghi giàu ơn, Chúa Jêsus mau chóng không làm theo những điều Phierơ đã làm. Giăng 18:10 không những cho biết "đầy tớ đó tên là Man-chu". Dường như cái tai vẫn còn treo lũng lẳng nơi sọ của người ấy. Luca 22:51 phác họa vẻ oai nghi giàu ơn của Chúa Jêsus khi chép rằng lúc đó Chúa Jêsus "Ngài bèn rờ tai đầy tớ ấy, làm cho nó được lành".
III. Chúng ta nhìn thấy vẻ oai nghi của Chúa Jêsus trong sự bảo hộ cho các môn đồ (các câu 55-56).
Chúa Jêsus phán: "Các ngươi đem gươm và gậy đến mà bắt ta, khác nào như ta là kẻ cướp. Ta thường ngày ngồi trong đền thờ và giảng dạy tại đó, mà các ngươi không bắt ta". Sự thật là họ đã đến để bắt Ngài lúc nửa đêm cho thấy rằng họ chẳng có một bản án nào là hợp pháp cả. Chúa Jêsus chẳng làm gì lén lút hết, nhưng đã dạy dỗ công khai để mọi người đều nghe thấy. Các cấp lãnh đạo tôn giáo đã chọn thời điểm và địa điểm nầy vì họ e "trong dân chúng sanh điều xào xạc chăng?" (câu 5).
Chúa Jêsus nói thêm: "Nhưng mọi điều ấy…, sự đến của Giu-đa, cảnh vệ Đền thờ, binh lính La mã, sự tiếp cận lén lút lúc giữa đêm, mọi điều ấy "…phải xảy đến, hầu cho những lời các đấng tiên tri đã chép được ứng nghiệm".
Những người nầy vốn thù ghét Chúa Jêsus. Họ xem Ngài là một mối đe doạ cho địa vị của họ và họ muốn Ngài phải chết đi bằng mọi giá. Họ bàn bạc, mưu tính và đã chọn lấy chuỗi hành động nầy. Cái điều mà họ không biết, ấy là họ đang làm theo ý chỉ trọn vẹn của Đức Chúa Trời. Mặc dù họ làm theo ý riêng của họ, Đức Chúa Trời đã lồng ý định của họ vào trong ý chỉ của Ngài. Trong ước muốn của họ tính tiêu diệt Chúa Jêsus, họ đang bày ra ý định của Chúa Jêsus! Họ đang làm ứng nghiệm một chương trình đã được thiết lập từ lúc sáng thế!
Lời lẽ của Chúa Jêsus nói về sự ứng nghiệm chương trình thiêng liêng của Đức Chúa Trời đã rơi vào những lỗ tai điếc. Bọn đông người kia không hiểu và bất cần. Các môn đồ cứ chú vào hoàn cảnh tuyệt vọng của họ đến nỗi họ không thể chú ý vào chương trình tối thượng của Đức Chúa Trời. Trong Giăng 18.8, Chúa Jêsus đã hành động để bảo hộ họ. Ngài phán: "Vậy nếu các ngươi tìm bắt ta, thì hãy để cho những kẻ nầy đi". Câu 9 chép: "Ấy để được ứng nghiệm lời Ngài đã phán: Con chẳng làm mất một người nào trong những kẻ mà Cha đã giao cho Con".
Làm ứng nghiệm cả những lời tiên tri trong Cựu Ước và lời báo trước của Chúa Jêsus (câu 31), "khi ấy, hết thảy môn đồ bỏ Ngài mà trốn đi". Họ đã biến vào trong bóng tối, bỏ Chúa Jêsus lại một mình với những kẻ cáo giác Ngài.
Mác 14:51-52 nói rằng lúc bấy giờ: "Có một người trẻ tuổi kia theo Ngài, chỉ có cái khăn bằng gai trùm mình; chúng bắt người. Nhưng người bỏ khăn lại, ở truồng chạy trốn khỏi tay chúng". Rõ ràng Giăng Mác đã tỉnh thức và đi theo với tấm ra giường quấn quanh người, nhưng đã trần truồng chạy thoát.
Chúng ta có thể nghĩ Chúa Jêsus còn ở lại một mình. Ngài không ở lại một mình đâu. Ngài phán trong Giăng 16:32: "Nầy, giờ đến, đã đến rồi, là khi các ngươi sẽ tản lạc, ai đi đường nấy, và để ta lại một mình; nhưng ta không ở một mình, vì Cha ở cùng ta”.

***



Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Bài 93: Mathiơ 26:36-46: THỐNG KHỔ Ở TRONG VƯỜN


MATHIƠ – VUA CÁC VUA
Thống khổ ở trong vườn
Mathiơ 26:36-46
Mathiơ 26 đưa chúng ta đến với những ngày sau cùng chức vụ của Chúa Jêsus ở trên đất, thậm chí những giờ sau cùng  trước khi Ngài chịu chết vì tội lỗi của cả thế gian. Trong mấy bài nghiên cứu mới đây, chúng ta đã học biết về các cấp lãnh đạo tôn giáo của dân Israel thể nào đã "mưu" bắt Chúa Jêsus và giết Ngài (các câu 1-5), thể nào trong một hành động có tính cách tiệm tiến trong sự thờ lạy, Mary đã xức cho Chúa Jêsus bằng loại dầu đắt tiền (các câu 6-13), và thể nào Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, người giữ túi bạc của các môn đồ đã mặc cả để phản Chúa Jêsus để lấy "ba mươi miếng bạc", cái giá của một tên nô lệ tầm thường (các câu 14-16). Kế đó, chúng ta đã xét qua thể nào Chúa Jêsus đã kỷ niệm Lễ Vượt Qua cuối cùng với các môn đồ và trong chính lễ tưởng niệm ấy đã thiết lập Lễ Tiệc Thánh lần đầu tiên (các câu 17-30). Trong phần nghiên cứu vừa qua, chúng ta đã học biết thể nào Chúa Jêsus đã nói trước về sự ruồng bỏ của các môn đồ, đặc biệt là sự chối bỏ của Phierơ.
Chúa Jêsus cùng các môn đồ đã rời phòng cao rồi đi ngang thành phố đông đúc ấy qua khe Kít-rôn đến "Núi Ôlive" (câu 30). Lúc bấy giờ trời đã tối lắm rồi, có lẽ là gần nửa đêm. Thay vì đi ngủ, Chúa Jêsus đã để họ lại, Ngài đi một đỗi nữa đến một nơi kia đặng cầu nguyện. Câu 36 chép Ngài đưa họ đến "tại một nơi gọi là Ghết-sê-ma-nê".
"Ghết-sê-ma-nê" có nghĩa là "ép ôlive". Có lẽ đây là một vườn cây Ôlive trên sườn núi có bức tường đá vây quanh. Có lẽ một trong các môn đồ của Ngài là chủ của ngôi vườn, dường như Chúa Jêsus rất thường đến đây đặng cầu nguyện riêng. Có thể là tại chốn nầy mà Chúa Jêsus đã phát ra Bài Giảng Trên Núi (các chương 24-25). Với bất cứ tình huống nào, đây là một địa điểm rất quen thuộc đối với hết thảy mọi người trong số đó.
Buổi tối hôm ấy, những gì đã xảy ra cung ứng cho chúng ta thấy được sự đan dệt giữa thần tính và nhân tính của Ngài. Phân đoạn Kinh Thánh nầy là một cánh cửa sổ nhìn thẳng vào tấm lòng của Người-Trời. Chúng ta hãy xét qua nỗi buồn sâu sắc của Ngài, lời cầu nguyện bi thương và sự  đầu phục vô điều kiện trước ý chỉ của Đức Chúa Cha.
I. Nỗi buồn sâu sắc của Chúa Jêsus (các câu 36-39).
Sau khi đến tại Vườn "Ghết-sê-ma-nê" Chúa Jêsus đã để 8 môn đồ ở lại tại cổng vườn. Ngài phán trong câu 36: "Hãy ngồi đây đợi ta đi cầu nguyện đằng kia". Có lẽ Ngài đã để họ ở lại đó trước khi bước vào sự cầu nguyện riêng.
Câu 37 chép Ngài: "bèn đem Phi-e-rơ và hai người con của Xê-bê-đê đi với mình", nghĩa là, Giacơ và Giăng. Đây là bộ "ba ở vòng trong" của 12 sứ đồ. Có khi họ cùng đi với Ngài trong một vài cơ hội, lúc các người khác bị bỏ lại ở đàng sau (Mathiơ 17:1; Mác 5:37).
Tôi tin Chúa Jêsus đã dành thời gian đặc biệt với mấy người nầy và cho phép họ nhìn thấy mọi điều mà các người khác không nhìn thấy, vì mỗi người trong số họ sẽ trở thành cấp lãnh đạo đặc biệt trong Hội thánh và sẽ dạy dỗ người khác mọi điều mà họ đã tiếp thu được. Chúa Jêsus muốn họ phải chứng kiến sự buồn rầu cùng sự phấn đấu cực độ của Ngài ở trong vườn đêm hôm ấy.
Khi họ tiến sâu vào chỗ tăm tối của vườn Ôlive: "tức thì Ngài buồn bực và sầu não lắm". Chúa Jêsus vốn biết rõ mọi điều sắp xảy đến. Ngài biết rõ Ngài đã giáng trần vì mục đích nầy. Ngài vốn biết rõ Ngài chính là "chiên con chịu giết từ khi sáng thế" (Khải huyền 13:8). Tuy nhiên, cái chạm tình cảm trọn vẹn về mọi sự sắp xảy ra "đã bắt đầu" từ giây phút đó, nó phủ lút trên chính mình Ngài.
Chúa Jêsus là con người trong mọi phương diện, trừ ra chỗ Ngài không có bản chất sa ngã, tội lỗi hư hoại. Ngài đã kinh nghiệm chính xác từng thứ tình cảm của con người giống như chúng ta kinh nghiệm vậy. Ngài đã khóc. Ngài đã than thở. Ngài đã vui mừng. Mặc dù Kinh Thánh không nhắc tới, chúng ta biết nhiều lúc Ngài đã mĩm cười. Nếu Kinh Thánh nhấn mạnh Ngài buồn nhiều hơn là vui vẻ, sở dĩ như thế là vì mọi điều Ngài đã nhìn thấy trên thế gian đã làm tan vỡ tấm lòng Ngài. Chúng ta càng tới gần Đấng Christ hơn, chúng ta càng mặc lấy "ý của Đấng Christ" (I Côrinhtô 2:16), chúng ta càng ít thấy cười được trong thế gian nầy.
Chúng ta thấy khó mà hiểu được Chúa Jêsus đã cảm nhận như thế nào trong giờ phút đó. John MacArthur mô tả cảm xúc ấy theo cách nầy: "Chưa hề có nhiều đau buồn như thế toát ra từ linh hồn của một con người. Chúng ta không sao hiểu được chiều sâu nỗi khổ của Đấng Christ vì, nói thẳng ra, chúng ta không thể thấy được sự gian ác của tội lỗi như Ngài thấy được đâu. Chúng ta cũng không thể đánh giá đúng mức những điều khủng khiếp của cơn thạnh nộ thiêng liêng theo cách mà Ngài đánh giá. Nỗi buồn Ngài tỏ ra trong sự cầu nguyện ở vườn Ghết-sê-ma-nê vượt quá trí hiểu của chúng ta. Chúng ta không nên kinh ngạc một khi ý nghĩa đầy đủ của sự cầu nguyện dường như vượt quá hiểu biết của chúng ta".
Chúa Jêsus đã "buồn bực" lắm vì  Ngài sắp bị phản và hắn đang sửa soạn dẫn những kẻ muốn giết Ngài đến bắt Ngài. Nỗi buồn phủ lút Ngài khi tư tưởng đến các môn đồ sẽ ruồng bỏ Ngài và chối không nhận Ngài. Còn tệ hại nhiều hơn thế nữa, buồn bực trải qua Ngài khi Ngài bị xem là thích ứng với tội lỗi mà Ngài sẽ mang lấy và “cái chén” thạnh nộ của Đức Chúa Trời mà Ngài buộc phải uống. Hơn cả mọi sự ấy nữa, là đau buồn về phần xác không thể nghĩ được mà chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ đối diện với.
Không những Chúa Jêsus đã "buồn bực" mà Ngài còn "sầu não" nữa. Các môn đồ chưa hề thấy Ngài ở trong tình trạng như thế bao giờ. "Sầu não" có nghĩa là "rất nặng nề". Gánh nặng mọi tội lỗi của thế gian đã chất trên hai vai của Ngài. Quí vị có từng thấy ai đó đương lọt vào nỗi kinh hãi cực độ chưa? Họ khó có thể ăn ở và điều khiển các cơ bắp của họ. Tôi không nghĩ chúng ta đang kéo căng phân đoạn để nói rằng có lẽ Chúa Jêsus đã khóc nức nở và những giọt lệ đang chảy dài trên hai gò má của Ngài. Có lẽ chúng đã trợ giúp Ngài khi Ngài trên đường tiến sâu vào trong vườn.
Trên đường về lại quê hương, mục tiêu nỗi buồn ghê gớm của Ngài có thể nhận thấy được, chúng ta xem Chúa Jêsus phán với họ: "Linh hồn ta buồn bực cho đến chết". "Buồn bực" ra từ chữ perilupos có nghĩa là: "xung quanh đều đáng buồn". Từ chữ nầy chúng ta mới có từ ngữ "periphery" (chu vi). Chúa Jêsus bị sự buồn bực vây chung quanh. Ngài đang ngã lòng trong sự buồn bực đó. Ngài bị phủ lút với mọi điều sắp sửa xảy ra đến nỗi Ngài như sắp "chết" vậy.
Con người ta có thể ngã chết từ những cảm xúc mạnh. Họ có thể bị sợ hãi hay giận dữ thắng hơn đến nỗi thân thể họ phải tiều tụy. Chúa Jêsus biết rõ trong sự buồn bực, Ngài đã đạt tới giới hạn của thân thể và gần "chết". Khi ấy Ngài sẽ ngã chết và nếu Đức Chúa Trời không giữ gìn Ngài, để Ngài chịu lấy cái chết có tính cách hy sinh trên thập tự giá.
Luca 22:44 mô tả bối cảnh ấy như sau: "Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng thiết, mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất". Tình trạng nầy được biết là hermatidrosis, trong đó dưới sức căng nặng nề của cảm xúc, các mao mạch dưới da vỡ tung dưới lực căng và máu sẽ thoát ra qua các tuyến mồ hôi.
Chúng ta không thể hiểu được những chiều sâu vô hạn nỗi buồn của Chúa Jêsus trong đêm hôm ấy. Hêbơrơ 5:7 nói về Ngài: "khi còn trong xác thịt, thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng nhân đức Ngài, nên được nhậm lời".
Tôi thích lời lẽ của bài thánh ca xưa My Saviors Love (Tình yêu Cứu Chúa tôi). Một trong những lời bài hát ấy ghi như sau: "Ngài đã cầu thay cho tôi ở trong vườn, ‘không theo ý tôi, mà theo ý Cha’. Ngài không có một giọt lệ nào cho nỗi buồn riêng của Ngài, mà giọt mồ hôi như giọt huyết đã nhỏ xuống vì tôi. Lạ lùng thay, kỳ diệu thay! Và đấy là bài ca của tôi. Lạ lùng thay, kỳ diệu thay là tình yêu của Cứu Chúa dành cho tôi".
II. Lời cầu thay thống khổ của Chúa Jêsus (các câu 39-44).
Sau khi bảo Phierơ, Giacơ và Giăng: "Hãy ở đây và tỉnh thức với ta", Chúa Jêsus "bước tới một ít" vào nơi vắng vẻ trong vườn và "sấp mặt xuống đất" mà cầu nguyện và cầu thay với Đức Chúa Cha.
Chúa Jêsus cầu nguyện: "Cha ơi! nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi Con!" Trong mọi lời cầu nguyện của Chúa Jêsus trừ ra tiếng kêu của Ngài trên thập tự giá đều ở trong sự ứng nghiệm Thi thiên 22, Chúa Jêsus đã gọi Đức Chúa Trời là “Cha” của Ngài. Ngài không giống như người Do thái trong thời của Ngài. Mác 14:36, nhắc tới chính bối cảnh này, ông ghi lại rằng Ngài phán: "A-ba lạy Cha, mọi việc Cha làm được cả; xin Cha cất chén nầy khỏi con; nhưng không theo điều con muốn…". "A-ba" là chữ Aram tương đương với chữ "Cha" của chúng ta.
Chúa Jêsus cố ý yêu cầu “Cha” của mình nếu “có thể được”xin Ngài "cất chén nầy khỏi con". Muốn có được bất kỳ một sự hiểu biết nào về mọi điều sẽ xảy ra cho Chúa Jêsus trong đêm đó, chúng ta phải nắm bắt cho kỳ được ý nghĩa của chữ "chén" nầy!
"Chén" không những là cách nói bóng gió tới sự chết. Chén ấy không những nói tới nỗi đớn đau, dằn vặt phần xác thể trên thập tự giá. Đây không phải là sự biết trước những mũi đinh đóng xuyên qua thân thể Ngài, cơn khát kinh khủng, sự chộp bắt phần hơi thở mà Ngài e sợ nhất. Chén không phải là trận đòn vọt, các lần xét xử chế giễu, nhạo báng, sự đối đãi phạm thượng mà Ngài sẽ nhận lãnh hoặc toàn bộ mọi sự nầy. Cái "chén" là một thứ còn nhiều tệ hại hơn. Thực vậy, Chúa Jêsus đã nói trong Luca 12:4-5: "…Đừng sợ kẻ giết xác rồi sau không làm gì được nữa. Song ta chỉ cho các ngươi biết phải sợ ai: phải sợ Đấng khi đã giết rồi, có quyền bỏ xuống địa ngục; phải ta nói cùng các ngươi, ấy là Đấng các ngươi phải sợ!"
Cái "chén" mà Chúa Jêsus sợ phải uống là sự đổ ra cơn thạnh nộ thánh của Đức Chúa Trời trên tội lỗi. Trong Cựu Ước, cái "chén" là biểu tượng cho cơn thạnh nộ. Êsai 51:17 chép: "Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy thức dậy, thức dậy, và đứng lên! Ngươi đã uống chén thạnh nộ từ tay Đức Giê-hô-va; đã uống cạn chén xoàng-ba, uống cho tới cặn". Giêrêmi 25:15-16 chép: "Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán cùng tôi như vầy: Hãy lấy chén rượu của sự giận khỏi tay ta, khá cho các dân mà ta sai ngươi đến đều uống lấy. Chúng nó sẽ uống, sẽ đi xiêu tó, và điên cuồng, vì cớ gươm dao mà ta sẽ sai đến giữa chúng nó".
Không, ấy chẳng phải sự hành hình về phần xác trên thập tự giá khiến cho Chúa Jêsus phải có nỗi buồn đau đến chết như thế đâu, mà ý nghĩa cho thấy rằng trong mấy giờ đồng hồ nữa Ngài sẽ "cất tội lỗi của nhiều người" (Hêbơrơ 9:28). Ngài là Đấng "vốn chẳng biết tội lỗi" sẽ "trở nên tội lỗi vì chúng ta" (II Côrinhtô 5:21). Ngài sẽ gánh lấy "tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ" (I Phierơ 2:24). Ngài sẽ trở nên "của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Giăng 2:2).
Chúa Jêsus vốn biết rõ mọi sự bẩn thỉu gian ác của từng con cái thuộc dòng giống hư hoại của Ađam sẽ bị đặt trên chính linh hồn vô tội của Ngài. Tấm lòng không vít của Ngài sẽ bị nạo vét cho hết sự nhớp nhúa của tội lỗi tối tăm, sâu kín nhất trong tấm lòng con người. Êsai 53:6 chép: "Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người".
Không những tình trạng vô tội của Ngài sẽ bị ô nhiễm với tình trạng tội lỗi của chúng ta, không những thần tính của Ngài bị chìm sâu trong sự đồi bại của chúng ta, Ngài sẽ gánh chịu trọn cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vì ích cho chúng ta. Đức Chúa Cha sẽ gán từng tội lỗi một của chúng ta trên chính mình Ngài rồi để cho Ngài phải gánh chịu cơn thạnh nộ đáng lẽ chúng ta phải gánh chịu.
Đây là những gì Êsai 53:10 có ý nói khi câu nầy chép: "Đức Giê-hô-va lấy làm vừa ý mà làm tổn thương người, và khiến gặp sự đau ốm. Sau khi đã dâng mạng sống người làm tế chuộc tội….".
Thập tự giá còn đau khổ nhiều, nhiều hơn nỗi đau thể xác mà mắt thường trông thấy được. Trỗi hơn sự khủng khiếp ấy, Chúa Jêsus đã gánh chịu nỗi xấu hổ vì tội lỗi chúng ta cùng sự kinh khủng không dò được của cơn phán xét mà Đức Chúa Trời giáng trên tội lỗi của chúng ta. Cho nên chẳng có gì phải ngạc nhiên khi Ngài kêu la bằng lời lẽ của Thi thiên 22:1: "Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?" (Mathiơ 27:46).
Sau khi hiểu biết mọi sự nầy, sau khi cảm nhận đủ các tác dụng của cảm xúc và của thể xác, Chúa Jêsus đã cầu nguyện: "Nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi con". Chúa Jêsus vốn biết rõ cái chén ấy chẳng lìa khỏi Ngài theo bất kỳ một phương thức nào hết. Ngài biết rõ Ngài đã giáng trần là để tỏ ra mục đích làm ráo cáu cặn cay đắng của nó. Tuy nhiên, lời cầu nguyện nầy là sự tỏ ra thành thực nhất về nỗi sợ hãi mà Ngài cảm thấy trong giây phút đó. Mặc dù Ngài không hề nhượng bộ mà phạm tội, Ngài cảm thấy mọi tác dụng đầy trọn của sự thử thách của tội lỗi.
Kỳ diệu thay là ân điển của Chúa Jêsus, Ngài thường cầu nguyện trong ân điển ấy: "Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha". Ngài đã đến đặng làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha. Ngài phán trong Giăng 4:34: "Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài".
Khi ấy Chúa Jêsus mới trở lại với ba môn đồ và "thấy họ đang ngủ". Không nghi ngờ chi nữa họ rất mỏi mệt do kế hoạch quá bận rộn của họ. Trời đã tối lắm rồi. Có bao nhiêu người trong chúng ta sẽ ngủ gà ngủ gật trong khi chúng ta ra sức cầu nguyện, nghiên cứu Kinh Thánh hay lắng nghe sự dạy của Kinh Thánh?
Ngài đã hỏi han trong nỗi thất vọng riêng: "Thế thì các ngươi không tỉnh thức với ta trong một giờ được!" Ngài vốn biết họ rất mỏi mệt, song sự biết ấy không cất đi nỗi đau việc nhìn biết họ đang chợp mắt một chút trong khi Ngài chỉ đứng cách đó không bao xa qua sự buồn bực một mình. Luca 22:45 chép: họ "đương ngủ mê vì buồn rầu". Có lẽ đúng như thế, sự ngã lòng đã được thêm vào tình trạng ngủ gà ngủ gật của họ nữa.
Họ đã bắt đầu lìa bỏ Ngài rồi. Trong khi Ngài còn mãi mê cầu nguyện, Ngài dọn mình để chuốc lấy tội lỗi vì ích cho họ, họ đã nằm ngủ cách đó chẳng bao xa. Ngài bảo họ: "Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ". Đúng ra, họ cần phải "tỉnh thức và cứ cầu nguyện" luôn vì giờ thử thách của họ đã gần rồi. Chúa Jêsus vốn hiểu rõ sự họ phấn đấu trong chỗ: "tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối".
Chúa Jêsus quay trở lại "lần thứ hai" để cầu nguyện, Ngài nói: "Cha ơi! nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống thì xin ý Cha được nên". Ngài vốn biết Ngài không thể cho qua cái chén khủng khiếp nầy. Ngài biết rõ cách duy nhứt chúng ta được cứu là nhờ vào sinh tế của Ngài.
Đây là lý do tại sao không một ai được cứu theo bất kỳ một phương thức nào khác hơn sự chết có tính cách hy sinh của Chúa Jêsus. Nếu ai đó có thể, bởi cách tỏ ra sự sáng tạo do làm theo các việc lành, mọi sự nầy sẽ không còn cần thiết nữa.
Câu 43 chép Ngài "thấy môn đồ còn ngủ" và thêm rằng "mắt họ đã đừ quá rồi" cho thấy rằng đây là một giấc ngủ sâu hơn trước nhiều. Vì họ không thể "tỉnh thức và cầu nguyện", tìm kiếm sự cứu giúp của Đức Chúa Cha vì mọi điều còn phía trước, họ sẽ sa vào giấc ngủ sâu.
Khi ấy, Chúa Jêsus "đã bỏ họ" rồi trở lui cầu nguyện "lần thứ ba". Hãy đặc biệt chú ý trong câu 44, ở đây cho rằng Ngài đã: "lặp xin như lời trước". Ngài đã lặp đi lặp lại chính sự việc ấy nhiều lần lắm rồi. Điều nầy dạy cho chúng ta biết rằng mục đích của sự cầu nguyện không phải là làm thay đổi ý chỉ của Đức Chúa Trời, mà là làm thay đổi ý chí của chúng ta. Chúng ta có thể nài xin sự can thiệp của Đức Chúa Trời, nhưng đến cuối cùng sự cầu nguyện giúp chúng ta biết tiếp nhận cách trung tín ý chỉ của Đức Chúa Trời trong đời sống của chúng ta.
III. Sự đầu phục vô điều kiện của Chúa Jêsus (các câu 45-46).
Sau thời gian cầu nguyện lần thứ ba nầy, Chúa Jêsus đã trở lại với các môn đồ. Tôi nghĩ Ngài đã có cái nhìn khác vào thời điểm nầy. Ngài đã nhọc nhằn trong sự cầu nguyện và tự mình đầu phục trọn vẹn đối với Đức Chúa Cha. Mặc dù chương trình của Đức Chúa Trời không thay đổi, sự buồn bực và sầu não gần như muốn giết Ngài đã trôi qua. Giờ đây, sau khi cầu nguyện xong, Ngài đã sửa soạn đủ để uống cái "chén" sẽ được trao cho Ngài. Thái độ đầu phục của Ngài đã đem lại cho Ngài sức lực và lòng tin cậy. Thái độ ấy đã được thể hiện ra.
Ngài đánh thức các môn đồ, quở họ mà rằng: "Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư?" Tiếp đến Ngài công bố: "Nầy, giờ đã gần tới". Thì giờ của Ngài đã đến và Ngài vốn biết rõ sự ấy. Ngài phán: "Con người sẽ bị nộp [thì hiện tại] trong tay kẻ có tội". Câu 47 nói đám đông đã ùa đến để bắt Ngài: "khi Ngài còn đương phán".
Có lẽ trong khi Chúa Jêsus còn đương phán ra những lời nói sau cùng nầy, Ngài đã nghe thấy nhiều giọng nói và nhìn thấy các ánh đuốc của Giu-đa, các cấp lãnh đạo tôn giáo và lính canh đền thờ khi họ dến tại nơi cổng vườn. Chúa Jêsus phán: "Hãy chờ dậy, đi hè, kìa kẻ phản ta đến kia".
Trong phần kết luận, hãy xem xét phần ứng dụng nầy. Từ tấm gương của môn đồ, tự tín không dẫn tới sự cầu nguyện và nương cậy, mà chỉ khiến cho người ta phải buồn ngủ mà thôi. Nằm ngủ trong sự đối diện với kẻ thù chỉ đem lại sự cám dỗ, kế đó là tội lỗi và tai vạ một cách hoàn toàn. Tấm gương của Chúa Jêsus, ấy là khi bị cám dỗ, hãy cầu nguyện, cầu nguyện và cầu nguyện. Hãy đem ý chí mình mà đầu phục ý chỉ của Đức Chúa Cha. Sau khi đầu phục rồi, sức lực thuộc linh sẽ đến, nó giúp cho chúng ta đủ sức để thắng hơn sự cám dỗ.

***